TIN TỨC

Thơ Võ Miên Trường và những nỗi buồn riêng mang

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-11-10 06:10:53
mail facebook google pos stwis
2992 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Võ Miên Trường là gương mặt thơ nữ mới xuất hiện trong những năm gần đây nhưng người ta biết đến chị, ấn tượng về chị bởi những vần thơ đậm chất trữ tình.

Dù viết về mình, về người, về đời thơ chị cũng mang nỗi buồn sâu thẳm. Buồn về thân phận với trùng điệp những gập ghềnh, bất trắc, những va đập ngã nghiêng trong hành trình cuộc đời mà Võ Miên Trường đã nếm trải. Những âm vang đó khúc xạ qua lăng kính trải nghiệm của chị trở thành nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi và có thể theo nhà thơ suốt cả cuộc đời này.

Có lẽ, chỉ những người bạn bè thân thích, ruột thịt của nhà thơ Võ Miên Trường mới biết đằng sau những vần thơ trữ tình đó là bắt nguồn từ hiện thực những năm tháng khốn khó của chị và cả gia đình. Cuộc vật lộn, mưu sinh cơm áo đã làm vỡ tan bao giấc mộng của cô gái miền Trung xinh đẹp thuở nào. Trong bài Người đàn bà làm thơ, Võ Miên trường không ngần ngại tỏ bày:

Người đàn bà/ Mượn gió thả hương bay/ Tập làm thơ/ Trong nỗi nhớ vụng về xưa cũ/ Đối diện đêm/ Trở trăn tìm câu chữ/ Trải lòng mình ơi muối mặn gừng cay.

Người đàn bà làm thơ/ Ẩn giấu mình lặng lẽ/ Rồi một ngày/ Hồn thơ bất chợt ghé tìm...

Người đàn bà/ Ngồi hong từng con chữ phiêu linh/ Ngọt thơm – đắng đót/ Đắng - giữ riêng mình/ Ngọt - gửi vào thơ

Người đàn bà/ Đắm mình trong những giấc mơ/ Gánh đa đoan đổ nghiêng bờ nghiệt ngã/ Đau đáu nỗi niềm/ Xô lệch mùa riêng...

Người đàn bà/ Đắng - Ngọt cứ làm thơ...

Chị tìm đến thơ, coi thơ như sự cứu cánh, nhờ thơ nói hộ cho chị bao điều. Bởi chỉ ở thơ, Võ Miên Trường mới giãi bày hết mọi ngõ ngách sâu kín của tâm hồn mình một cách rốt ráo nhất và chị có thể cảm thấy nhẹ lòng hơn để mà sống mà yêu cho trọn kiếp người.

Đó là những giọt nước mắt, là nỗi đau đến khôn cùng của phận người ly hương với bộn bề nỗi lo toan, vất vả. Phố người lận đận phận quê/ Tha phương chìm nổi/ Bộn bề áo cơm/ Vỉa hè/ Vất vả sớm hôm/ Thấp người bé họng/ Chỉ giòn tiếng rao/ Chợ người bán những xanh xao/ Người quê mua những chênh chao.../ Phận mình... (Chợ người). Đọc những vần thơ chị viết nghe sao mà xa xót. Đặc biệt là những phận người xa quê với đường đời chông, đầy bất trắc vì sự sinh tồn.

Gió bụi kinh thành và những bon chen, được thua cơm áo mà Võ Miên Trường đã trải qua, giờ đây chị cảm thấy thấm thía. Một nỗi buồn đã ăn sâu trong từng tế bào, từng thớ thịt. Buồn đến độ, có lúc chị muốn “trùng tu nỗi buồn”: Bất chợt cơn gió chiều nay/ Thổi từ/ phía ấy chân ngày em đi/ Đường bay/ bạt cánh thiên di/ Nghe phong phanh tiếng thầm thì - giá - như// Mai ngày tình hóa thiên thu/ Em về gom nhớ/ trùng tu nỗi buồn.

Người đàn bà giàu nghị lực như chị thì dù hoàn cảnh có thế nào đi chăng nữa cũng không thể làm gục ngã. Ta gồng mình/ Gánh nặng kiếp phù sinh (Gánh).

Sự thật trần trụi của đời sống đi vào thơ Võ Miên Trường một cách tự nhiên và trở nên có hồn. Giữa đời thường và thơ nó như hòa quyện trong chị tạo nên một giá trị thẩm mỹ, dễ neo đậu trong lòng người đọc, bởi những cảm xúc mộc mạc, bình dị, chân thành. Cái chân thành ấy, được trái tim một người đàn bà thấu hiểu mọi lẽ nông – sâu, được – mất, trái tim ấy rất nhạy cảm, rưng rưng khi ngẫm về mình về người! Nửa đêm/ Nửa tỉnh nửa say/ Nửa lay lắt nhớ/ Nửa thương vay đời/ Nửa đau phận bạc như vôi/ Nửa cười như rượu say người.../ Nửa đêm... (Trăn trở).

Có lẽ thế mạnh của chị là thơ lục bát, chị có hẳn 1 tập thơ lục bát (Giữa bộn bề tôi) gồm 60 bài. Không hẳn cả tập bài nào cũng hay, nhưng phải thừa nhận rằng Võ Miên Trường có một số bài lục bát viết khá thành công. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay, nếu nhà thơ không có tài năng thật sự thì lục bát dễ đi vào dễ dãi, kiểu ghép vần ráp chữ. Thơ lục bát Võ Miên Trường đã không phạm vào điều đó. Tôi cho rằng chị là người làm thơ lục bát có “nghề”. Nhà thơ Võ Miên Trường có những câu lục bát, bài lục bát để lại trong lòng người đọc những dư ba. Bởi chị biết làm mới thể thơ lục bát qua cách sử sụng câu chữ, hình ảnh, tứ thơ và cách vắt dòng.

- Đêm

cào cấu những tội tình

Rách toang nỗi nhớ thương mình trắng tay

(Cánh phù du bay)

- Ai mang nắng đổ vào chiều

Mà hoàng hôn trượt nát điều răn xưa

(Tím điều răn xưa)

- Ừ thôi

Trả nắng cho ngày

Trả

Trăng cho những rằm đầy khuyết nhau

(Trả)

Từ những trải nghiệm của bản thân người đàn bà luôn chịu nhiều thua thiệt, sẵn sàng hi sinh tất cả vì gia đình, chồng con nên nhà thơ Võ Miên Trường cũng có những triết lý sâu sắc về hạnh phúc và khổ đau. Đôi lúc, nhân vật trữ tình trong thơ chị cất tiếng “riêng mang”:

Bên hiên đời ta nhặt tình hư ảo/ Kỷ niệm về xô lệch màng trăng nghiêng/ Chao chát nhớ từng đêm dài trăn trở/ Ta ngỡ ngàng đối diện nỗi niềm riêng

Giữa vành đai nỗi nhớ cứ gập ghềnh/ Từng giấc mộng chưa kịp dày đã sáng/ Thu võ vàng thương giọt sương phai úa/ Nhỏ xuống đời giọt nước mắt vương mang (Vương mang).

Trong hầu hết các sáng tác của nhà thơ Võ Miên Trường, điều dễ nhận thấy là chị đề cập nhiều đến thân phận người phụ nữ. Bởi hơn ai hết, Võ Miên Trường thấu hiểu những nỗi đau mà họ phải gánh chịu. Bởi dù gì thì người đàn bà vẫn thiệt thòi nhiều hơn so với cánh đàn ông. Nghĩ về mình, chị chợt nhận thấy thấp thoáng bóng dáng âm thầm, khổ đau của mẹ và cũng là của mình. Nhà thơ càng ngậm ngùi, xót xa, khắc khoải hơn.

Oằn lưng mẹ gánh gian nan

Lệch vai trĩu nặng lầm than cuộc đời

Tuổi xuân mẹ cũng một thời

Vì con – không biết đánh rơi lúc nào

......

Một đời dẫu đến trăm năm

Chùng chân mỏi gối vẫn đằm nét tươi

Bôn ba trên cánh đồng người

Bàn chân tứa máu gai đời mẹ tôi

(Đẫm gánh đa đoan)

Sự trở đi trở lại trong thơ chị là hình ảnh của đêm, mưa, buổi chiều... Những hình ảnh ấy gợi lên cảm giác cô đơn, trống vắng, hoang hoải, miên man, chồng chất, trùng điệp những nỗi buồn.

- Đêm nghiêng/ Mình em lật xô mình/ Độc hành/ Tìm cô đơn cứu rỗi (Đêm nghiêng).

- Hình như nỗi nhớ dậy men/ Nghe đâu gió bấc ngược đêm tìm về (Một mai em).

- Người đàn bà ngược gió/ Ngược nỗi đau/ Ve vuốt trái tim mình/ Ngược màn đêm/ Tìm về thời trinh nữ/ Đôi mắt huyền/ Giờ đã đẫm sương sa (Ngược).

- Đêm vỗ về tiếng nguyệt cầm đơn lẻ/ Khóc thương vay một thuở trót yêu người/ Một mai ư... trong nhau là không thể/ Đợi đêm dài thao thức... nguyệt cầm rơi... (Lặng lẽ đêm).

- Phố mưa xô lệch nỗi niềm/ Nghiêng vai ta gánh cả triền em xanh (Mưa phố).

- Chiều em đau một giọt mưa/ Nghiêng đời rót xuống dạ thưa cùng người (Chiều).

- Mưa ơi - từ thuở trăng đầy/ Nửa vời vợi nhớ nửa lay lắt sầu (Khúc mưa...).

- Gói thương cho kín đợi chờ/ Dốc đời mưa vẫn mịt mờ phận mưa... (Phận mưa).

- Khúc quanh nào dắt chiều vơi/ Câu thơ nhuộm tím chiều rơi mịt mùng (Lục bát).

- Em cầm chiều đẫm chạm đêm/ Đốt miền trăng lạnh sưởi êm giấc buồn (Hờn đêm).

- Ta rối bời nghiêng theo chiều biển động/ Quay hướng nào cũng vấp phải mênh mông (Biển gọi).

- Chiều rơi sợi nắng vô tình/ Vương vào mắt tím.../ chùng chình bước chân... (Chiều tím).

- Nắng chiều giọt thắm giọt loang/ Hoang mang em nhặt đa đoan buộc mình... (Chiều nắng vỡ).

*

Không phải chị kêu gào than khóc mà đó là sự bộc bạch giãi bày nỗi lòng của chị với mong muốn tìm được sự đồng cảm và tri âm. Vì thế, âm hưởng chính trong thơ Võ Miên Trường là những giai điệu trầm, buồn, nhẹ nhàng, đằm thắm, cô đơn nhưng vẫn mang vẻ đẹp trong trẻo. Nó không chỉ là nỗi niềm riêng mà thấm đẫm tâm sự chung, không chỉ nói cho mình mà nói cho người; biểu đạt nỗi nghẹn ngào, thổn thức sâu xa trong trái tim của nhân vật trữ tình. Đủ một đời vay mượn nắng mưa/ Đo khôn dại cuộc đời/ Đếm đa đoan mòn mỏi...

Một sự thật là con đường đến với hạnh phúc càng thử thách, chông gai, trầy trật bao nhiêu thì giá trị của hạnh phúc có được càng lớn lao, bền vững và đáng quý bấy nhiêu. Cuộc đời chị là một minh chứng, sau những lo toan giữa chợ đời vì sự mưu sinh, giờ chị có cuộc sống ổn định, vui vầy bên chồng con và các cháu nội, ngoại. Dẫu chưa phải là cuộc sống sung túc như nhiều gia đình khác nhưng chị có thể tự hào và hãnh diện, tự thấy phục chính mình khi chị nhìn lại đoạn đường đời mà chị đã đi qua.

Càng về sau, nhà thơ Võ Miên Trường càng hướng vào khai thác, khám phá thế giới nội tâm của chính mình. Nhà thơ đã làm cuộc hành trình để nhìn lại mình sau chặng đường dài nếm đủ những đắng chát.

Sáu mươi năm/ Dòng sông đời lẩn khuất/ Ta lênh đênh giữa đôi bờ ảo thực/ Nợ mẹ cha hình hài nguyên vẹn/ Thắt lòng khi cha mẹ từng ngày mỏng vội/ Khúc quanh đời chưa biết giấu vào đâu

Sáu mươi năm/ Người con gái năm xưa gánh vết trầm quá khứ/ Trên đôi vai gầy tất tả nắng mưa/ Đã ngấm hết vô thường/ Đã đẫm mùi khôn dại/ Đã kiệt cùng trả vay.../ Vạt hoàng hôn trái mùa vẫn ngằn ngặt nắng... (Khúc tôi).

Nghẹn ngào, trống vắng, đau buồn lần lượt hiện diện là mắc xích xuyên suốt hành trình thơ Võ Miên Trường và trở thành “tạng” thơ riêng của chị. Cái hay là dù buồn, dù tổn thương, va vấp thơ chị vẫn hiền lành, nhẹ nhàng và “RIÊNG MANG” chứ không phải kiểu rên rỉ, oán trách, đổ lỗi. Vắt kiệt nỗi buồn/ Đến tận cùng khô khốc/ Xé mây trời dệt thảm lụa xanh mơ (Ngược).

Giữa những trăn trở, thao thức, tự đối diện với chính bản thân mình, tự vấn chính mình để soi thấu, củng cố lòng tin, sưởi ấm tình người. Nhặt hoàng hôn rớt đầy tay/ Ta - người nhặt những vơi đầy trong nhau (Nhặt những vơi đầy).

Cho đến thời điểm này, Võ Miên Trường đã in 4 tập thơ. Đó là thành quả mà nhà thơ đã dày công, miệt mài gieo hạt, vun trồng trên cánh đồng chữ nghĩa. Dù chưa phải là tiếng thơ độc đáo so với những nhà thơ nữ đương thời, nhưng những gì Võ Miên Trường có được, những gì chị đã đóng góp đã tạo nên sự đa sắc hương trong dàn đồng của ca của thơ nữ Việt Nam hôm nay. Đó là điều đáng được ghi nhận ở một cây bút có tâm, sống thành thật và say mê thơ như Võ Miên Trường. Ngồi hong những con chữ phiêu linh/ Ngọt thơm - đắng đót/ Đắng giữ riêng mình/ Ngọt gửi vào thơ (Người đàn bà).

Nguồn: https://phuongnamplus.vn/

Một vài hình ảnh nhà thơ Võ Miên Trường cùng bạn văn.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm