TIN TỨC

Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-01 02:12:32
mail facebook google pos stwis
394 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.

 

Nhà thơ Bình Nguyên

 

Cũng trên một cơ cấu mẹ - con – mây trắng nhưng tác giả bằng cảm xúc tươi tắn của mình đã đi tới những ý tưởng khá phong phú trong toàn bài, khiến người đọc bị cuốn theo một cách hào hứng.” – (Bế Kiến Quốc – Một Chặng Đường Thơ Trẻ - Văn Nghệ Trẻ số 34, ngày 1/11/1998 ).

Cứ tưởng lại chiếc kính cận trễ xuống trên khuôn mặt tươi ấm ngày ấy ngấm khói thuốc lá bay của anh Quốc cùng họa sĩ Thành Chương, nhà văn Bảo Ninh, thêm sự góp mặt thường xuyên của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, đôi khi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từ Huế ra, biểu dương thơ trẻ, mới thấy Bình Nguyên hạnh phúc biết chừng nào.

Tôi viết dòng trên rõ là sau anh Quốc những 15 năm, nhưng vì lại đọc đoạn dẫn trên sau khi dòng nhận xét của mình được viết ra, nên thấy thêm một động viên cho mình say thơ bạn. Tình của Bình Nguyên là tình của người được chôn nhau cắt rốn nơi Đồng Cát – Sông Đáy. Lý của Bình Nguyên là lý của một cách nhìn người chốn Kinh đô xưa. Chỗ mà đất và biển, núi và sông gặp nhau mở mà không hở, kín mà không đóng ấy đã đưa đến cho chúng ta một phông lớn những bức ảnh thơ sâu xa xác tín lại mênh mang thân phận tình quê kiểng người thị thành. Có lẽ sau Tượng đài lục bát Nguyễn Bính, ta đã gặp Nguyễn Duy, rồi Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ để bây giờ chụm lại ở Bình Nguyên.

(Nhân đây cũng phải nói là các bài lục bát Xóm Thậm Thình của Nguyễn Bùi Vợi, Mẹ ra Hà Nội của Lê Đình Cánh, Chia của Nguyễn Trọng Tạo, Thuyền Trương Chi đang trôi của Vũ Quần Phương, Bên Mộ Cụ Nguyễn Du của Vương Trọng, Nỗi niềm Thị Nở của Quang Huy, Lục bát cầu may của Bằng Việt, Cát đợi của Nguyễn Việt Chiến,… đều hay và nổi tiếng cả. Nhưng trong thơ các anh, lục bát không phải là dòng mạnh chính).

Cái thể lục bát truyền thống đã tốn nhiều giấy mực của cả người sáng tác lẫn người phê bình, của nhà thơ với người yêu thơ, của người dân nước Việt. Khó và dễ với người cầm bút và người thưởng thức là những gì của riêng mình, mới và dâng hiến cho cuộc sống, cho thi ca. Đọc những câu trong tập Trăng Đợi (xin phép không tán tụng): “Nhặt lên từng tuổi qua ngày/ Mà rưng rưng nỗi vơi đầy thế gian - (Tự Khúc, tr.5 – tập Trăng Đợi); Lệ còn trong mắt hay khô/ Thôi đừng sóng nữa mà xô ngã mình - (Một Đêm Với Hữu, tr.13) ; Đi buồn gọi những không tên/ Gió đồng chiêm thổi bạc lên tóc người/…/ Nước nguồn giọt giọt tìm nhau/ Đồng chiêm giọt giọt ở sau tiếng cười - (Đồng Cát, tr.17); Thức thi cùng với ngọn đèn/ Đêm đêm bóng chị, bóng thuyền lao xao - (Người Làng Chài Học Chữ, tr.20 ); Ngửa bàn tay úp bàn tay/ Cha ngồi cuối nắng nắng đầy phía con - (Khúc Ru Con, tr.22); Chợ còn khối cái lẳng lơ/ Người ta kín lắm nên thừa em ra - (Mầu Ơi,tr.40); Ô hay cái vận cái thời/ Ô hay cái áo đổi đời cái thân - (Em Tôi, tr.60 ); Đục trong con nước đôi đường/ Tôi làm sao biết đời thường khuất nhau -(Vu Vơ Lục Bát, tr.62); Vẫn bàn tay mẹ dịu dàng/ À ơi này cái trăng vàng ngủ ngon/…/ Bàn tay mẹ thức một đời/ À ơi này cái mặt trời bé con/…/ Bàn tay mang phép nhiệm màu/ Chắt chiu tự những dãi dầu đấy thôi - (À Ơi Tay Mẹ, tr.67 ); Khổ thân con mắt dao cau/ Trăm năm có hẹn gì đâu mà chờ/…/ Gió mưa bạc một kiếp người/ Chị như đá dựng bên trời khói sương - (Chị, tr.70); Mái đầu che nửa vuông khăn/ Người quê dấu cái nhọc nhằn những đâu/ Một vui cũng sẻ chia nhau/ Nghìn buồn gói lại nén sâu vào lòng - (Với Người Quê, tr.72); Giọt đời tí tách chong đèn/ Bao tàn trăng lẻ tiếng chim gọi mùa - (Lại Một Mùa Đi, tr.76);… ”. Bài Về Dại:”Ai mà đong được bao nhiêu đèo bòng/…/ Ra giêng trắng ngổn ngang lòng hoa cau/ Lòng mình chả biết mà thau/ Còn giăng tơ nhện còn đau lòng tằm”…

Nhà thơ Bình Nguyên đắm say văn chương thiết tha cuộc sống. Với một

sự trăn trở tự vấn tự kết, anh muốn bộc trực cõi lòng những điều cần được

minh giải. Anh chọn thể thơ lục bát truyền thống. Bình Nguyên muốn chứng

tỏ thơ hay là đủ. Và đây là hai bài thơ làm được điều ấy.

Bài Dấu Chân là lục bát triết lý. Bài Phận Cha là lục bát tâm trạng. Cả hai

bài đều thuộc dòng trữ tình tự sự, đều chịu ảnh hưởng của mỹ cảm truyền

thống lấy Chân – Thiện làm đầu. Mỗi bài hay một cách. Dấu Chân dừng ở

từng ý, hai câu đối nhau (mở và đóng); Phận Cha một ý nhiều sự, mỗi sự bồi

bổ cho chủ ý, liền mạch. Bài trước đẹp ở lí lẽ, bài sau đẹp ở ý tứ. Cú pháp

bài trên là so sánh minh chứng, bài dưới là ẩn ý hàm nghĩa. “Dấu chân bám

đất…- Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy”- xin “Đài gương soi đến dấu bèo cho

chăng?”- dấu bèo – Nguyễn Du – đến dấu chân – trần – bám đất – “dấu giầy

từng bước in rêu rành rành” – là thơ tình hay thơ thân phận? (Dấu Chân). Là

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn/…/Đốt lò hương ấy so tơ phím này/…/Hễ

hiu hiu gió thì hay chị về”- Kiều – từ Phận ra Đời – từ Đời ra Đức – từ Đức

đến Nhân (nhân văn, nhân đạo, nhân tính, nhân nghĩa,…) (Phận Cha).

DẤU CHÂN

Ngã vào đất lại bám trời

Dấu chân bám đất một đời đấy em

Ngã vào ngày lại bám đêm

Ngã vào đêm lại bước thêm đến ngày

Bao nhiêu sắc nhọn đời này

Bấy nhiêu những vết chai dầy đi qua

Ngã vào bão gió trong ta

Bước lên những gập ghềnh xa lại còn

Ngã vào núi bám chon von

Ngã vào khuyết để biết tròn mai sau

Dấu chân không ở trên đầu

Mà xanh nguyên thủy như mầu cỏ xưa

Ngã vào nắng lại bám mưa

Dẫu nghìn mưa nắng đâu chừa dấu chân

Thế gian bước lại cho gần

Trăm năm những dấu chân trần bên nhau

Còn bao nhiêu dấu chân đâu

Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy…

Khác với Dấu Chân Qua Trảng Cỏ của nhà thơ Thanh Thảo ở “trảng cỏ

voi” cái để lại là những dấu chân lớp lớp những người đi chiến đấu có những

câu thật cảm động “Những người sốt rét đang cơn/ Dấu chân bấm xuống

đường trơn có nhòe” (có một câu chuyện vui vào năm 1998 tôi được ngồi

cùng anh Thanh Thảo, anh Nguyễn Thụy Kha, anh Nguyễn trọng Tạo, Anh

Nguyễn Khắc Thạch,…tôi thắc mắc tại sao lại “đường trơn cỏ nhòe”, anh

Kha và anh Thảo bảo đấy là có bản in sai, “có nhòe” mới đúng, thằng em

mày tinh đấy. Tôi giữ mãi lời khen ấy).

Trở lại với Bình Nguyên, vào bài là ngã. Thế bây giờ chênh vênh rồi,

không tự tin như trước nữa. Biện giải là em: “Ngã vào đất lại bám trời/ Dấu

chân bám đất một đời đấy em”, câu thơ ngông – Tam Tài bám nhau, sâu xa

lắm – không phải chị ngã em nâng mà Thiên – Địa – Nhân đấy nhé! Trần

trụi và hy vọng – cũng là mong “Thế gian bước lại cho gần/ Trăm năm

những dấu chân trần bên nhau”. Nhưng thực tế lại không như vậy: “Còn bao

nhiêu dấu chân đâu/ Để ta đi hỏi đằng sau dấu giầy…”. Thơ thì đến đây

đắng đót, người thì đến đây phân vân, cái “dấu giầy” kia là tình hay là…?

PHẬN CHA

Cớ gì chẳng dám nhận nhau

Nỗi gì mà đợi kiếp sau tỏ bày

Ngày cha về với gió mây

Thắp lên cỏ nén hương gầy thế thôi

Nợ con không trả được rồi

Cha mang thương nhớ lở bồi đi xa

Con là giọt máu của cha

Mà sao mang họ người ta thế này…

Muối còn mặn, gừng còn cay

Đời còn nước mắt, trắng tay là thường

Người ta ấm khói thơm hương

Cha xin lạnh một nấm sương ngoài đồng

Rồi con vun những gieo trồng

Đi qua từng chuyện tự lòng cha rơi

Rồi cha về đất, về trời

Không gỡ nổi cái rối bời đâu con

Chỉ mong ở phía vuông tròn

Mỗi năm một nén hương còn nhớ cha.

Mở đầu là trực diện: “Cớ gì chẳng dám nhận nhau/ Nỗi gì mà đợi kiếp

sau tỏ bày”. Rồi xa xót giả định về với gió mây, về đất xa trời – điều ấy cũng

chỉ mai kia thôi – “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài

chửa xong” – “Con là giọt máu của cha/ Mà sao mang họ người ta thế này/

Muối còn mặn, gừng còn cay/ Đời còn nước mắt, trắng tay là thường”. Nói

ra được ẩn ức đời mình chỉ với “giọt máu” của mình mà không dám nhận vì

nhiều lẽ mới thấy cái “nước mắt đàn ông” (thơ Hồ Sưởng) chảy ngược vào

trong càng đau thêm nỗi rối bời tâm trí. Bảo là không dũng cảm đoạn tuyệt

cũng không phải – cái thế thời nó đâu có đơn giản. Kiếp người nhỏ nhoi –

duyên phận mong manh – “Chỉ mong ở phía vuông tròn/ Mỗi năm một nén

hương còn nhớ cha” – “Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ phải dò cho đến

ngọn nguồn lạch sông” – Kiều, nhưng vuông tròn nào? – đau đớn thay phận

làm trai! Vì đâu nên nỗi? mỗi năm…

 

 

Thơ lục bát thì như thế. Nhưng ở thể khác, như thơ tự do chẳng hạn, Bình Nguyên vẫn có cách viết riêng về thân phận con người, như ở bài Những Con Đường Và Những Dấu Chân:

Hỏi dấu chân về những con đường

Lại hỏi con đường về những dấu chân.

Dấu chân nào còn như mắt thức

Dấu chân nào bụi phủ không dấu vết

Dấu chân nào đóng dấu xuống thời gian…?

Ta đồng cảm với sự chân thật của: “Nhớ bóng mẹ gầy mặt nước cũng nhăn nheo” – (Khi Xa Mẹ, tr.30 – nt), hay chia sẻ: “Những cô đơn sinh ra nụ hoa hồng” – (Trò Chuyện Với Mùa Đông, tr.45 - nt) hoặc buồn đến tận: “Tìm về đáy cốc lang thang” – (Cho Sa, tr.49 - nt). Viết về người cha thân yêu, nhưng Bình Nguyên muốn khái quát hơn ở hình ảnh người lính hôm nào:“Bàn tay chắn đạn chắn bom/ Mà sương gió vẫn lọt qua những ngón tay cày cuốc” – (Cha, tr.58 - nt); Không những thế còn ở người lính khác: “Ngày ở lính anh đi trên mây/ Mây ở đỉnh trời mây dưới vực/ Giờ ở cánh đồng anh đi trên sương/ Sương trên luống cày sương mái tóc” – (Người Lính Về Lại Làng Bồ, tr.41 – tập Hoa Thảo Mộc).

Trong bài Gửi Nguyễn Bính: Cái hồn của bài thơ giống như bài Với Người Quê. Còn làng thì người ta còn đọc thơ ông. Nhưng nếu giả dụ như với tốc độ đô thị hóa quá nhanh và quá nhiều mà không có quy hoạch thì lúc ấy sẽ ra sao nhỉ? (đều ở tập Trăng Đợi).

Ở tập Hoa Thảo Mộc: “Biết em có mùa không gặt/ Có mùa đem về nếp nhăn/ Em có hay ta hóa gió/ Đêm đêm gió lọt kẽ mành” – (Tiếng Vọng, tr.5). Còn có sự tỉnh táo và cảm thông nào hơn: “Nín đi biển đã mặn rồi/ Mưa bao nhiêu trận khóc cười đã mưa/ Quá yêu mà lụy chữ ngờ/ À ơi tiếng vỗ bên bờ ánh trăng…”(Này Ru, tr.10). Những suy nghĩ bao giờ cũng rõ ràng: “Sao ta không đau đớn cái thời bước chân lên cỏ/ Không nhận ra nơi tận cùng gió rời rợi lên hương/ Sao ta không áp tai xuống đất/ Để được nghe mạch nguồn dưới mỗi bước chân…” – (Hoa Thảo Mộc, tr.16)

Tôi xin dẫn hết bài Mây Trắng Bay (mà đoạn đầu nhà thơ Bế Kiến Quốc đã dẫn):

“Con sinh ra mây trắng đã bay rồi

Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ

Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng

Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.

 

Mẹ ơi, mây trắng mang tình yêu của nước

Những mẻ lưới kéo trên cánh đồng kia không còn bỏng rát chân chim

Những nan sóng sàng trên mặt sông không dềnh lên đất cát

Chẳng dại gì con xáo trộn lên đâu

 

Một ngày kia tóc con thành mây trắng

Con sẽ chảy về nguồn như mẹ

Để mây trắng bay lên như bay thủa ban đầu”

Ở tập Đi Về Nơi Không Chữ có bài Người Đi…: “Người đi tôi ướt trăm năm/…/ Người đi tôi dễ đắm đò…” nếu nối với “Ngỡ bầu bạn của ta đông/ Tan sương mới thấy trống không con đường” – (Lãng Đãng Thơ, tr.5) ta thấy thời nào thì chuyện làm người và sống đúng nghĩa người là không đơn giản. Tuy nhiên còn một nhận thức khác của nghĩa sống trên đời: “Có nghĩa là suốt đời phải chảy/ Tan trong biển nào ai còn thấy/ Sông Đáy bay lên sông Đáy về nguồn”… “Từng giọt chảy tận bùn mà lặng tiếng/ Sông Đáy xé mình để thành đồng áng/ Thành đồng áng rồi không thấy nữa sông đâu” – (Chảy Cùng Sông Đáy, tr.7), dù vẫn biết rằng: “Đau buồn những ước trôi đi hết/ Mà nước trong đời có chảy đâu” – (Đêm Gặp Bạn, tr.9). Lắm lúc muốn như tan chảy thành thật mà không thể được: “Này xin rót nốt đời vào chén/ Cạn nào cho bốc cháy nhau đi/ Tràn đêm rượu đế cười không thật/ Giã biệt ôm nhau khóc làm gì” – (nt)

Bình Nguyên có cách nói cô đọng mà hình ảnh về Phật, về đời, về chùa, về kinh kệ, về chuông, về hoa, mà phải là hoa sen cổ điển và huyền thoại: “Tôi theo kinh kệ nghe chuông chín/ Lòng nở bừng sen một đóa đầy” – (Chùa Cổ, tr.15. Đặc biệt bài Cha Ơi: “Đêm đêm cha dán bóng vào khoảng lặng/…/ Đêm đêm cha ngồi khát/…/ Cha đã vịn vào ngọn đèn dầu/ Vịn vào lung lay cái bóng/ Đi đến bước cuối cùng nỗi khát/ Mà những tưởng có gì đâu to tát/ Mái rạ phía ngoại nằm chưa kín gió/ Đêm ba mươi mẹ còn lún xuống đồng/ Nội cả đời không được đắp chăn bông/ Rồi một ngày/Cha nằm xuống nỗi khát vùi ngửa mặt/ Cha ơi/ Những nỗi khát của cha/ Cầm lên mà nước mắt…”

Tôi còn muốn trích trong tập này nhiều câu ở các bài: Chợ Cát; Đi Về Nơi Không Chữ; Sợi Tóc; Với Sông; Về Bến Thóc; Tôi Và Em; Nhưng xin được học cùng Bình Nguyên khi đứng trước thánh nhân: “Một tay Ông đặt vào chuôi gươm/ Không phải rút gươm mà che lại phần bàn tay đã nắm/…/ Ai học Ông cách cầm gươm lương thiện/” mà tâm đắc rằng: “Ai đi ra ngoài chữ nghĩa/ Để nâng mình lên cao hơn chữ nghĩa” – (Trước Tượng Đài Trần Hưng Đạo)

Ở tập Lang Thang Trên Giấy: “Bây giờ ta bé con con/ Em lên chút nữa không còn thấy ta” – (Tiễn Em Lên Máy Bay, tr.11) – Thật Nguyễn Bính đến thế là cùng! Ngay cả cái ngày về cũng bao nhiêu là những ưu tư: “Ngày về/ Lá rơi như vỡ ngang im lặng/ Ngày về/ Nước trôi như khóc/…/ Gặp nhau thì vướng/ Gặp rồi lại thương” – (Ngày Về, tr.22). Tôi rất tâm đắc với tính thế sự nhưng âm thầm của: “Chị biết chiếc lá nào không rụng về gốc/ Bụi bặm nào hằn lên mái rêu xưa/ Dấu vết nào chồng lên dấu vết/ ngọn đèn nào đứng sáng trong mưa” – (Lại Nhớ Phố Đêm, tr.24). Tôi vẫn phải so sánh thơ lục bát Bình Nguyên với những người lớp trước: “Đời còn có chốn mai sau/ Ta mà bạc cỏ biết đâu mà về” – (Tản Mạn Về Cỏ). Hai chữ mà, vẫn âm hưởng Nguyễn Bính. Nhưng khi không lệ vào tâm trạng mà đắm vào thân tâm quyện cùng trí hứng của mình thì thơ Bình Nguyên là của Bình Nguyên, cả cảm hứng cả con chữ: “Mở trang này, mở trang này/ Bỗng ta gặp chữ từ ngày chưa ta/ Mở nữa ra, mở nữa ra/ Trang này nước mắt đi qua phận người/…/ Trang này mặt giấy trắng tinh/ Mà sao ta lại giật mình đọc nhau” – Bốn chữ mở, nhưng là của tu từ. Vừng ơi mở ra! Giọng một chút đồng dao ở mở bài nhưng hai câu kết thì ý thật tinh thâm!

Thôi, tôi đã cùng thơ đi một chặng dài, “chưa mỏi, vẫn còn mải miết”. Tạm ngồi trên Cánh Đồng Trăng: “Trên cánh đồng ngậm một màu trăng/ Những ngôi sao trên bầu trời cùng đom đóm thắp lên/ Biết có trăng nhưng tất cả muốn góp mình để làm nên ánh sáng” mà cổ tích, mà bắc cầu, mà mùa hương, mà sân vàng phơi một cánh đồng trăng. Khoan khoái làm sao, khi đó, “Khi áo mũ đã trở về nhà/ Ngọn đèn sáng như không vừa sáng nữa/ Chẳng bắt tay ai/ Nói lỡ câu cũng không còn sợ/…/ Gặp nắng vào mới chợt nhận ra/ Nắng không đến cái nơi còn đóng cửa” – (Một Ngày, tr.33). Nào, mời quý anh chị, ta cùng ngồi mâm tiệc thơ của Bình Nguyên.

Hồ Tây, ngày sơ thu 2012

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm