TIN TỨC

Triết lý và trữ tình trong thơ - sự thống nhất trong đa dạng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-23 12:11:17
mail facebook google pos stwis
2561 lượt xem

GS.TS HỒ SĨ VỊNH

Khi nói đến triết lý trong thơ, tôi nghĩ tới triết học đời sống, một triết thuyết ra đời từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX1, gắn liền với sự phát triển khoa sinh học, tâm lý học.

Quan điểm trung tâm của triết thuyết này cho rằng, đời sống không chỉ nhận thức bằng tư duy lôgích, lý tình mà còn biết được nhờ trực giác, cảm xúc, chủ yếu là cảm xúc tôn giáo… Triết lý hình thành, được vận dụng vào sáng tạo nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật thơ ca.

Ở phương Đông, thơ triết lý hình thành từ sớm, trên cơ sở triết học kinh dịch, lý thuyết âm dương - ngũ hành. Trong Kinh thi với 305 bài thơ được xuất hiện từ đầu thời Tây Chu cho đến giữa Xuân Thu (các thế kỷ 11-6 trước CN) với nội dung ngụ ý khuyên răn đạo lý, ca ngợi công đức vua hiền, phê phán những hiện tượng đen tối dưới hai triều vua Lê Vương và U Vương. Theo truyền thống văn hóa Á Đông, triết học không có mục đích làm gia tăng kiến thức, mà chỉ nâng cao giá trị tinh thần, nhằm đạt tới cái cao khiết của tư duy, cái hoài vọng của tình cảm. Thơ một câu (3) (thường là ba chữ) ra đời từ đó, tức là thơ được viết trên các bức hoành phi. Đặc điểm của nó là khái quát một châm ngôn, đúc kết một triết lý, mang tính giáo lý cao. Những câu thường gặp: Phúc mãn đường (phúc đầy nhà); Phúc lai thành (phúc sẽ tạo nên); Hòa vi quý (có yên ổn mới được phú quý); Hải đức sơn công (công đức như biển rộng núi cao); Thọ tiến khang kỳ (chúc mạnh khỏe, sống lâu) v.v....

Câu đối cũng là một loại hình thể hiện văn chương triết lý độc đáo, chỉ có ở các nước Hán ngữ; còn câu đối hai vế, theo giáo sư Phan Ngọc “chưa tìm thấy ở đời Đường và đã có ở thời Tống”. Về cấu trúc hai vế tương quan diễn tả một nội dung (đối xuôi) hoặc hai vế có nội dung tương phản (đối ngược) theo quy quy tắc thanh đối thanh; ý đối ý; từ đối từ; với biện pháp tu từ, kết cấu cú pháp để đạt lời hay, ý đẹp. 

Câu đối thường mang triết lý và giáo lý. Câu đối đề tài đền Hùng của giáo sư Vũ Khiêu:

Đất nước, bốn nghìn năm,

nhân ái còn tuôn dòng sữa mẹ;

Đàn con, bảy chục triệu, anh hùng chẳng thẹn tấm lòng cha.

Một câu đối thường treo ở các gia đình khá giả:

Tổ tiên công đức thiên niên thịnh;

Tử hiếu, tôn hiền, vạn đại xuân

*

Vậy, triết lý trong thơ có những đặc điểm gì? Và mang lại cho người đọc những lợi ích gì?

Vũ trụ và thiên nhiên, tiên giới và trần gian, xã hội và con người, không gian và thời gian là những khái niệm vừa hư vừa thực đòi hỏi thế giới quan của nhà thơ năng lực biến dịch, cảm quan biện chứng. Thế giới quan của nhà thơ là hệ thống quan điểm về những hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người; theo đó là quan điểm triết học, chính trị, đạo đức, mỹ học, khoa học, tôn giáo. Nó phản ánh sự tồn tại vật chất và ý thức về một thể chế chính trị nhất định, một giai đoạn lịch sử nhất định; nó là phạm trù động, mở cửa tầm nhìn, thái độ đối với sự vật, sự kiện muôn màu, đa sắc. Thiên tai, bệnh tật, sức sống, cái chết, danh vọng, cái đẹp, sự cô đơn thường là đầu đề triết lý của nhà thơ. Muốn viết về đề tài gì thì nhà thơ chỉ có một chỗ đứng: giữa cuộc sống xã hội, một tầm nhìn hướng về trung tâm con người, khi đó mới đúc kết được triết lý sống. Khác đi, con người đứng ngoài xã hội, bên lề lịch sử...

Trong thơ Việt Nam hiện đại viết về đề tài Tổ quốc, Đất nước, lãnh tụ, thiên nhiên, người phụ nữ Việt Nam, các nhà thơ để lại những trang thơ vừa đạt tầm triết lý, vừa mang cảm xúc dạt dào của người nghệ sĩ. Trong số đó cần tôn vinh thể loại trường ca: Sáng tháng năm, Nước non nghìn dặm, Mặt đường khát vọngNguyễn Văn Trỗi, Trường ca sư đoàn, những ngọn sóng mặt trời, Sức bền của đất, Đường tới thành phốBài ca chim Ch’rao v.v... Một trong những vần thơ tôi thích là chương Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Đất nước hiện ra dưới cảm hứng chủ đạo của ông là những hiện tượng đời thường được cá thể hóa Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm/ Đất nước là nơi ta hò hẹn/ Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn, trong nỗi nhớ thầm, những sự kiện lịch sử được “vay mượn” chất liệu dân gian với biểu hiện: chim phượng hoàng, cá ngư ông, với quốc hiệu thời nguyên thủy: Chim và Rồng: Đất nước nơi Chim về/ Nước là nơi Rồng ở đã làm nên dáng hình Đất nước: có hạnh phúc và cay đắng, đoàn tụ và san sẻ, biết hóa thân và không quên tri ân người đi trước v.v... tạo nên triết lý: Niềm tin. Có niềm tin sẽ trở thành sức mạnh. Đoạn thơ cuối của Trường ca: Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật; - Đất đai cỗi cằn, thì người sẽ nở hoa/ Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa/ Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa/ Thì tin yêu ngay thẳng đón vào. Niềm tin thường có hai chiều. Có tin yêu chân thật, thì được đáp trả bằng niềm tin chân thật!. Văn hóa phương Đông thiên về hướng nội. Chữ Tín nằm trong ngũ thường, được các bậc tiền nhân tiếp nhận có chọn lọc để giáo dục đạo đức và phương thức ứng xử. Chữ Tín được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng thành phẩm chất thứ hai (Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm) của đạo đức cách mạng. Đủ biết chữ Tín trong quan hệ giữa lãnh đạo và người dân hệ trọng biết chứng nào… Nếu nói thơ là thái độ sống, tỏ rõ nhân cách văn hóa của nhà thơ đối với thời cuộc, có thể xem đoạn thơ trên của Nguyễn Khoa Điềm có dụng ý cho cả hôm nay, khi mà thực trạng xa dân, thiếu sự tin cậy giữa chính quyền và người dân.

Đọc Đất nước của Nguyễn Đình Thi, các nhà phê bình thường trích đoạn hai. Hai câu đầu: Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác heo may tả cảnh mùa thu thời chinh chiến dừng lại ở nghĩa biểu hiện; còn hai câu sau: Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng rơi đầy, tự nhiên tôi bị ám ảnh bởi người chiến sĩ Hà Thành ấy đã ra đi, bỏ lại mẹ già, chị, em thân thuộc để theo đuổi chí lớn trong Tống biệt hành của Thâm Tâm. Đoạn thơ đó nói lên triết lý của người chiến sĩ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến xâm lược, có phần nào đó lý tưởng “yên hùng”- một môtíp của lớp thanh niên, học sinh xếp bút nghiên lên đường tranh đấu… Người ta thường nói, thi ca phản ánh lịch sử, nhưng thi ca triết luận hơn lịch sử bởi sự trường tồn của Nàng thơ, bất chấp sự thay đổi thế sự.

Triết lý trong thơ không chỉ dừng lại ở sử thi, anh hùng ca, trường ca, mà còn ở thơ trữ tình, thơ trào lộng, thơ tự bạch. Trong thơ Hồ Chí Minh, cảm hứng chủ đạo khi đứng trước thiên nhiên của Người bắt nguồn từ triết lý phương Đông: Thiên - Địa - Nhân; Thiên - Nhân hợp nhất. Suốt đời Người theo đuổi triết lý sống cao thượng, không màng danh lợi và của cải vật chất, lấy thiên nhiên làm bạn và đối tượng sáng tạo. Trong thơ Hồ Chí Minh có nhiều cảnh đẹp: Pác Bó hùng vĩ, cảnh rừng Việt Bắc, đêm đi thuyền trên sông Đáy v.v... có trăng nhòm cửa sổ, có chim rừng vào cửa đậu, có cảnh chơi trăng, có mặt trời đỏ và nhành hoa mai v.v... Ngay cả một hòn đá trước mắt nhà thơ cũng trở nên sinh động. Người liền nghĩ ngay đến sức mạnh của dân tộc: Hòn đá to/ Hòn đá nặng/ Nhiều người nhấc/ Nhấc lên đặng/ Biết đồng sức/ Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Làm cũng xong. Nhân bàn chuyện thân thiện với thiên nhiên, xin dẫn bài Cảm tưởng đọc thiên gia thi, chỉ bốn câu: Thơ xưa chuộng cảnh thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết phong. Chuộng thiên nhiên đẹp là cần thiết, nhưng chưa đủ. Nhà thơ dân tộc còn có “chất thép” - bản lĩnh cách tân và lý tưởng sáng tạo.

Ngôn ngữ thơ Tố Hữu phong phú và độc đáo, hào sảng và trữ tình, nét dáng truyền thống và không khí thời đại đã đi vào tâm thức và đời sống tinh thần của nhiều thế hệ, từ những văn kiện trang trọng của Nhà nước cho đến những lời ăn tiếng nói của nhân dân. Nói đến lý tưởng của tuổi trẻ chiến tranh giữ nước, người nói thường dẫn câu: Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai...../; đề cập kinh nghiệm sống của người nông dân, có câu: Bắt sỏi đá phải thành sắn gạo (Sáng tháng năm); nói đến chân lý ứng xử của người đời: Có gì đẹp trên đời hơn thế/ Người yêu người sống để yêu nhau (Bài ca xuân 1961); luận về triết lý sống, lúc thành công cũng có lúc vấp ngã: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại/ Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần (Dậy mà đi) hoặc sự lựa chọn cuộc đời lập thân, lập nghiệp: Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi? (Dậy lên thanh niên); triết lý giữa sự sống và cái chết theo quan điểm chủ nghĩa anh hùng thời chiến: Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/ Có những lời hơn mọi lời ca/ Có những người như chân lý sinh ra... (Hãy nhớ lấy lời tôi).

Thơ viết về biển của Hữu Thỉnh là bài thơ tự do, rất ngắn, dễ hiểu, dễ thuộc, tứ thơ không lạ, lạ nhất là cách “chơi chữ” từ nghĩa biểu hiện: biển - cánh buồm; chiều - màu tím, gió - vách núi - sóng chuyển dịch sang nghĩa nội hàm để nói lên triết lý; tình yêu chân thật bao giờ cũng có nhận  cho, có nhớ nhung  trách cứ, nhưng thủy chung, như sức sống huyền diệu từ hai phía theo lối tu từ: phủ định, giả định để xác định: Gió không phải là roi, mà vách núi phải mòn/ Em không phải là chiều, mà nhuộm anh đến tim/ Sóng chẳng đi đến đâu, nếu không đưa em đến/ Dù sóng đã làm anh/ Nghiêng ngả vì em.

Khi nghiên cứu thơ Nguyễn Trãi, Jacques Gaucharon viết: “Đối với Nguyễn Trãi thơ và lịch sử là một... hay nói cách khác, đã đến lúc lịch sử trở thành động lực của thơ và thơ trở thành động lực lớn”. Đó là trường hợp những câu thơ triết lý của Chế Lan Viên. Ngôn ngữ thơ của ông dường như ai cũng có thể nói được, có khi đã “bạc màu”, nhưng khi vào thơ lại có sự nhuần nhị giữa ý và lời, giữa “tia chớp” trí tuệ và nồng cháy của cảm xúc, thì câu thơ trở thành châm ngôn nhớ đời. Xin dẫn vài câu tâm đắc:

- Rút bài học kinh nghiệm lịch sử: Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt/ Mỗi con sông đều muốn hòa Bạch Đằng (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?); Cha ông xưa từng đấm nát tay trước của đời/ Cửa vẫn đóng và Đời im ỉm khóa...

Tri ân đức, tài, công của tiền nhân: Có được trái cây thơm, ta biết quý cả mùa lành (Người thay đổi đời tôi, người thay đổi thơ tôi).

- Sự đa tình, đa cảm của tình yêu: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương (Tiếng hát con tàu); Thiếu cả gia đình ngay giữa đất quê hương (Kết nạp Đảng trên quê mẹ).

- Kỳ vọng về sự tu dưỡng điều thiện: Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm (Tổ quốc...)

Tuyên ngôn thơ của một nhà thơ công dân: Ta để ra đời sao khỏi những cơn đau?/ Hãy biết ơn vị muối của đời cho ta chất mặn! (Tổ quốc...)

*

Bên trên, chúng tôi có nói đến triết lý trong thơ tự bạch. Ngay cả lúc trách móc đáng yêu, cười cợt, tự trào, thì đằng sau những câu thơ trào lộng kia của Hồ Xuân Hương, của Tú Xương, người đọc thấy cả một tấm lòng nhân hậu, thủy chung, một triết lý thâm trầm, rất người: Chuyến đò nhân nghĩa sao không nhơ!/ Sang nữa hay là một chuyến thôi? (Qua sông phụ sóng): Hai câu này còn có nghĩa đen thâm thúy theo phong cách nhà thơ trào lộng họ Hồ. Hoặc ở Tú Xương, khi suýt phải mất ô, lúc ra khỏi rạp hát: Sợ khi rày gió mai mưa/ Lấy gì đi sớm về trưa với tình (Đi hát mất ô). Trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp ở chương Tỷ và Hứng khuyên nhà thơ muốn đẩy tình cảm trỗi dậy thì phải dựa vào cái vi diệu so sánh. Lời thơ súc tích, sung mãn mãi mãi có lời thơ “có cánh” với nghĩa đen và nghĩa hàm.

Thơ hay không phải độc quyền của thơ triết lý. Người làm thơ nào cũng thích mình nổi tiếng, nhưng nổi tiếng có khi trở thành gánh nặng, nếu không biết “tri túc”. Nổi tiếng không phải là mục đích. Mục đích của thơ ca là đi vào cõi đời, lòng người. Không xuất phát từ chất mặn của đời, thì thơ anh (chị) vẫn bị công chúng lạnh nhạt. Hiện tượng phi thơ, mạo nhận thơ, thơ không cần ý, không cần nghĩa, là “bóng chữ” v.v... tôi hoài nghi, dù đó là ai. Ai đó đã nói đúng: Cái tôi trở về mạnh mẽ, dữ dội quá, nên thơ khó hiểu, tắc tỵ. Không hiểu thì nói gì đến cảm!? Nói chuyện thơ với bạn đọc, từ trải nghiệm của nhiều nhà thơ yêu nước thời trung cận đại nổi lên dòng chảy nhập thế đau đời trước cảnh đất nước lâm nguy, tất cả họ đều có chung một cảm hứng tương đồng: Vừa không màng danh lợi, vừa đau đáu nỗi lo dân. Truyền thống triết lý của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) với tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi; được Nước nên biết chỗ được Dân... đến Đặng Huy Trứ (1825-1847) thì chân tâm hay quyền biến, nếu có lợi cho dân: Dân không chăm sóc, chớ làm quan.../ Muốn dân được lợi cần quyền biến/ Tội vạ riêng mang hả sợ gì?/. Ngay từ thời kỳ thực dân Pháp cướp nước, vua quan hèn nhát đầu hàng giặc, nhà thơ công dân đã tung ra những vần thơ triết lý: Tâm bút phương tri bút hữu quyền (1863) (cầm bút nên hay bút có quyền). Chống lại kẻ tà đạo, lũ bất lương tham nhũng, phụng sự nhân dân bị áp bức chính là quyền lực của nhà thơ.

______

1. Thật ra, triết lý được dùng từ thời cổ đại Hy-La. Theo nhà nghệ thuật học Elie Faure, trong cuốn Histoira de l’Art Antique gọi điêu khắc cổ điển là nền điêu khắc triết lý; Con người chế ngự được dục vọng, dấu hiệu sức mạnh nội tâm, sự thanh thản tâm hồn ở vị Thần mới có, giàu tính nhân bản.

Nguồn Văn nghệ số 29/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm