TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm

Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-31 20:24:22
mail facebook google pos stwis
74 lượt xem

TRIỆU KIM LOAN

Phan Thanh Tâm (bút danh Phan Thị Thương, Phan Diệu Hòa, Nguyễn Hoàng Tâm Anh…) được bạn đọc biết đến trong cương vị Thạc sĩ họa sĩ, làm thơ, viết văn, lí luận phê bình và sáng tác nhạc. Nhìn chị, ít ai có thể ngờ chị lại có nhiều nội lực sáng tác trên nhiều lĩnh vực đến vậy.

Cha mẹ quê gốc ở Hà Nội nhưng vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 1954. Từ tổ ấm nhỏ bé, ấm áp, Phan Thanh Tâm từng trải qua những thăng trầm của sự thiếu thốn, mất mát và thiệt thòi. Nhưng cũng chính vì lẽ đó, những trân quý, biết ơn, gắn bó với gia đình và mảnh đất đầy nắng gió phương Nam đã thôi thúc chị gửi gắm tâm tình vào nghệ thuật.

Yêu thích đề tài văn học thiếu nhi và có bài đăng báo Khăn quàng đỏ từ lúc 9 tuổi, Phan Thanh Tâm đã chọn cho mình một hướng đi phù hợp với sở trường, đam mê và phong cách riêng. Thế giới trẻ thơ trong trẻo, hồn hậu, ắp đầy nụ cười và khát vọng được nhìn qua lăng kính của một người mẹ, họa sĩ, nhạc sĩ nên giàu chất nhạc, chất họa, thấm đẫm chất liệu ca dao, tục ngữ. Ngoài 7 tập truyện ngắn, Phan Thanh Tâm cho ra mắt độc giả liên tiếp 2 tập thơ Mẹ có nghe trăng hát (2025) và Có phải cô là nắng? (2026).

Có phải cô là nắng? là một nhan đề đẹp. Cái đẹp bắt đầu từ câu hỏi ngây thơ, ắp đầy niềm tin, khao khát của trẻ thơ được nhìn ngắm, tắm mình trong ánh nắng của bầu trời. Nắng vàng ươm, chan hòa trên lá cây, ngọn cỏ, theo em tới trường ríu rít như đàn chim non. Trong ánh mắt trẻ thơ, cô giáo là tia nắng đẹp nhất, người tạo nên phép màu cổ tích và được trẻ yêu quý, vâng lời một cách “tuyệt đối hóa”.

Yêu trẻ, hiểu trẻ, Phan Thanh Tâm đã hóa thân vào từng ánh mắt, nụ cười, tâm hồn thánh thiện của trẻ thơ trong từng nếp gấp của cuộc sống đời thường. Với người đã trưởng thành, gia đình là bến đỗ bình yên, là bờ vai nương tựa, là miền sâu thẳm xoa dịu nỗi đau, vực dậy những sai lầm, vấp ngã. Với trẻ thơ, gia đình là tài sản thiêng liêng, gần gũi mà bé nâng niu, chiếm giữ ngộ nghĩnh. Đó là cây mận hoa nở:“Thơm như nụ cười cháu”, “Quả như chùm chuông úp”, là câu chuyện cổ tích bà kể:“Quả rơi vào vạt áo/ Thơm lừng giấc mơ ngày(Cây mận trước sân). Bàn tay và tấm lòng thơm thảo của mẹ cho bé món ăn thật ngon: Mẹ lựa từng hạt nếp/ Ghép thành chiếc bánh dầy/ Từng mặt trời be bé/ Mọc ra từ bàn tay (Bánh dày).

Khái niệm thời gian đối với trẻ thơ được cụ thể bằng món ăn yêu thích “Thời gian ươm vàng dưa cải/ Để mẹ về nấu canh chua”, bằng mặt trời chói chang “Thời gian là gì mẹ nhỉ/ Là mặt trời mọc sớm mai”, là phép màu kì diệu của ông Bụt:“Thời gian ủ mầm cổ tích/ Cho lũ cá vàng sinh sôi” (Thời gian), là niềm vui vỡ òa khi nhìn thấy thành quả lao động của cha mẹ: Bố em mỉm cười/ Nheo từng mắt lưới/ Mẹ đang lúi húi/ Bên giỏ cá đầy (Từ điều giản đơn). Cảnh cả nhà quây quần gói bánh chưng đón Tết thật ấm áp. Hạt gạo trắng ngần ướp hương của đất trời, qua bàn tay khéo léo và tình yêu thương của ông bà, cha mẹ trở thành những chiếc bánh vuông vắn, thơm lành:

Ông chẻ lạt thật khéo

Bố giã đậu ngoài sân

Bà rửa lá dong sạch

Mẹ vo gạo trắng ngần

 

Đậu vàng ươm chúm chím

Ôm thịt mềm vào nhân

Nép giữa làn nếp trắng/

Ủ mình trong lá xanh” (Gói bánh chưng)

Những hình ảnh dung dị đời thường qua con mắt trực cảm của trẻ thơ được Phan Thanh Tâm viết bằng tứ thơ đẹp, ngôn từ trong sáng, giàu thi ảnh và nhạc tính. Walt Streightiff từng khẳng định: “Trong mắt trẻ con, thế giới không chỉ có 7 kỳ quan mà có đến hàng triệu kỳ quan lý thú cần khám phá”. Vẫn là hình ảnh ngọn tre, hạt mưa, cầu vồng, sáo diều nhưng qua sự quan sát và trí tưởng tượng của bé thật kì diệu: Tre cong gọng vó/ Kéo diều ngân nga”, “Trời vừa tắm gội/ Cầu vồng hiện ra”(Nhớ),  Hoa cùng em thể dục/ Cùng đón chào bình minh/ Gọi chim bướm cùng đến/ Múa lượn vòng thật xinh (Em yêu ngôi nhà của em)

Từ không gian của gia đình, niềm khao khát tri thức của trẻ thơ được mở rộng gắn với ngôi trường, lớp học, thầy cô và bè bạn: “Tan trường”, “Mùa thi”, “Trường của em trên núi”, “ Cuối tuần”, “Chúng mình cùng đi học thôi”… Phan Thanh Tâm thường so sánh trẻ thơ với hình ảnh đáng yêu của bầy ong, loài chim… Cách so sánh này không mới nhưng phù hợp mà hấp dẫn bởi cách xử lí từ ngữ thông minh và tinh tế: “Như bầy ong vỡ tổ/ Cùng chạy ùa ra sân”, “Cả đàn chim đang hót/ Tiếng lòng cô líu lo”(Có phải cô là nắng), Nào chạy thi với nắng/ Ngày hai lượt đi, về/ Như một đàn chim trắng/ Hót vang trên đường quê (Tan trường). Niềm vui của trẻ thơ trong vắt như hạt nắng, giọt sương, làn gió, ánh trăng, mặt trời: Lũ sẻ nâu kêu lích chích/ Nép mình trong những vòm cây”, “Em soi mình vào nắng sớm/ Thấy mặt trời trên môi cười” (Chúng mình cùng đi học thôi). Đó là một khoảnh khắc đáng yêu, mơ mộng của một em nhỏ ngắm nhìn những hạt mưa trên nền trời tối sẫm. Một giây phút thư giãn sau những giờ ôn bài mệt mỏi: Em học bài xong rồi/ Tựa đầu bên khung cửa/ Nhin hạt trời lưa thưa/ Mây kéo màn nhung thẫm (Mùa thi). Bầu trời đêm lấp lánh sao trời đi vào giấc mơ của bé thật  đáng yêu:

Trời gần như tay với

Sao rơi vào giấc mơ

Trang sách vừa để mở

Đã ướp đầy câu thơ (Bản em trên lưng núi)

Trẻ thơ yêu mến thầy cô và thần tượng theo cách đặc biệt. Có phải cô là nắng/ Ủ ấm ngày mưa dông/ Hay cô là dòng sông/ Đưa bao thuyền ra biển? (Có phải cô là nắng). “nắng”, “mưa”, “dòng sông”, “biển cả” đều là những hiện tượng tự nhiên, tồn tại trong không gian của tạo vật, vũ trụ được tác giả nâng lên thành những biểu tượng đẹp về tình yêu và đức hi sinh thầm lặng của nhà giáo: Thầy giáo em là lính/ Áo xanh màu lá rừng/ Cô giáo như chị gái/ Nụ cười là nắng xuân (Trường của em trên núi).

Bước chân trẻ thơ đi qua vùng nhớ được Phan Thanh Tâm trải lòng đa dạng với núi non, cánh đồng và không gian biển cả: Đường mòn cheo leo dốc/ Đá chen ngàn sắc hoa/ Mùa ngào hương trái chín/ Chim sóc theo về nhà (Bản em trên lưng núi). Vẫn là bãi cát, còng gió, cánh sóng, hải âu quen thuộc nhưng cách mở tứ bằng câu hỏi ngây thơ của bé thật tự nhiên, phù hợp: Ai vẽ cát bờ thoai thoải/ Cho còng in dấu chân lơi/ Mặt trời mỗi ngày lên xuống/ Nhảy tùm xuống biển lặn chơi (Hỏi). Đằng sau vẻ đẹp của đất trời, sông núi là tình yêu và bóng dáng tảo tần của cha mẹ, ông bà trong lòng con trẻ: Từng đốm sáng đang cất lời/ Nương theo cánh gió ru hời bên nôi/ Mùa vui gói cả nụ cười/ Gói miền cổ tích vào lời ca dao (Vườn đom đóm), Gió hun làn da sẫm/ Muối ngưng trên mái đầu/ Mắt nheo nhìn con nước/ Xanh thêm những luồng sâu (Cha vớt nghìn nụ cười).  Giấc ngủ cha gởi sóng/ Đổi bữa cơm ngọt lành/Mồ hôi hòa bạc sóng/ Cho đời con thắm xanh (Ánh đèn khơi xa), Gom hết ráng chiều/ Chiếc mền cổ tích/ Cầu vồng ấm sực/ Lòng bà mênh mông… (Cầu vồng ấm)

Thơ viết cho thiếu nhi là dòng thơ đặc thù, coi sự hồn nhiên, trong sáng và trí tưởng tượng ngộ nghĩnh của trẻ làm hồn cốt để triển khai mạch thơ, lựa chọn từ ngữ và thể thơ phù hợp. Nguyễn Đình Thi cho rằng: “viết cho trẻ con bao giờ cũng khó, ai chơi được với trẻ con thì tâm phải trong vắt thì mới chơi với trẻ được”. Đọc thơ Phan Thanh Tâm càng thấy rõ chị yêu trẻ đến mức nào mới có thể thấu hiểu, hóa thân vào từng đề tài, cảnh huống để gieo chữ. Bằng sự quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm của một họa sĩ, một nhà thơ, một nhạc sĩ, Phan Thanh tâm đã thổi hồn cho tập thơ những sắc màu lung linh ánh sáng của tình yêu, sự khám phá và ao ước hồn nhiên của trẻ. Chị thường xây dựng tứ thơ đơn giản, tự nhiên và bất ngờ qua những câu hỏi ngây thơ của trẻ về tự nhiên, tạo vật, vũ trụ và con người: “Ai chọc ghẹo cho sóng giận/ Mà dâng ướt cánh hải âu?”, “Ai nhuộm thẳm xanh lòng biển/ Lấp lánh thêm những đêm rằm?”, , “Có phải cô là nắng/ Ủ ấm ngày mưa dông”.

Tập thơ sử dụng đa dạng các thể thơ: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, lục bát và tự do. Tác giả thường chọn thủ pháp nhân hóa, so sánh và các phép điệp nhằm gợi ra sự liên tưởng phong phú, gần gũi và nhịp điệu tươi vui, rộn ràng, phù hợp với sở thích chạy nhảy, vui đùa của trẻ thơ: “Như bầy ong vỡ tổ / Cùng chạy ùa ra sân”, “Chú gà trống rướn cổ gáy/ Kéo mặt trời lên ngọn cây”, “Trên đường đê nhấp nhô/ Mùa xuân tràn gánh mẹ” , “Gió lên…/Diều gọi nhau bay/Tiếng í ới reo xanh biếc”, “Mùa vui gói cả nụ cười/ Gói miền cổ tích vào lời ca dao”…Và những vần thơ nhỏ nhẹ, đáng yêu như thế này thực sự đạt hiệu quả thẩm mĩ, khiến cho trẻ thơ và người lớn đều yêu thích:

Nhanh lên chú dế than

Cỏ tơ mơn mởn thế

Trăng non vừa mới ghé

Gọi mùa xuân cùng về

 

Tắm đẫm ánh trăng khuya

Ran ran bài ca cũ

Nhấm nháp hạt sương nụ

Gật gù chú làm thơ (Tiếng dế đêm trăng)

Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính. Tôi tin những bài thơ dung dị, dễ hiểu này sẽ mang đến tiếng cười sảng khoái, xua tan căng thẳng, bồi đắp cho trẻ tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn một cách mềm mại, tự nhiên. Phan Thanh Tâm sẽ còn có những bước tiến xa hơn nữa, không phụ lòng mong mỏi của bạn đọc. Xin chúc mừng chị.

T.K.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm