TIN TỨC
  • Tư liệu văn học
  • Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”

Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-22 03:29:21
mail facebook google pos stwis
8 lượt xem

Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy, ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?

 

Đại thi hào Nguyễn Du & những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi” - ảnh 1

Có hay không chuyện tình giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương?

Cuộc đời sinh học của Nguyễn Du chỉ khiêm tốn có 55 năm từ khi ra đời năm 1765 tại phường Bích Câu Thăng Long (Hà Nội) đến khi tạ thế ngày 10.8 Canh Thân (1820) tại Phú Xuân (Huế). Cả ông, bà, cha mẹ Nguyễn Du đều sinh trưởng và lập nghiệp ở Tiên Điền (Hà Tĩnh) nhưng tổ nội sáu đời trước thì gốc gác ở Canh Hoạch, Thanh Oai, nay là Dân Hòa, Hà Nội. Gia đình Nguyễn Du là một gia đình có truyền thống học hành, khoa  bảng nổi tiếng cả nghiệp văn lẫn võ. Thân phụ và anh cả của ông cùng là tiến sĩ, cùng làm Tể tướng dưới triều Hậu Lê, nhiều người khác làm quan, làm thầy thuốc, dạy học, nghiên cứu địa lý, kinh dịch...

Nhưng riêng Nguyễn Du thì có những thăng trầm! Mười tuổi ông mất cha,13 tuổi mất mẹ, phải sống dựa vào các anh Nguyễn Khản, Nguyễn Điều và đến 15 tuổi thì sang Hải An, Thái Bình (nay là Hưng Yên) ở nhà ông Đoàn Nguyễn Thục, đồng liêu của cha và anh, sau này thành bố vợ Nguyễn Du. Nguyễn Du được tập ấm chức Chánh thủ hiệu (tương đương với chức Chỉ huy trưởng quân sự) ở Thái Nguyên nhưng đến năm 1786 vì lánh nạn Tây Sơn, ông lại về Thái Bình quê vợ. Đây là thời kỳ thơ ông viết Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán (Hồng Lĩnh không nhà, anh em tan tác)! Đây cũng là thời kỳ được xem là "mười năm gió bụi" của đời ông?

Năm 1795, vợ ông mất, ông đưa người con duy nhất là Tứ về quê Hà Tĩnh. Năm 1802, mùa thu, Gia Long diệt nhà Tây Sơn, lập nước và bổ nhiệm Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên), rồi Tri phủ Thường Tín (Hà Nội), rồi Cai Bạ, Quảng Bình (nay là Quảng Trị). Tháng 2.1813 đến tháng 4.1814, ông được giao Chánh sứ sang nhà Thanh, trở về được thăng Hữu Tham tri bộ Lễ (như Thứ trưởng ngày nay).

Ngày 10.8 Canh Thân (16.9.1820), Nguyễn Du mất ở Phú Xuân (Huế), sau một thời gian lâm bệnh. Năm Giáp Thân (1824) được cải táng đưa về Tiên Điền. Năm 1965, Hội đồng Hoà bình thế giới tổ chức kỷ niệm 200 năm sinh Danh nhân văn hóa Nguyễn Du. Năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) có nghị quyết tổ chức kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du vào năm 2015.

Điểm “mờ” trong “mười năm gió bụi”

Tóm tắt hành trình đời ông thì như thế, song chi tiết thì vẫn nhiều chỗ còn hồ nghi, còn những điểm mờ! Hiện có nhiều ý kiến băn khoăn: “Mười năm gió bụi” Nguyễn Du có thật ở 10 năm xứ Thái Bình quê vợ? Nguyễn tuổi trẻ, thân trai, có học thức chắc khó chấp nhận quẩn quanh nơi nhà vợ 10 năm? Thái Bình là vùng cửa biển, rất không an toàn vì hải tặc hay vào cướp phá! Ở 10 năm trời mà thơ viết về vùng này chỉ khoảng 6,7 bài khi ông là một tài năng thơ ca thì lý do quả là chưa thuyết phục? Thời gian Nguyễn Du làm Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên cũng không rõ ràng? Là Chỉ huy trưởng quân sự, ông làm gì khí Tây Sơn tấn công, rồi lại có tin ông trở về quê vợ? Lại có một giả định, Nguyễn Du từng có một hành trình riêng trong vai lữ khách, nhà sư, thầy thuốc... đi lên phương Bắc, bởi có rất nhiều bài thơ ông viết về cảnh vật, con người, sự kiện của Trung Hoa hoàn toàn không trùng với con đường đi sứ năm 1813 sau này?

Còn nữa, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương gặp nhau lúc nào? Chuyện tình của họ trong ba năm ra sao mà thơ Xuân Hương lại đầy ẩn ức? Cuộc sống riêng của Nguyễn Du ra sao với người vợ tao khang và những người con luôn trong tình trạng đói dài "thập khẩu hài nhi thái sắc đồng"? (Mười miệng ăn của trẻ mặt xanh như tàu lá).

Về thái độ chính trị, Nguyễn Du có chống Tây Sơn không? Có nét rất lạ về gia đình ông? Cha anh ông là Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản…, đều là những người tận tâm phò Lê - Trịnh. Một anh nữa, Nguyễn Quýnh còn ra mặt chống Tây Sơn nên làng Tiên Điền bị làm cỏ tan hoang! Nhưng một anh khác, Nguyễn Nễ (Đề), rồi anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, cháu ruột là Nguyễn Thiện thì lại tận tâm phục vụ Tây Sơn? Còn riêng Nguyễn Du thì làm quan một cách âm thầm dưới triều Gia Long và nổi tiếng là một trong An Nam ngũ tuyệt với ông cháu tri âm là Nguyễn Hành nổi danh tài tử?   

Thơ văn Nguyễn Du để lại không ghi thời gian sáng tác, qua thơ ông ta chỉ biết ông từng đi, từng sống nhiều nơi, chứng kiến rất nhiều cảnh đời, cảnh người và suy ngẫm rất sâu về nhân tình thế thái, gửi gắm rất nhiều tâm sự riêng chung.

Thử làm một thống kê, ta thấy Nguyễn Du đã từng ở rất nhiều vùng không gian mà thơ ông đề cập. Ở Việt Nam là Thăng Long nơi sinh, ở Tiên Điền, Hoa Thiều quê cha, quê mẹ Bắc Ninh cũng là nơi chị gái và em trai ông lấy chồng, lấy vợ, lập nghiệp. Ông còn ở Thái Bình quê vợ, ở Thái Nguyên, Hưng Yên, Thường Tín, Quảng Bình, Huế thời làm quan... Dấu chân ông in khắp từ Lạng Sơn vào đến Huế.

Ông giao tiếp với rất nhiều hạng người, lớp gần gũi như cha mẹ, anh em, vợ con, lớp bạn bè đồng liêu, yêu thích văn chương không kể tuổi tác như Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hành hay cả gia đình họ Nguyễn Huy bên Trường Lưu. Từ nhỏ ông còn được các vị quan to như Hoàng Ngũ Phúc thân mật tặng kiếm, Nguyễn Du tiếp xúc với nhiều tăng ni, phật tử và hiểu biết về Thiền, ông đi sứ chắc cũng tiếp xúc với nhiều đại sứ nước ngoài, được diện kiến vua Thanh.., nhưng hơn hết ông đã được gặp gỡ với rất nhiều quần chúng vô danh, những người dân lao động trên cuộc hành trình tự nguyện ấy. Có lẽ, so với người cùng thời, Nguyễn Du đã có được một vốn kiến văn cực kỳ phong phú để bổ trợ cho những công trình ông sẽ cho ra đời.

Không biết bắt đầu từ lúc nào, ngày tháng nào, thơ Nguyễn Du đã đề cập tới hành trình đến Trường An qua nhiều di tích kim cổ? Ông có qua sông Mịch Giang không, có qua Lỗi Dương,Thanh Liên không mà thơ ông nhắc đến Khuất Nguyên, đến Văn Thiên Tường, đến Đỗ Phủ, Lý Bạch.., với đầy đủ những cảm thông, trăn trở, vui buồn?

Ông đã không ít lần nói lên những điều mà chưa ai nói. Chẳng hạn, ông phê phán Tống Ngọc gọi hồn Khuất Nguyên về! Về làm gì khi mặt đất toàn cọp beo hùm sói!? Đứng trước Đài đá chia kinh, một biểu tượng của tinh thần sùng Phật của cha con Lương Vũ đế, ông ngộ ra điều: Ấy là sự u mê, mù quáng tầm thường của con người, là một tín điều vô nghĩa.

Còn nhiều nữa, Nguyễn Du có phê phán, song ông cũng rất trân trọng nâng niu. Ông sùng kính một nhân cách bất khuất như Nhạc Phi, đức độ như Bùi Độ, cảm thương với bi kịch của Dương Quý Phi.., là những người Trung Quốc nổi danh.

Ông cũng không quên bày tỏ những cảm thông với những thân phận tha hương quyết không chấp nhận chính quyền mới, vẫn cố gắng gìn giữ bản sắc của mình: "Áo mũ người già còn kiểu Hán/Lịch năm trong túi chẳng theo Tàu" (Sơn thôn - bản dịch), kiên định sự bất hợp tác!

Cứ thế, những bài thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về Trung Hoa luôn bộc lộ được cái tình của con người vượt ra một không gian cụ thể rồi hướng tới một cái kết là gắn với cảm hứng tiêu dao: "Xoã tóc cuồng ca dạo bước chơi/Bãi sau lộng gió nắng tàn rồi/Mây bay nước chảy còn đây mãi/Âu giỡn chài câu cứ thảnh thơi" (Thôn dạ - bản dịch).

“Tiếng thơ ai động đất trời”

Nói về giá trị nhân văn, tiếng thơ Nguyễn Du là những tiếng đồng cảm sâu sắc với số phận các kiếp người. Cả một trường thiên Văn chiêu hồn ông không chỉ đề cập tới thập loại chúng sinh chết yểu mà gọi tên rất nhiều, rất đủ các hạng người.

Đặc biệt, Nguyễn Du nhiều lần viết về người phụ nữ và dành nhiều cảm thông, nhiều nỗi yêu thương. Không có sự cảm thông sâu sắc này ông không thể xây dựng được một nàng Kiều với đầy đủ các cung bậc của nỗi khổ. Hạnh phúc tối thiểu của người phụ nữ là có chồng, có con, chí ít cũng có một trong hai thứ đó. Nhưng Kiều thì hoàn toàn không có gì!

Với một cảm thông sâu sắc như thế, Nguyễn Du đúng là người "có con mắt trông suốt sáu cõi và tấm lòng nghĩ đến muôn đời". Nguyễn Du đã nói tới những vất vả đau thương của con người trong kiếp phong trần bằng một tổng kết đầy trắc ẩn: "Bắt phong trần phải phong trần/Cho thanh cao mới được phần thanh cao". Đây cũng là một trăn trở nhiều bế tắc, có điều tác giả viết rất hay, rất sâu nên rung động lòng người.

Đọc Truyện Kiều, hầu như ai cũng bắt gặp một chút thân phận mình trong đó nên tác phẩm của Nguyễn Du được người đời sùng kính, được đưa ra để giải đáp, để bói như là một cách giải quyết những ẩn ức của mình. Chính vì thế mà có học giả đã nhận xét một cách chính xác rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn". Tiếng ta còn, nước ta còn chính là khẳng định cái bản sắc Việt bền vững của văn hóa Việt Nam vậy.

Nhiều thế hệ Việt Nam đọc Truyện Kiều đều rất chú ý tới nhận định của các học giả trong và ngoài nước, chú ý tới các đánh giá ở những bộ từ điển nổi danh, nhưng có thể ít người biết tới lời đề từ cho tác phẩm này của Đoàn Nguyễn Tuấn, người đồng thời và là anh vợ Nguyễn Du và cũng là người có nhiều ảnh hưởng với ông. Lời đề từ rất súc tích: "Từ đàn lệ ngữ/Duyên các kiều tình/Kiến kiếm bất kiến nhân/Thần hồ kỳ hĩ/Thái hoa nhường mật/Tân khổ vi thùy/Thi phong khởi ngữ/Diệc lãnh đố ngữ" (Lời đẹp chốn văn đàn/Tình hay nơi khuê các/Thấy kiếm chẳng thấy người/Thần kỳ như võ thuật/Hái hoa để ủ mật/Khổ sở biết vì ai/Cất lời văn nổi gió/Đố kỵ phải chịu lơi"(Nguyễn Tiến Đoàn dịch).                               

Truyện Kiều còn được khẳng định là mang tính nhân loại rộng lớn bởi con mắt và tấm lòng tác giả "khi hướng tới các khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, quyền con người, giá trị gia đình, yêu cầu bình đẳng giới và truyền thống văn hóa Việt " như lời phát biểu của bà Katherine Muler Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam phát biểu trong Lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du tại Việt Nam. Truyện Kiều đã trở thành một của tin, một lòng tin, như cách Tổng thống Mỹ Obama khi trích đọc câu thơ Nguyễn Du: "Của tin gọi một chút này làm ghi".

Hành trình của Nguyễn Du là một hành trình của một tâm hồn trĩu nặng yêu thương, của một con người luôn gắn bó tình đời, tình người sâu sắc. Tiếng thơ Nguyễn Du "động đất trời", là " lời non nước","lời ngàn thu", là "tiếng thương", là "tiếng mẹ ru.., như cách nói của nhà thơ Tố Hữu, nên thơ Nguyễn Du mới có một sức sống mãnh liệt và tràn trề như thế.

Nhưng, ta cũng biết, có được những đóng góp cho muôn đời như thế, Nguyễn Du của chúng ta đã phải gồng mình đến độ nào để có thể trút hết năng lượng cho thơ?

Xin lấy một câu thơ của thi sĩ Tản Đà diễn tả cho nhận xét này. Tản Đà viết: Đường xa, gánh nặng, trời chiều/Cơn giông, biển lớn, mái chèo, thuyền nan! Không gian thì rộng lớn và xa lắc, thời gian thì đã tối đến nơi, biển lớn nổi giông tố, gánh vác thì nặng nề, một mái chèo đơn côi, mảnh thuyền nan bé nhỏ..., thế mà vẫn gắng gỏi, làm hết sức mình! Đúng là một tự nguyện, một hi sinh của một tâm hồn thánh thiện. Nhưng, chấp nhận hành trình này thì Nguyễn Du của chúng ta thành bất tử, trường tồn.

Hoàng Khôi - Hội Kiều học Việt Nam

Nguồn: Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến nay
​Tóm tắt: Trải qua 40 năm Đổi mới, tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã phát triển mạnh mẽ, liên tục có sự đổi mới về nhận thức: từ nhìn nhận văn hóa là lĩnh vực tư tưởng đến xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đảng ta đã đưa ra quan điểm, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tập trung xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học gắn với hệ giá trị gia đình Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng với hệ giá trị quốc gia, để văn hóa, con người sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Xem thêm
Đặng Thùy Trâm đã hóa thân vào mùa xuân đất nước
Gần 20 năm kể từ ngày đầu tiên vở diễn về bác sĩ Đặng Thùy Trâm ra đời, NSƯT Huy Thục ngồi điểm lại bao lần rơi nước mắt ở nơi in dấu chân của chị. Rồi ông kể những câu chuyện kỳ lạ mà ông cho rằng: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm rất linh thiêng! Nhà thơ Thanh Thảo thì tâm sự, mong nơi chị hy sinh sẽ xây dựng một đền thờ để đón du khách, vì chị rất linh thiêng, chị đã hóa thân vào đất nước.
Xem thêm
Cảm hứng từ trò chơi dân gian Việt qua bộ phim “Báu vật trời cho”
Lấy cảm hứng từ các trò chơi dân gian Việt Nam để thiết kế hình ảnh quảng bá phim chiếu Tết là nỗ lực sáng tạo từ bộ phim Báu vật trời cho của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim sẽ ra rạp vào mùng 1 Tết Bính Ngọ (17/2).
Xem thêm
“Ngọn gió” chính sách cho văn học Việt vươn xa
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động sáng tác, quảng bá và phổ biến văn học Việt Nam trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Phan Bội Châu - người “đốt đuốc giữa ban ngày”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi của họ vượt khỏi khuôn khổ thời gian, trở thành ngọn lửa soi sáng cho nhiều thế hệ sau. Một trong những ngọn lửa ấy là Phan Bội Châu – nhà cách mạng lỗi lạc, người mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20.
Xem thêm
Kiến tạo nền tảng văn hóa số
AI đang thay đổi cách sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bên cạnh những cơ hội, AI cũng đặt ra thách thức về quyền tác giả, đạo đức nghề nghiệp và vai trò con người trong sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để xây dựng văn hóa sáng tạo có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Xem thêm
Thi ca – Nhịp cầu nhân văn kết nối Việt Nam & Palestine
Sáng ngày 17/12/2025, tại Hội trường A – Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra chương trình “Gặp gỡ thi ca Việt Nam – Palestine”, một sự kiện văn học quốc tế đặc sắc mang đậm tinh thần nhân văn và liên văn hóa.
Xem thêm
Hơn hai thế kỷ vẫn nghe tiếng Nguyễn Du
Hơn hai trăm năm đã trôi về phía sau lịch sử nhưng tên tuổi Nguyễn Du vẫn như ngọn hải đăng soi rọi vào đời sống tinh thần dân tộc. Từ những nếp nhà cổ ở Tiên Điền, đến các giảng đường văn chương, từ câu hát ru của người mẹ đến những trang sách mỏng lật qua tay lớp trẻ, bóng dáng người thi sĩ bạc mệnh vẫn hiện hữu, lặng lẽ mà bền bỉ.
Xem thêm
Những bài thơ khắc trong hang động: Nét đẹp văn hóa xứ Thanh
Vẻ đẹp của quê hương Xứ Thanh từ xa xưa đã từng được khắc họa bằng những bài thơ của các bậc vua, chúa và tao nhân mặc khách đến với quê hương xứ Thanh như muốn gửi lại muôn sau điều tâm đắc về mảnh đất này.
Xem thêm
Đi tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Một hành trình nghiên cứu công phu, giàu tâm huyết, góp phần giải mã thêm bí ẩn cuối cùng của Hồ Xuân Hương – người phụ nữ tài hoa trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Xem thêm
Hành trình tri ân và sáng tạo của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh (phần 1)
Trong chuỗi hoạt động thực tế sáng tác năm 2025, Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, làm Trưởng đoàn, đang thực hiện chuyến đi mang chủ đề “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” (từ ngày 17 đến 25/10/2025).
Xem thêm
Những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam
Tóm tắt: Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam chính là đặc điểm nổi bật, thuộc tính riêng của nền văn hóa khi ta đặt nó so sánh với các nền văn hóa khác trong khu vực và quốc tế. Vận dụng cách tiếp cận địa lý - lịch sử, những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh thành quả lao động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, gồm: Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ở miền sông nước và biển đảo; đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống; đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã; thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc; đề cao nữ quyền; trọng nông, xa rừng, nhạt biển; đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng; nền văn hóa mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
Xem thêm
Thiên hạ đệ nhất hùng quan
Trên đường thiên lý, dọc từ Bắc xuống Nam, nếu hỏi nơi nào có biển cả, mây trời, núi rừng đẹp nhất thì câu trả lời của nhiều người, hẳn sẽ phải là: đèo Hải Vân - Hải Vân Quan. Đúng thế, đây là con đèo nằm trên quốc lộ 1 và làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế (phía Bắc) và Đà Nẵng (phía Nam).
Xem thêm
Đặc điểm của nhân vật tình báo trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam
Công cuộc Đổi mới (1986) do Đảng khởi xướng đã làm thay đổi diện mạo đất nước trên nhiều phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật. Tinh thần đổi mới và giao lưu văn hóa đã làm cho hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung, đời sống văn học nói riêng trở nên phong phú, đa dạng và sôi nổi. Trên văn đàn, các thể loại tiểu thuyết đua nhau nở rộ, trong đó, sự xuất hiện của dòng tình báo, phản gián là một hiện tượng đáng chú ý.
Xem thêm
Bài hát hiếm hoi về sự kiện lịch sử năm 1945 của dân tộc
Thầy giáo tiếng Anh trung học ở TP. HCM Bùi Khánh Nguyên đã sáng tác một ca khúc trang trọng mang tên “Bay lên những linh hồn” dành riêng cho dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh của Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2025).
Xem thêm
Mưa đỏ và khoảng lặng của tình yêu
“Mưa đỏ” đã tái hiện trận chiến 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị, nơi người lính vừa kiên cường vừa giàu tình cảm, nhưng những mạch tình yêu trong phim chỉ thấp thoáng, chưa đủ sức vang để cân bằng với khốc liệt chiến trường.
Xem thêm
Sân khấu cho người khiếm thị: Nơi kết nối tâm hồn
Mô hình sân khấu cho người khiếm thị không quá xa lạ với khán giả trên thế giới, thường được biết đến với thuật ngữ “accessibility performance” - biểu diễn tiếp cận, dịch vụ đáp ứng khả năng tiếp cận cho mọi người, bao gồm cả người khuyết tật.
Xem thêm
Linh thiêng và tươi đẹp nơi cột mốc Xà Xía
Hà Tiên là một miền đất xinh xắn, thơ mộng ở cuối trời Tây Nam của Tổ quốc. Miền đất biên viễn này rất ấn tượng, không rộng lớn lắm nhưng địa hình giống như một Việt Nam thu nhỏ. Nơi đây có đủ sông ngòi, hang động, đồi núi, đồng bằng, vũng vịnh, hải đảo… Bởi thế, từ lâu, người ta đã đồn đại, ví von cảnh đẹp ở Hà Tiên tựa như “thiên đường dưới hạ giới”, ngắm vui mắt mà “không chán trong lòng”.
Xem thêm
Thuần khiết và ám ảnh
Là một trong những tiếng nói nữ nổi bật của văn học đương đại Nhật Bản, Ogawa Yoko chạm đến độc giả bằng lối viết dịu dàng, thấm đẫm cảm xúc và chiều sâu tinh tế. Kết tinh thầm lặng chính là kết tinh trọn vẹn của chất văn ấy – thuần khiết, thầm lặng nhưng ám ảnh.
Xem thêm