- Lý luận - Phê bình
- Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.

Nhà thơ Bình Nguyên
Cũng trên một cơ cấu mẹ - con – mây trắng nhưng tác giả bằng cảm xúc tươi tắn của mình đã đi tới những ý tưởng khá phong phú trong toàn bài, khiến người đọc bị cuốn theo một cách hào hứng.” – (Bế Kiến Quốc – Một Chặng Đường Thơ Trẻ - Văn Nghệ Trẻ số 34, ngày 1/11/1998 ).
Cứ tưởng lại chiếc kính cận trễ xuống trên khuôn mặt tươi ấm ngày ấy ngấm khói thuốc lá bay của anh Quốc cùng họa sĩ Thành Chương, nhà văn Bảo Ninh, thêm sự góp mặt thường xuyên của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, đôi khi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từ Huế ra, biểu dương thơ trẻ, mới thấy Bình Nguyên hạnh phúc biết chừng nào.
Tôi viết dòng trên rõ là sau anh Quốc những 15 năm, nhưng vì lại đọc đoạn dẫn trên sau khi dòng nhận xét của mình được viết ra, nên thấy thêm một động viên cho mình say thơ bạn. Tình của Bình Nguyên là tình của người được chôn nhau cắt rốn nơi Đồng Cát – Sông Đáy. Lý của Bình Nguyên là lý của một cách nhìn người chốn Kinh đô xưa. Chỗ mà đất và biển, núi và sông gặp nhau mở mà không hở, kín mà không đóng ấy đã đưa đến cho chúng ta một phông lớn những bức ảnh thơ sâu xa xác tín lại mênh mang thân phận tình quê kiểng người thị thành. Có lẽ sau Tượng đài lục bát Nguyễn Bính, ta đã gặp Nguyễn Duy, rồi Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ để bây giờ chụm lại ở Bình Nguyên.
(Nhân đây cũng phải nói là các bài lục bát Xóm Thậm Thình của Nguyễn Bùi Vợi, Mẹ ra Hà Nội của Lê Đình Cánh, Chia của Nguyễn Trọng Tạo, Thuyền Trương Chi đang trôi của Vũ Quần Phương, Bên Mộ Cụ Nguyễn Du của Vương Trọng, Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy, Lục bát cầu may của Bằng Việt, Cát đợi của Nguyễn Việt Chiến,… đều hay và nổi tiếng cả. Nhưng trong thơ các anh, lục bát không phải là dòng mạnh chính).
Cái thể lục bát truyền thống đã tốn nhiều giấy mực của cả người sáng tác lẫn người phê bình, của nhà thơ với người yêu thơ, của người dân nước Việt. Khó và dễ với người cầm bút và người thưởng thức là những gì của riêng mình, mới và dâng hiến cho cuộc sống, cho thi ca. Đọc những câu trong tập Trăng Đợi (xin phép không tán tụng): “Nhặt lên từng tuổi qua ngày/ Mà rưng rưng nỗi vơi đầy thế gian - (Tự Khúc, tr.5 – tập Trăng Đợi); Lệ còn trong mắt hay khô/ Thôi đừng sóng nữa mà xô ngã mình - (Một Đêm Với Hữu, tr.13) ; Đi buồn gọi những không tên/ Gió đồng chiêm thổi bạc lên tóc người/…/ Nước nguồn giọt giọt tìm nhau/ Đồng chiêm giọt giọt ở sau tiếng cười - (Đồng Cát, tr.17); Thức thi cùng với ngọn đèn/ Đêm đêm bóng chị, bóng thuyền lao xao - (Người Làng Chài Học Chữ, tr.20 ); Ngửa bàn tay úp bàn tay/ Cha ngồi cuối nắng nắng đầy phía con - (Khúc Ru Con, tr.22); Chợ còn khối cái lẳng lơ/ Người ta kín lắm nên thừa em ra - (Mầu Ơi,tr.40); Ô hay cái vận cái thời/ Ô hay cái áo đổi đời cái thân - (Em Tôi, tr.60 ); Đục trong con nước đôi đường/ Tôi làm sao biết đời thường khuất nhau -(Vu Vơ Lục Bát, tr.62); Vẫn bàn tay mẹ dịu dàng/ À ơi này cái trăng vàng ngủ ngon/…/ Bàn tay mẹ thức một đời/ À ơi này cái mặt trời bé con/…/ Bàn tay mang phép nhiệm màu/ Chắt chiu tự những dãi dầu đấy thôi - (À Ơi Tay Mẹ, tr.67 ); Khổ thân con mắt dao cau/ Trăm năm có hẹn gì đâu mà chờ/…/ Gió mưa bạc một kiếp người/ Chị như đá dựng bên trời khói sương - (Chị, tr.70); Mái đầu che nửa vuông khăn/ Người quê dấu cái nhọc nhằn những đâu/ Một vui cũng sẻ chia nhau/ Nghìn buồn gói lại nén sâu vào lòng - (Với Người Quê, tr.72); Giọt đời tí tách chong đèn/ Bao tàn trăng lẻ tiếng chim gọi mùa - (Lại Một Mùa Đi, tr.76);… ”. Bài Về Dại:”Ai mà đong được bao nhiêu đèo bòng/…/ Ra giêng trắng ngổn ngang lòng hoa cau/ Lòng mình chả biết mà thau/ Còn giăng tơ nhện còn đau lòng tằm”…
Nhà thơ Bình Nguyên đắm say văn chương thiết tha cuộc sống. Với một
sự trăn trở tự vấn tự kết, anh muốn bộc trực cõi lòng những điều cần được
minh giải. Anh chọn thể thơ lục bát truyền thống. Bình Nguyên muốn chứng
tỏ thơ hay là đủ. Và đây là hai bài thơ làm được điều ấy.
Bài Dấu Chân là lục bát triết lý. Bài Phận Cha là lục bát tâm trạng. Cả hai
bài đều thuộc dòng trữ tình tự sự, đều chịu ảnh hưởng của mỹ cảm truyền
thống lấy Chân – Thiện làm đầu. Mỗi bài hay một cách. Dấu Chân dừng ở
từng ý, hai câu đối nhau (mở và đóng); Phận Cha một ý nhiều sự, mỗi sự bồi
bổ cho chủ ý, liền mạch. Bài trước đẹp ở lí lẽ, bài sau đẹp ở ý tứ. Cú pháp
bài trên là so sánh minh chứng, bài dưới là ẩn ý hàm nghĩa. “Dấu chân bám
đất…- Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy”- xin “Đài gương soi đến dấu bèo cho
chăng?”- dấu bèo – Nguyễn Du – đến dấu chân – trần – bám đất – “dấu giầy
từng bước in rêu rành rành” – là thơ tình hay thơ thân phận? (Dấu Chân). Là
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn/…/Đốt lò hương ấy so tơ phím này/…/Hễ
hiu hiu gió thì hay chị về”- Kiều – từ Phận ra Đời – từ Đời ra Đức – từ Đức
đến Nhân (nhân văn, nhân đạo, nhân tính, nhân nghĩa,…) (Phận Cha).
DẤU CHÂN
Ngã vào đất lại bám trời
Dấu chân bám đất một đời đấy em
Ngã vào ngày lại bám đêm
Ngã vào đêm lại bước thêm đến ngày
Bao nhiêu sắc nhọn đời này
Bấy nhiêu những vết chai dầy đi qua
Ngã vào bão gió trong ta
Bước lên những gập ghềnh xa lại còn
Ngã vào núi bám chon von
Ngã vào khuyết để biết tròn mai sau
Dấu chân không ở trên đầu
Mà xanh nguyên thủy như mầu cỏ xưa
Ngã vào nắng lại bám mưa
Dẫu nghìn mưa nắng đâu chừa dấu chân
Thế gian bước lại cho gần
Trăm năm những dấu chân trần bên nhau
Còn bao nhiêu dấu chân đâu
Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy…
Khác với Dấu Chân Qua Trảng Cỏ của nhà thơ Thanh Thảo ở “trảng cỏ
voi” cái để lại là những dấu chân lớp lớp những người đi chiến đấu có những
câu thật cảm động “Những người sốt rét đang cơn/ Dấu chân bấm xuống
đường trơn có nhòe” (có một câu chuyện vui vào năm 1998 tôi được ngồi
cùng anh Thanh Thảo, anh Nguyễn Thụy Kha, anh Nguyễn trọng Tạo, Anh
Nguyễn Khắc Thạch,…tôi thắc mắc tại sao lại “đường trơn cỏ nhòe”, anh
Kha và anh Thảo bảo đấy là có bản in sai, “có nhòe” mới đúng, thằng em
mày tinh đấy. Tôi giữ mãi lời khen ấy).
Trở lại với Bình Nguyên, vào bài là ngã. Thế bây giờ chênh vênh rồi,
không tự tin như trước nữa. Biện giải là em: “Ngã vào đất lại bám trời/ Dấu
chân bám đất một đời đấy em”, câu thơ ngông – Tam Tài bám nhau, sâu xa
lắm – không phải chị ngã em nâng mà Thiên – Địa – Nhân đấy nhé! Trần
trụi và hy vọng – cũng là mong “Thế gian bước lại cho gần/ Trăm năm
những dấu chân trần bên nhau”. Nhưng thực tế lại không như vậy: “Còn bao
nhiêu dấu chân đâu/ Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy…”. Thơ thì đến đây
đắng đót, người thì đến đây phân vân, cái “dấu giầy” kia là tình hay là…?
PHẬN CHA
Cớ gì chẳng dám nhận nhau
Nỗi gì mà đợi kiếp sau tỏ bày
Ngày cha về với gió mây
Thắp lên cỏ nén hương gầy thế thôi
Nợ con không trả được rồi
Cha mang thương nhớ lở bồi đi xa
Con là giọt máu của cha
Mà sao mang họ người ta thế này…
Muối còn mặn, gừng còn cay
Đời còn nước mắt, trắng tay là thường
Người ta ấm khói thơm hương
Cha xin lạnh một nấm sương ngoài đồng
Rồi con vun những gieo trồng
Đi qua từng chuyện tự lòng cha rơi
Rồi cha về đất, về trời
Không gỡ nổi cái rối bời đâu con
Chỉ mong ở phía vuông tròn
Mỗi năm một nén hương còn nhớ cha.
Mở đầu là trực diện: “Cớ gì chẳng dám nhận nhau/ Nỗi gì mà đợi kiếp
sau tỏ bày”. Rồi xa xót giả định về với gió mây, về đất xa trời – điều ấy cũng
chỉ mai kia thôi – “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài
chửa xong” – “Con là giọt máu của cha/ Mà sao mang họ người ta thế này/
Muối còn mặn, gừng còn cay/ Đời còn nước mắt, trắng tay là thường”. Nói
ra được ẩn ức đời mình chỉ với “giọt máu” của mình mà không dám nhận vì
nhiều lẽ mới thấy cái “nước mắt đàn ông” (thơ Hồ Sưởng) chảy ngược vào
trong càng đau thêm nỗi rối bời tâm trí. Bảo là không dũng cảm đoạn tuyệt
cũng không phải – cái thế thời nó đâu có đơn giản. Kiếp người nhỏ nhoi –
duyên phận mong manh – “Chỉ mong ở phía vuông tròn/ Mỗi năm một nén
hương còn nhớ cha” – “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ phải dò cho đến
ngọn nguồn lạch sông” – Kiều, nhưng vuông tròn nào? – đau đớn thay phận
làm trai! Vì đâu nên nỗi? mỗi năm…
Thơ lục bát thì như thế. Nhưng ở thể khác, như thơ tự do chẳng hạn, Bình Nguyên vẫn có cách viết riêng về thân phận con người, như ở bài Những Con Đường Và Những Dấu Chân:
Hỏi dấu chân về những con đường
Lại hỏi con đường về những dấu chân.
Dấu chân nào còn như mắt thức
Dấu chân nào bụi phủ không dấu vết
Dấu chân nào đóng dấu xuống thời gian…?
Ta đồng cảm với sự chân thật của: “Nhớ bóng mẹ gầy mặt nước cũng nhăn nheo” – (Khi Xa Mẹ, tr.30 – nt), hay chia sẻ: “Những cô đơn sinh ra nụ hoa hồng” – (Trò Chuyện Với Mùa Đông, tr.45 - nt) hoặc buồn đến tận: “Tìm về đáy cốc lang thang” – (Cho Sa, tr.49 - nt). Viết về người cha thân yêu, nhưng Bình Nguyên muốn khái quát hơn ở hình ảnh người lính hôm nào:“Bàn tay chắn đạn chắn bom/ Mà sương gió vẫn lọt qua những ngón tay cày cuốc” – (Cha, tr.58 - nt); Không những thế còn ở người lính khác: “Ngày ở lính anh đi trên mây/ Mây ở đỉnh trời mây dưới vực/ Giờ ở cánh đồng anh đi trên sương/ Sương trên luống cày sương mái tóc” – (Người Lính Về Lại Làng Bồ, tr.41 – tập Hoa Thảo Mộc).
Trong bài Gửi Nguyễn Bính: Cái hồn của bài thơ giống như bài Với Người Quê. Còn làng thì người ta còn đọc thơ ông. Nhưng nếu giả dụ như với tốc độ đô thị hóa quá nhanh và quá nhiều mà không có quy hoạch thì lúc ấy sẽ ra sao nhỉ? (đều ở tập Trăng Đợi).
Ở tập Hoa Thảo Mộc: “Biết em có mùa không gặt/ Có mùa đem về nếp nhăn/ Em có hay ta hóa gió/ Đêm đêm gió lọt kẽ mành” – (Tiếng Vọng, tr.5). Còn có sự tỉnh táo và cảm thông nào hơn: “Nín đi biển đã mặn rồi/ Mưa bao nhiêu trận khóc cười đã mưa/ Quá yêu mà lụy chữ ngờ/ À ơi tiếng vỗ bên bờ ánh trăng…”(Này Ru, tr.10). Những suy nghĩ bao giờ cũng rõ ràng: “Sao ta không đau đớn cái thời bước chân lên cỏ/ Không nhận ra nơi tận cùng gió rời rợi lên hương/ Sao ta không áp tai xuống đất/ Để được nghe mạch nguồn dưới mỗi bước chân…” – (Hoa Thảo Mộc, tr.16)
Tôi xin dẫn hết bài Mây Trắng Bay (mà đoạn đầu nhà thơ Bế Kiến Quốc đã dẫn):
“Con sinh ra mây trắng đã bay rồi
Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ
Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng
Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Mẹ ơi, mây trắng mang tình yêu của nước
Những mẻ lưới kéo trên cánh đồng kia không còn bỏng rát chân chim
Những nan sóng sàng trên mặt sông không dềnh lên đất cát
Chẳng dại gì con xáo trộn lên đâu
Một ngày kia tóc con thành mây trắng
Con sẽ chảy về nguồn như mẹ
Để mây trắng bay lên như bay thủa ban đầu”
Ở tập Đi Về Nơi Không Chữ có bài Người Đi…: “Người đi tôi ướt trăm năm/…/ Người đi tôi dễ đắm đò…” nếu nối với “Ngỡ bầu bạn của ta đông/ Tan sương mới thấy trống không con đường” – (Lãng Đãng Thơ, tr.5) ta thấy thời nào thì chuyện làm người và sống đúng nghĩa người là không đơn giản. Tuy nhiên còn một nhận thức khác của nghĩa sống trên đời: “Có nghĩa là suốt đời phải chảy/ Tan trong biển nào ai còn thấy/ Sông Đáy bay lên sông Đáy về nguồn”… “Từng giọt chảy tận bùn mà lặng tiếng/ Sông Đáy xé mình để thành đồng áng/ Thành đồng áng rồi không thấy nữa sông đâu” – (Chảy Cùng Sông Đáy, tr.7), dù vẫn biết rằng: “Đau buồn những ước trôi đi hết/ Mà nước trong đời có chảy đâu” – (Đêm Gặp Bạn, tr.9). Lắm lúc muốn như tan chảy thành thật mà không thể được: “Này xin rót nốt đời vào chén/ Cạn nào cho bốc cháy nhau đi/ Tràn đêm rượu đế cười không thật/ Giã biệt ôm nhau khóc làm gì” – (nt)
Bình Nguyên có cách nói cô đọng mà hình ảnh về Phật, về đời, về chùa, về kinh kệ, về chuông, về hoa, mà phải là hoa sen cổ điển và huyền thoại: “Tôi theo kinh kệ nghe chuông chín/ Lòng nở bừng sen một đóa đầy” – (Chùa Cổ, tr.15. Đặc biệt bài Cha Ơi: “Đêm đêm cha dán bóng vào khoảng lặng/…/ Đêm đêm cha ngồi khát/…/ Cha đã vịn vào ngọn đèn dầu/ Vịn vào lung lay cái bóng/ Đi đến bước cuối cùng nỗi khát/ Mà những tưởng có gì đâu to tát/ Mái rạ phía ngoại nằm chưa kín gió/ Đêm ba mươi mẹ còn lún xuống đồng/ Nội cả đời không được đắp chăn bông/ Rồi một ngày/Cha nằm xuống nỗi khát vùi ngửa mặt/ Cha ơi/ Những nỗi khát của cha/ Cầm lên mà nước mắt…”
Tôi còn muốn trích trong tập này nhiều câu ở các bài: Chợ Cát; Đi Về Nơi Không Chữ; Sợi Tóc; Với Sông; Về Bến Thóc; Tôi Và Em; Nhưng xin được học cùng Bình Nguyên khi đứng trước thánh nhân: “Một tay Ông đặt vào chuôi gươm/ Không phải rút gươm mà che lại phần bàn tay đã nắm/…/ Ai học Ông cách cầm gươm lương thiện/” mà tâm đắc rằng: “Ai đi ra ngoài chữ nghĩa/ Để nâng mình lên cao hơn chữ nghĩa” – (Trước Tượng Đài Trần Hưng Đạo)
Ở tập Lang Thang Trên Giấy: “Bây giờ ta bé con con/ Em lên chút nữa không còn thấy ta” – (Tiễn Em Lên Máy Bay, tr.11) – Thật Nguyễn Bính đến thế là cùng! Ngay cả cái ngày về cũng bao nhiêu là những ưu tư: “Ngày về/ Lá rơi như vỡ ngang im lặng/ Ngày về/ Nước trôi như khóc/…/ Gặp nhau thì vướng/ Gặp rồi lại thương” – (Ngày Về, tr.22). Tôi rất tâm đắc với tính thế sự nhưng âm thầm của: “Chị biết chiếc lá nào không rụng về gốc/ Bụi bặm nào hằn lên mái rêu xưa/ Dấu vết nào chồng lên dấu vết/ ngọn đèn nào đứng sáng trong mưa” – (Lại Nhớ Phố Đêm, tr.24). Tôi vẫn phải so sánh thơ lục bát Bình Nguyên với những người lớp trước: “Đời còn có chốn mai sau/ Ta mà bạc cỏ biết đâu mà về” – (Tản Mạn Về Cỏ). Hai chữ mà, vẫn âm hưởng Nguyễn Bính. Nhưng khi không lệ vào tâm trạng mà đắm vào thân tâm quyện cùng trí hứng của mình thì thơ Bình Nguyên là của Bình Nguyên, cả cảm hứng cả con chữ: “Mở trang này, mở trang này/ Bỗng ta gặp chữ từ ngày chưa ta/ Mở nữa ra, mở nữa ra/ Trang này nước mắt đi qua phận người/…/ Trang này mặt giấy trắng tinh/ Mà sao ta lại giật mình đọc nhau” – Bốn chữ mở, nhưng là của tu từ. Vừng ơi mở ra! Giọng một chút đồng dao ở mở bài nhưng hai câu kết thì ý thật tinh thâm!
Thôi, tôi đã cùng thơ đi một chặng dài, “chưa mỏi, vẫn còn mải miết”. Tạm ngồi trên Cánh Đồng Trăng: “Trên cánh đồng ngậm một màu trăng/ Những ngôi sao trên bầu trời cùng đom đóm thắp lên/ Biết có trăng nhưng tất cả muốn góp mình để làm nên ánh sáng” mà cổ tích, mà bắc cầu, mà mùa hương, mà sân vàng phơi một cánh đồng trăng. Khoan khoái làm sao, khi đó, “Khi áo mũ đã trở về nhà/ Ngọn đèn sáng như không vừa sáng nữa/ Chẳng bắt tay ai/ Nói lỡ câu cũng không còn sợ/…/ Gặp nắng vào mới chợt nhận ra/ Nắng không đến cái nơi còn đóng cửa” – (Một Ngày, tr.33). Nào, mời quý anh chị, ta cùng ngồi mâm tiệc thơ của Bình Nguyên.
Hồ Tây, ngày sơ thu 2012
B.V.K