TIN TỨC

Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-03 05:55:33
mail facebook google pos stwis
943 lượt xem

Nhà văn Nguyễn Trường vốn đã nổi tiếng với những tác phẩm sáng tác, như tiểu thuyết "Mộng đế vương" và tập truyện ngắn "Khai khẩu". Nhưng ít ai biết rằng, ông còn là một cây bút phê bình văn học "không chuyên nhưng rất có nghề", với những "Cảm nhận văn học" sắc sảo, công phu. Trong bài viết "Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học", nhà phê bình Vũ Nho đã đi sâu phân tích tập sách "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, làm nổi bật tài năng, sự am hiểu sâu rộng và bản lĩnh thẳng thắn của một người làm phê bình văn học. Với kinh nghiệm sáng tác dày dặn, Nguyễn Trường đã mang đến những góc nhìn mới mẻ, thuyết phục về nhiều vấn đề và tác phẩm trong văn chương, dù đôi khi "thái quá" một cách hồn nhiên. Văn chương TP. HCM mời quý vị cùng khám phá để thấy được một "Nguyễn Trường" khác, chín chắn và chững chạc trong lĩnh vực phê bình, một đóng góp quý giá cho đội ngũ người viết phê bình vốn là "số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn"!
 

VŨ NHO

(Đọc "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, Nxb Thanh Niên, 2024)

Nhà văn Nguyễn Trường là người sáng tác. Tuy nhiên, do công việc, nhà văn còn làm “người điểm sách”, “bình sách” (chữ trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản). Tác giả khiêm tốn gọi những bài viết của mình là “Cảm nhận văn học” chứ không ghi là tiểu luận, phê bình như những người làm chuyên việc phê bình. Song đọc 41 bài viết được tập hợp trong cuốn sách này gồm trả lời phỏng vấn, nhận xét đánh giá tập thơ, tập truyện, tập tiểu thuyết, tuyển tập thơ, kỉ niệm với nhà văn đàn anh,… hoàn toàn có thể coi đây là một tập phê bình, tiểu luận của một cây bút phê bình không chuyên nhưng rất có nghề vì người viết giàu kinh nghiệm sáng tác, kinh nghiệm đọc và luôn học hỏi, nghiền ngẫm.

Hầu hết các bài viết đều đã được công bố trên các tờ báo viết, báo mạng có uy tín văn chương. Chỉ có 6 bài, không in nguồn công bố, có lẽ do tác giả chưa gửi đăng. Đó là "Cần một hội nghị Diên Hồng cho giáo dục", "Nét vẽ tươi tắn bằng thơ", "Một giọng văn độc đáo", "Giải mã thơ Nguyễn Văn Hiếu", “Chấm phá” – Cảm nhận từ tâm hồn thơ", "Tiếng thở dài của một kiếp người". Tuy nhiên, các bài này đều chất lượng và thống nhất với cách cảm nhận của tác giả.

Chúng tôi cho rằng bài trả lời phỏng vấn do nhà thơ Vũ Thanh Hoa thực hiện “Phê bình văn học cần những gì” đã cho thấy người sáng tác, nhà văn Nguyễn Trường đã hiểu rất rõ bản chất của công việc phê bình. Vì hiểu rõ như thế, nên các bài viết của Nguyễn Trường về nhiều vấn đề, nhiều tác phẩm của đồng nghiệp vừa chi tiết, vừa khái quát, vừa sinh động, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, vừa làm nổi bật đối tượng mà người viết đề cập. Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Văn nghệ, Nguyễn Trường đã khẳng định: “Nhà văn tồn tại nhờ tác phẩm, do đó phải học hỏi, tích lũy vốn sống, vốn kinh nghiệm, khổ công sáng tác mới có tác phẩm có giá trị” (tr. 18). Điều này cũng rất đúng với việc viết phê bình văn học của tác giả. Nhà văn do đọc nhiều, tích lũy kiến thức lí luận văn học, nghiền ngẫm những gì đã tiếp nhận một cách kĩ lưỡng nên có thể bàn về nhiều vấn đề của văn chương. "Trường ca cần những gì?", "Quan hệ của người viết và người đọc", "Sức mạnh của nghệ thuật", "Nguyên mẫu và nhân vật", "Triết luận từ những ẩn dụ", "Truyền thống và cách tân", "Sự thật và hư cấu", "Tình huống trong truyện ngắn", "Giọng điệu trong tác phẩm", "Sự hồn nhiên trong thơ"… Bài viết nào không ít thì nhiều cũng có những phát hiện mới mẻ, thú vị, giúp người đọc hiểu sâu hơn về tác phẩm, tác giả, hoặc vấn đề được xem xét.

Nhà văn viết phê bình đã thẳng thắn chỉ ra việc tác giả của bộ "Kim Bình Mai" đã sao chép 3 hồi, gần 100 trang của bộ "Thủy Hử" (Tứ đại kì thư cũng giống nhau). Những bài viết về các nhà văn như Trúc Phương, Đỗ Viết Nghiệm, Nguyễn Vũ Tiềm, Nguyễn Khoa Đăng, Triệu Xuân, Nguyễn Đắc Xuân, đều công phu, chi tiết về tư liệu, cộng với quan hệ thân thiết, quý trọng, đem đến những thông tin mới mẻ, hữu ích về đóng góp của mỗi nhà văn. Riêng với nhà văn Nguyễn Khải, một đàn anh, một bậc thầy mà Nguyễn Trường “học được ở ông những chỉ bảo vô cùng quý báu về nghề viết văn”, tác giả đã dành cho ông bài “Lưu lại một chút tình”. Bài viết đã kể lại bài học về thâm nhập thực tế - “chịu khó tìm hiểu, chịu khó lắng nghe và ghi chép lại” và “phát hiện ra vấn đề từ gợi ý thực tế đời sống, đó chính là tư tưởng”. Nhờ đọc kĩ 8 tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Khải để tái bản, Nguyễn Trường phát hiện “Văn ông ông thông minh bởi hay triết lí, triết lí từng câu, từng đoạn, từng chương khá sâu sắc. Văn Nguyễn Khải hay ở tầm tư tưởng”. Trong bài viết này cũng cho thấy tình cảm đẹp giữa hai người bạn viết vong niên “Mà hơn cả bạn vong niên, ông là người anh lớn, người thầy đầu tiên”.

Với tinh thần khiêm tốn, trước một tác phẩm đã từng được chọn đưa vào sách giáo khoa, Nguyễn Trường thẳng thắn chê những điều chưa thuyết phục. “Phần mở đầu của truyện kể về anh chàng trưởng phòng là thừa, phần kết thúc gần như lặp lại những gì đã kể ở giữa truyện”; “Ngoài ra còn một số tình tiết chưa thuyết phục”, “Tác giả không hiểu tâm lí vợ chồng, thường chồng đánh vợ xảy ra những lúc giận lắm, nóng lắm, bộc phát, bất ngờ, không ai đánh vợ chờ đến lúc lên bờ mới đánh” (Đọc lại “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu). Phải tự tin và bản lĩnh mới có thể chê một cách thuyết phục như thế!

Bàn về tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Trường chọn phân tích kĩ truyện “Sang sông”, “Tướng về hưu” và “Muối của rừng” rồi chỉ kể tên 5 truyện khác là “Tâm hồn mẹ”, “Chảy đi sông ơi”, “Con gái thủy thần, “Phẩm tiết”, “Bài học nông thôn”… Có lẽ tác giả muốn dành cho bạn đọc tự chiêm nghiệm tình huống của các truyện đó, chứ không nói hết…

Nguyễn Trường là người viết truyện ngắn và tiểu thuyết thành công, có thương hiệu. Đó là một điểm thuận lợi cho tác giả khi phê bình mảng văn xuôi. Các tập truyện ngắn, tiểu thuyết, các nhà văn viết văn xuôi được tác giả đề cập khá chi tiết. Từ tiểu thuyết Lịch sử đến tiểu thuyết tư liệu, từ tiểu thuyết ngắn đến tiểu thuyết trường thiên 8 tập gần 2000 trang khổ lớn…Bài viết nào tác giả cũng đưa ra những nhận xét đánh giá tin cậy, thuyết phục người đọc. Về tiểu thuyết “Cõi nhân gian” của Nguyễn Phúc Lộc Thành, Nguyễn Trường đánh giá “vô cùng hấp dẫn”, “Cuốn hút người đọc say mê đến quên ăn quên ngủ. Cứ thế kéo dài đến hết 8 tập”. (Có lẽ “quên ăn quên ngủ” là một cách nói ví von để gây ấn tượng, song tôi đã từng đọc và viết bài về tiểu thuyết này, tôi xác quyết rằng đó là một cuốn sách rất hấp dẫn và cuốn hút!). Cũng có ý kiến này khác tiêu cực về tiểu thuyết “Cõi nhân gian”, nhưng Nguyễn Trường khẳng định: “Kì lạ thay tác giả mô tả nó như nó vốn thế, không lên gân, không bới móc, không hằn học, tất cả cũng vì cái tâm trong sáng, muốn xã hội ta thay đổi để đất nước tốt lên, tươi sáng lên của một người nặng lòng vì quê hương đất nước. Đó cũng là cái tài nâng lên tầm nghệ thuật của tác giả “Cõi nhân gian”.

Không thấy thống kê tập thơ nào của Nguyễn Trường đã in. Nhưng tác giả viết khá nhiều về các tập thơ. Các bài đó chứng tỏ tác giả cũng rất am hiểu về nghệ thuật thơ ca, có con mắt xanh khi đánh giá. Viết phê bình tập thơ, cái khó nhất là chỉ ra nét khác biệt về giọng điệu, thi tứ, thi ảnh… và phải chỉ ra được những câu thơ hay, những câu thơ ấn tượng. Chắc chắn việc nghiền ngẫm các tác phẩm lí luận về thơ của nhà thơ tài hoa Nguyễn Vũ Tiềm: "Đi tìm mật mã thơ", "Tiếp cận mật mã thơ", đã cho Nguyễn Trường tự tin khi đánh giá các tập thơ. Người viết chỉ ra giọng điệu mới mẻ, cách diễn đạt khác lạ, nhất là các câu thơ hay khá thuyết phục.

Tuy vậy, hình như trong sự cảm nhận, có đôi khi Nguyễn Trường “thái quá” một cách hồn nhiên, khiến người đọc phân vân. Đó là khi viết về Nguyên Hùng, Nguyễn Trường phóng bút khen “một rừng câu thơ hay”, (Cũng có thể tác giả dựa vào triết lý của chữ Hán, hai chữ “mộc” thành chữ “lâm”, chỉ hai cây thành rừng, rừng câu thơ hay có khi chỉ là hai câu thơ hay?) (tr. 123). Thơ Trần Mạnh Hảo nhiều bài hay và ấn tượng, nhưng đánh giá: “Tập thơ gần 600 bài, từ thơ tứ tuyệt đến trường ca, bài nào cũng tuyệt đỉnh” ( tr. 219) thì thật là dễ dãi cũng “tuyệt đỉnh” luôn. Một ví dụ khác về thơ của Nguyễn Thị Hồng. Người viết có ấn tượng mạnh như lời thuật “không bỏ sách xuống được, bởi lòng dạt dào cảm xúc”. Nhưng có lẽ vì “quá cảm xúc” nên khi đánh giá bài thơ “Lá cỏ” người viết đã hào phóng khen tặng “Ôi tận cùng tinh tế!”. Rồi bài thơ “Lời tượng nhà mồ” mà được vinh danh “Một trong những bài thơ hiếm hoi hay nhất về Tây Nguyên”. (trang 286). Đã hiếm hoi (không nhiều, rất ít), lại còn hay nhất (đỉnh của chóp)! Khó mà đồng ý với người đánh giá!

Trong bài trả lời phỏng vấn do Thu Lam thực hiện, nhà văn Nguyễn Trường bộc bạch: "Chính quá trình đi lên, học hỏi, tích lũy kiến thức, đã cho tôi bản lĩnh, viết kỹ càng hơn, sâu sắc hơn hồi tôi còn trẻ". (trang 68). Đó là nói về công việc sáng tác nói chung. Riêng về lĩnh vực phê bình văn học, do chịu khó đọc, chịu khó tích lũy, chịu khó viết, nên ngòi bút phê bình của Nguyễn Trường ngày càng chín chắn, chững chạc. Bên cạnh nhà văn Nguyễn Trường giàu thành tựu, chúng ta có thêm một Nguyễn Trường phê bình văn học. Thật đáng quý vì người viết phê bình văn học luôn là số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn!

V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm