TIN TỨC

Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-03 05:55:33
mail facebook google pos stwis
841 lượt xem

Nhà văn Nguyễn Trường vốn đã nổi tiếng với những tác phẩm sáng tác, như tiểu thuyết "Mộng đế vương" và tập truyện ngắn "Khai khẩu". Nhưng ít ai biết rằng, ông còn là một cây bút phê bình văn học "không chuyên nhưng rất có nghề", với những "Cảm nhận văn học" sắc sảo, công phu. Trong bài viết "Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học", nhà phê bình Vũ Nho đã đi sâu phân tích tập sách "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, làm nổi bật tài năng, sự am hiểu sâu rộng và bản lĩnh thẳng thắn của một người làm phê bình văn học. Với kinh nghiệm sáng tác dày dặn, Nguyễn Trường đã mang đến những góc nhìn mới mẻ, thuyết phục về nhiều vấn đề và tác phẩm trong văn chương, dù đôi khi "thái quá" một cách hồn nhiên. Văn chương TP. HCM mời quý vị cùng khám phá để thấy được một "Nguyễn Trường" khác, chín chắn và chững chạc trong lĩnh vực phê bình, một đóng góp quý giá cho đội ngũ người viết phê bình vốn là "số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn"!
 

VŨ NHO

(Đọc "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, Nxb Thanh Niên, 2024)

Nhà văn Nguyễn Trường là người sáng tác. Tuy nhiên, do công việc, nhà văn còn làm “người điểm sách”, “bình sách” (chữ trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản). Tác giả khiêm tốn gọi những bài viết của mình là “Cảm nhận văn học” chứ không ghi là tiểu luận, phê bình như những người làm chuyên việc phê bình. Song đọc 41 bài viết được tập hợp trong cuốn sách này gồm trả lời phỏng vấn, nhận xét đánh giá tập thơ, tập truyện, tập tiểu thuyết, tuyển tập thơ, kỉ niệm với nhà văn đàn anh,… hoàn toàn có thể coi đây là một tập phê bình, tiểu luận của một cây bút phê bình không chuyên nhưng rất có nghề vì người viết giàu kinh nghiệm sáng tác, kinh nghiệm đọc và luôn học hỏi, nghiền ngẫm.

Hầu hết các bài viết đều đã được công bố trên các tờ báo viết, báo mạng có uy tín văn chương. Chỉ có 6 bài, không in nguồn công bố, có lẽ do tác giả chưa gửi đăng. Đó là "Cần một hội nghị Diên Hồng cho giáo dục", "Nét vẽ tươi tắn bằng thơ", "Một giọng văn độc đáo", "Giải mã thơ Nguyễn Văn Hiếu", “Chấm phá” – Cảm nhận từ tâm hồn thơ", "Tiếng thở dài của một kiếp người". Tuy nhiên, các bài này đều chất lượng và thống nhất với cách cảm nhận của tác giả.

Chúng tôi cho rằng bài trả lời phỏng vấn do nhà thơ Vũ Thanh Hoa thực hiện “Phê bình văn học cần những gì” đã cho thấy người sáng tác, nhà văn Nguyễn Trường đã hiểu rất rõ bản chất của công việc phê bình. Vì hiểu rõ như thế, nên các bài viết của Nguyễn Trường về nhiều vấn đề, nhiều tác phẩm của đồng nghiệp vừa chi tiết, vừa khái quát, vừa sinh động, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, vừa làm nổi bật đối tượng mà người viết đề cập. Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Văn nghệ, Nguyễn Trường đã khẳng định: “Nhà văn tồn tại nhờ tác phẩm, do đó phải học hỏi, tích lũy vốn sống, vốn kinh nghiệm, khổ công sáng tác mới có tác phẩm có giá trị” (tr. 18). Điều này cũng rất đúng với việc viết phê bình văn học của tác giả. Nhà văn do đọc nhiều, tích lũy kiến thức lí luận văn học, nghiền ngẫm những gì đã tiếp nhận một cách kĩ lưỡng nên có thể bàn về nhiều vấn đề của văn chương. "Trường ca cần những gì?", "Quan hệ của người viết và người đọc", "Sức mạnh của nghệ thuật", "Nguyên mẫu và nhân vật", "Triết luận từ những ẩn dụ", "Truyền thống và cách tân", "Sự thật và hư cấu", "Tình huống trong truyện ngắn", "Giọng điệu trong tác phẩm", "Sự hồn nhiên trong thơ"… Bài viết nào không ít thì nhiều cũng có những phát hiện mới mẻ, thú vị, giúp người đọc hiểu sâu hơn về tác phẩm, tác giả, hoặc vấn đề được xem xét.

Nhà văn viết phê bình đã thẳng thắn chỉ ra việc tác giả của bộ "Kim Bình Mai" đã sao chép 3 hồi, gần 100 trang của bộ "Thủy Hử" (Tứ đại kì thư cũng giống nhau). Những bài viết về các nhà văn như Trúc Phương, Đỗ Viết Nghiệm, Nguyễn Vũ Tiềm, Nguyễn Khoa Đăng, Triệu Xuân, Nguyễn Đắc Xuân, đều công phu, chi tiết về tư liệu, cộng với quan hệ thân thiết, quý trọng, đem đến những thông tin mới mẻ, hữu ích về đóng góp của mỗi nhà văn. Riêng với nhà văn Nguyễn Khải, một đàn anh, một bậc thầy mà Nguyễn Trường “học được ở ông những chỉ bảo vô cùng quý báu về nghề viết văn”, tác giả đã dành cho ông bài “Lưu lại một chút tình”. Bài viết đã kể lại bài học về thâm nhập thực tế - “chịu khó tìm hiểu, chịu khó lắng nghe và ghi chép lại” và “phát hiện ra vấn đề từ gợi ý thực tế đời sống, đó chính là tư tưởng”. Nhờ đọc kĩ 8 tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Khải để tái bản, Nguyễn Trường phát hiện “Văn ông ông thông minh bởi hay triết lí, triết lí từng câu, từng đoạn, từng chương khá sâu sắc. Văn Nguyễn Khải hay ở tầm tư tưởng”. Trong bài viết này cũng cho thấy tình cảm đẹp giữa hai người bạn viết vong niên “Mà hơn cả bạn vong niên, ông là người anh lớn, người thầy đầu tiên”.

Với tinh thần khiêm tốn, trước một tác phẩm đã từng được chọn đưa vào sách giáo khoa, Nguyễn Trường thẳng thắn chê những điều chưa thuyết phục. “Phần mở đầu của truyện kể về anh chàng trưởng phòng là thừa, phần kết thúc gần như lặp lại những gì đã kể ở giữa truyện”; “Ngoài ra còn một số tình tiết chưa thuyết phục”, “Tác giả không hiểu tâm lí vợ chồng, thường chồng đánh vợ xảy ra những lúc giận lắm, nóng lắm, bộc phát, bất ngờ, không ai đánh vợ chờ đến lúc lên bờ mới đánh” (Đọc lại “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu). Phải tự tin và bản lĩnh mới có thể chê một cách thuyết phục như thế!

Bàn về tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Trường chọn phân tích kĩ truyện “Sang sông”, “Tướng về hưu” và “Muối của rừng” rồi chỉ kể tên 5 truyện khác là “Tâm hồn mẹ”, “Chảy đi sông ơi”, “Con gái thủy thần, “Phẩm tiết”, “Bài học nông thôn”… Có lẽ tác giả muốn dành cho bạn đọc tự chiêm nghiệm tình huống của các truyện đó, chứ không nói hết…

Nguyễn Trường là người viết truyện ngắn và tiểu thuyết thành công, có thương hiệu. Đó là một điểm thuận lợi cho tác giả khi phê bình mảng văn xuôi. Các tập truyện ngắn, tiểu thuyết, các nhà văn viết văn xuôi được tác giả đề cập khá chi tiết. Từ tiểu thuyết Lịch sử đến tiểu thuyết tư liệu, từ tiểu thuyết ngắn đến tiểu thuyết trường thiên 8 tập gần 2000 trang khổ lớn…Bài viết nào tác giả cũng đưa ra những nhận xét đánh giá tin cậy, thuyết phục người đọc. Về tiểu thuyết “Cõi nhân gian” của Nguyễn Phúc Lộc Thành, Nguyễn Trường đánh giá “vô cùng hấp dẫn”, “Cuốn hút người đọc say mê đến quên ăn quên ngủ. Cứ thế kéo dài đến hết 8 tập”. (Có lẽ “quên ăn quên ngủ” là một cách nói ví von để gây ấn tượng, song tôi đã từng đọc và viết bài về tiểu thuyết này, tôi xác quyết rằng đó là một cuốn sách rất hấp dẫn và cuốn hút!). Cũng có ý kiến này khác tiêu cực về tiểu thuyết “Cõi nhân gian”, nhưng Nguyễn Trường khẳng định: “Kì lạ thay tác giả mô tả nó như nó vốn thế, không lên gân, không bới móc, không hằn học, tất cả cũng vì cái tâm trong sáng, muốn xã hội ta thay đổi để đất nước tốt lên, tươi sáng lên của một người nặng lòng vì quê hương đất nước. Đó cũng là cái tài nâng lên tầm nghệ thuật của tác giả “Cõi nhân gian”.

Không thấy thống kê tập thơ nào của Nguyễn Trường đã in. Nhưng tác giả viết khá nhiều về các tập thơ. Các bài đó chứng tỏ tác giả cũng rất am hiểu về nghệ thuật thơ ca, có con mắt xanh khi đánh giá. Viết phê bình tập thơ, cái khó nhất là chỉ ra nét khác biệt về giọng điệu, thi tứ, thi ảnh… và phải chỉ ra được những câu thơ hay, những câu thơ ấn tượng. Chắc chắn việc nghiền ngẫm các tác phẩm lí luận về thơ của nhà thơ tài hoa Nguyễn Vũ Tiềm: "Đi tìm mật mã thơ", "Tiếp cận mật mã thơ", đã cho Nguyễn Trường tự tin khi đánh giá các tập thơ. Người viết chỉ ra giọng điệu mới mẻ, cách diễn đạt khác lạ, nhất là các câu thơ hay khá thuyết phục.

Tuy vậy, hình như trong sự cảm nhận, có đôi khi Nguyễn Trường “thái quá” một cách hồn nhiên, khiến người đọc phân vân. Đó là khi viết về Nguyên Hùng, Nguyễn Trường phóng bút khen “một rừng câu thơ hay”, (Cũng có thể tác giả dựa vào triết lý của chữ Hán, hai chữ “mộc” thành chữ “lâm”, chỉ hai cây thành rừng, rừng câu thơ hay có khi chỉ là hai câu thơ hay?) (tr. 123). Thơ Trần Mạnh Hảo nhiều bài hay và ấn tượng, nhưng đánh giá: “Tập thơ gần 600 bài, từ thơ tứ tuyệt đến trường ca, bài nào cũng tuyệt đỉnh” ( tr. 219) thì thật là dễ dãi cũng “tuyệt đỉnh” luôn. Một ví dụ khác về thơ của Nguyễn Thị Hồng. Người viết có ấn tượng mạnh như lời thuật “không bỏ sách xuống được, bởi lòng dạt dào cảm xúc”. Nhưng có lẽ vì “quá cảm xúc” nên khi đánh giá bài thơ “Lá cỏ” người viết đã hào phóng khen tặng “Ôi tận cùng tinh tế!”. Rồi bài thơ “Lời tượng nhà mồ” mà được vinh danh “Một trong những bài thơ hiếm hoi hay nhất về Tây Nguyên”. (trang 286). Đã hiếm hoi (không nhiều, rất ít), lại còn hay nhất (đỉnh của chóp)! Khó mà đồng ý với người đánh giá!

Trong bài trả lời phỏng vấn do Thu Lam thực hiện, nhà văn Nguyễn Trường bộc bạch: "Chính quá trình đi lên, học hỏi, tích lũy kiến thức, đã cho tôi bản lĩnh, viết kỹ càng hơn, sâu sắc hơn hồi tôi còn trẻ". (trang 68). Đó là nói về công việc sáng tác nói chung. Riêng về lĩnh vực phê bình văn học, do chịu khó đọc, chịu khó tích lũy, chịu khó viết, nên ngòi bút phê bình của Nguyễn Trường ngày càng chín chắn, chững chạc. Bên cạnh nhà văn Nguyễn Trường giàu thành tựu, chúng ta có thêm một Nguyễn Trường phê bình văn học. Thật đáng quý vì người viết phê bình văn học luôn là số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn!

V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm