TIN TỨC

Tuổi thơ, mùa bão lụt và quê hương thương khó

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-31 07:35:43
mail facebook google pos stwis
1252 lượt xem

PHẠM PHÚ PHONG – HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Dưới đây là câu chuyện của hai nhà giáo Phạm Phú Phong (Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế) và Huỳnh Như Phương (Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP. HCM) - hai người bạn văn gặp nhau ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu 60 năm trước ở hai vùng quê cách xa nhau nhưng cùng cảnh ngộ. Mùa đông năm Giáp Thìn 1964, miền Trung chìm đắm trong trận lụt lịch sử. Phạm Phú Phong quê ở Điện Bàn, Quảng Nam; Huỳnh Như Phương quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi chứng kiến những tàn phá dưới dòng nước lũ và nỗ lực của gia đình, làng xóm phục hồi sau trận lụt. Mười năm trước đó, năm 1954, những người thân của hai ông cùng từ giã gia đình lên đường đi tập kết, nay cũng là dịp nhớ lại một đoạn đời chia xa, đau buồn của quê hương.


PHẠM PHÚ PHONG: Trận lụt năm đó vẫn còn in đậm trong ký ức một đưa trẻ chưa tròn mười tuổi như tôi. Nước vào nhà tôi lúc nửa đêm, lặng lẽ như có sự rình rập từ mấy ngày mưa trước đó và lên rất nhanh. Đang ngủ say, nghe tiếng mẹ gọi dậy, tôi thò chân xuống đất đã thấy nước ngang mắt cá. Cả nhà dọn lương thực, đồ đạc, kê giường cao lên, nhưng chẳng bao lâu sau nước dâng ngập cả giường, tủ. Cha tôi lót ván trên xà nhà đưa cả gia đình lên đó. Tiếng kêu khóc của trẻ con, tiếng rống của trâu bò chen lẫn trong tiếng mưa đêm gào thét ào ạt thổi qua.

Xã tôi thời ấy có bốn thôn nằm vây quanh một cánh đồng rộng, giữa cánh đồng có mấy tòa nhà là đình Đông Bàn, nơi cụ Phạm Phú Thứ, người anh ruột của ông cố tôi, xây nên để ghi tên những người đỗ đạt, gọi là Văn thánh Đông Bàn. Xóm Đình của tôi lúc ấy chỉ có bảy, tám nóc nhà nằm bên cạnh đình, chung quanh là đồng ruộng. Ngôi nhà rung rinh theo từng cơn gió. Gió thổi mạnh làm tốc mái tranh, nhìn ra chung quanh, cánh đồng rộng mênh mông nước như biển cả, dòng nước cuồn cuộn cuốn theo bao nhiêu sinh linh, cả trâu bò, nhà cửa, cây cối...

Quê tôi là vùng đất nổi lên giữa sông Thu Bồn, gọi là Gò Nổi. Do sự sắp đặt của tự nhiên, con sông từ thượng nguồn về đến ngã ba Tư Phú rẽ thành hai nhánh, chảy đến Câu Lâu nhập lại thành một dòng, trước khi xuôi về Cửa Đại. Đây là đồng ruộng và vựa lúa của cả huyện, thuộc vùng trũng, gặp nạn đại hồng thủy, nước lút cả mái nhà, ngập đến ngọn tre. Ngồi trên trần nhà, nhìn ra bốn bề nước chảy xiết cuồn cuộn, cả nhà run rẩy mong manh trong những tấm áo len, áo tơi không đủ che mưa gió.

Là vùng nông thôn, dân cư thưa thớt, nằm tách biệt ngoài cánh đồng, nước lại dâng lên lúc nửa đêm, nên không ai kịp giúp đỡ ai được gì. Lẫn trong tiếng gào thét của mưa gió và nước cuốn, nghe tiếng kêu cứu của hàng xóm cũng đành bất lực. Nhà tôi không bị nước cuốn trôi, nhưng nước càng lâu rút thì càng dễ bị chết đói. Ngày đầu, cha tôi lấy dây thép treo cái thau làm bếp, rút tranh trên mái nhà nấu được nồi cơm nửa chín, nửa nhão. Giếng ngập, không có nước sạch, phải hứng nước mưa từ mái tranh để uống. Đến ngày thứ tư thì có máy bay trực thăng bay đến thả đồ cứu trợ của chính phủ. Cha tôi trèo lên nóc nhà, giơ cái áo trắng huơ lên cầu cứu. Những gói bánh mì và nước đóng chai thả xuống bị dòng nước cuốn trôi; cha tôi may mắn dùng cây sào dài vớt được một gói, nhờ đó mà gia đình gồm năm người cầm hơi và giành lấy sự sống.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, bạn tôi, quê ở Đại Lộc, cùng cỡ tuổi anh em mình, không biết Phương đã đọc mấy câu thơ này của Hạnh chưa? “Cái làng ấy ra đi cùng tôi / Mà tôi nào hay biết / Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết / Con sông quê bóng núi cứ chập chờn // Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi” (Làng). Hạnh kể với tôi, ngày hôm trước trận lụt đó cả nhà anh xuôi thuyền theo sông Thu Bồn, về đến cầu Câu Lâu, neo thuyền nằm ngủ, nửa đêm nước lớn tràn vô thuyền, may nhờ bà con hai bên bờ sông bơi ra cứu vớt, nếu không cả nhà anh gần chục người đã chìm sâu dưới lòng sông năm đó rồi!

Nhà giáo Phạm Phú Phong và nhà giáo Huỳnh Như Phương.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG: Tình cảnh quê tôi năm đó cũng bi đát chẳng kém so với quê anh. Lúc đó tôi mới chín tuổi. Một buổi chiều tháng 10 âm lịch, đi học về thấy nước dâng lên từ từ, xắn quần xách dép lội nước vào nhà. Lúc đầu nước tràn qua vườn, lên mé sân, đêm ngủ dậy thấy nước ngập cả quốc lộ 1 trước nhà rồi trườn theo bậc tam cấp lên nền nhà. Nhà tôi thuộc loại nền cao, mấy năm trước, mùa lụt, nước chỉ đến góc sân rồi rút. Năm nào cũng vậy, tuổi thơ mong nước lụt để dầm chân nghịch nước, xem người ta đánh vó bắt cá dưới chân cầu. Năm ấy không ngờ nước lớn nhanh và không ngừng lại. Ngoài vườn, đu đủ, mãng cầu, vú sữa ngập dần đến tàn lá.

Nhà tôi lúc đó chỉ có phụ nữ và thiếu niên. Hàng xóm ở cách xa vài khu vườn, nhà ai nấy lo, chỉ gọi vói sang hỏi thăm, chớ không dám lội nước qua lại mà tiếp tế thức ăn. Bà ngoại, má và các dì tôi bắc bếp trên bộ phản gỗ nấu cơm, củi ướt khói un cay mắt, phải chuyển qua nấu bếp dầu. Cậu tôi và tôi lo chuyển sách vở lên trần nhà. Bữa cơm ngày lụt chỉ có cá chuồn khô, đu đủ xanh luộc chấm mắm cái mà thấy thật ngon.

Ngày hôm sau tự dưng nước ngưng chảy, trời lặng gió. Chúng tôi kê giường lên cao cho Bà ngoại nằm, ăn tối xong cả nhà ngồi co ro quanh ngọn đèn dầu. Bỗng đến gần khuya một trận mưa dữ dội ập đến, gió thổi hun hút rồi mạnh dần thành bão thốc vào mái nhà. Ngoài vườn mấy cây dừa oằn mình chịu trận. Tiếng người trong xóm réo gọi nhắc nhau chống bão.

Nước chảy ào ạt, ngập qua bệ cửa sổ, chỉ cách giường bà tôi vài phân. Nhà tôi mái lợp tranh nhưng trần nhà đắp bằng đất, trên đó chứa đủ các món đồ lưu cữu nhiều năm: các khung gỗ chằm nón lá, những tấm màn sáo che cửa sổ, chiếc xe đạp cũ, cuốc xẻng, nong nia... Hồi nhỏ mỗi khi chơi trốn tìm với các bạn, tôi vẫn trèo lên nấp ở đây. Cậu tôi bắc thang đỡ bà tôi leo lên mái đất, rồi cả nhà lần lượt lên theo. Mái đất cách mái tranh chỉ năm tấc, bảy người nằm ép giữa hai lớp mái. Mùi bồ hóng, phân gián, phân chuột nồng nặc át cả mùi mưa đất ẩm. Trong đêm, cả nhà nói với nhau ráng chờ trời sáng. Bên ngoài tiếng cây cối, súc vật trôi ào ạt trong gió, va vào làm mái nhà tôi rung lên. Có cả tiếng người kêu khóc trong ngôi nhà tranh bị bão cuốn trôi trong nước lũ.

Tảng sáng, trời mờ mờ, cậu tôi gỡ mấy tấm tranh lợp mái, thò đầu nhìn ra ngoài, la hét kêu cứu. Không có lời đáp lại, cả xóm năm ngôi nhà nằm im vắng như thiếp ngủ. Rồi một tiếng đồng hồ sau, một chiếc ghe bầu với hai người thanh niên mặc áo tơi lướt đi trong mưa gió, tấp vào mái nhà tôi. Hai chú lần lượt kéo cả gia đình tôi lên ghe. Không có áo phao, chín người trên chiếc ghe nhỏ, nước mấp mé thành ghe, sóng bềnh bồng, cậu cháu tôi dùng lon sữa bò tát nước ra ngoài. Ở nông thôn mà cả gia đình tôi không ai biết bơi hết anh ạ. Bà tôi lầm rầm cầu Phật độ trì tai qua nạn khỏi. Trùm lên chiếc áo mưa, tôi hé mắt nhìn ra cánh đồng Vĩnh Phú tràn ngập nước, cây cầu sắt hàng ngày tôi qua lại đến trường chìm hẳn trong biển nước không thấy dấu tích. Lúc ở nhà tuy lo sợ nhưng không thấy mối nguy hiểm cận kề như khi đi ghe tránh lụt. Hai chú chèo ghe cật lực đưa cả nhà tôi lên xóm Vĩnh Thuận, khi ghe cập vào ghềnh đá dưới chân đồi, nơi có xóm nhà bà con họ Lê phía dưới chùa Linh Sơn, cả nhà mới biết mình thoát chết.

P. P. P.: Hồi đó còn nhỏ nên tôi không biết quê tôi có phải là nơi bị tàn phá nặng nề nhất miền Trung hay không, nhưng trận lụt đã mang đi gần hết sự sống của thiên nhiên, cây cỏ, động vật ở một miền quê tương đối trù phú. Nhà nào cũng bị thiệt hại nặng nề. Nhà tôi năm con bò, một con trâu, cùng với heo, gà, lúa gạo bị cuốn trôi. Không còn một hạt thóc để làm giống. May mắn, cả xóm không có thiệt hại về người. Nhưng sau lụt, lại chống chọi với bệnh tật, bị lây nhiễm khi phải dọn xác động vật còn nằm lại các bụi tre, bờ bãi. Sau này lớn lên, tìm hiểu mới biết trong trận lụt năm Giáp Thìn địa phương chịu hậu quả nặng nề nhất là làng Đông An, xã Ninh Phước, huyện Nông Sơn có đến gần 1.500 người chết và mất tích, cả làng chỉ còn 19 người sống sót. Đó là thực tế khắc nghiệt mà mỗi người chỉ trải nghiệm một lần cũng bị ám ảnh suốt cả cuộc đời.

H. N. P.: Những ngày đó gia đình tôi tránh lụt ở nhà một người bà con dưới chân ngọn đồi đất đỏ, may mà hồi đó chưa bị đào đất nên không có nạn sạt lở. Bảo toàn mạng sống, được bà con giúp đỡ chu đáo, nhưng cả nhà nôn nóng mong ngày trở về thăm lại nhà cửa, vườn tược. Bà tôi lo nhất là vựa lúa còn lúa giống và lúa ăn đủ dùng cho hết mùa đông. Nước vừa rút là cả gia đình đùm túm lội theo bờ ruộng về nhà. Khu vườn xơ xác, bùn ngập đến mắt cá. Bàn ghế giường tủ ngấm nước hư hại. Và điều linh cảm của bà tôi thành sự thật: nước ngấm, sóng vỗ đã làm vỡ vựa lúa nhà tôi, lúa trôi hết ra ngoài, lẫn trong bùn đất, cây cỏ, cả tháng sau mầm lúa mọc lên xanh từng vạt trong sân vườn. Hàng xóm nhà tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Dù sao xóm tôi còn may mắn, mất lúa, heo gà, nhưng người còn, không ai chết hay bị thương như người ở vùng gần biển. Còn người thì còn của, “còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây”.

P. P. P.: Năm nay có hai dấu mốc tròn về lịch sử. Tính từ trận lụt năm Giáp Thìn 1964 thì nay đã tròn 60 năm. Tính từ ngày chia đôi đất nước năm Giáp Ngọ 1954 theo Hiệp định Genève thì nay đã là 70 năm. Ông bà nội tôi có ba người con trai, thì cả ba đều đi kháng chiến. Khi đất nước chia đôi, bác và chú tôi tập kết ra miền Bắc, cha tôi được phân công ở lại hoạt động bí mật; hơn nữa, cha tôi còn lo chuyện hiếu đạo: phải có một người con trai bên cạnh để chăm sóc ông bà tôi khi tuổi đã già. Sau chiến tranh, chỉ một mình chú tôi còn sống. Bác tôi lúc nào cũng nung nấu khát vọng trở về quê hương, nhất là lo cho vợ và hai đứa con trai đang tuổi ăn, tuổi lớn. Ông về quê Quảng Nam phụ trách kinh tài cho tỉnh ủy, bị phục kích và hy sinh tại Nam Yên, Hòa Vang đúng vào năm lụt lớn. Cái chết của bác tôi kéo theo một chuỗi nỗi đau: du kích về lấy xác bác đi chôn, bị gài lựu đạn, chết thêm mấy người! Gia đình còn thêm nỗi đau lớn: cha mẹ ở bên kia chiến tuyến, nhưng hai người anh con bác tôi đều bị bắt lính và chết trận!

Cha tôi hoạt động, nhiều lần thoát chết qua các đợt khủng bố, nhưng đến năm 1968, cũng hy sinh trong một trận chống càn. Năm trước đó, hai anh ruột của tôi đang học yên ổn ở Sài Gòn, cha tôi năm lần bảy lượt nhắn tin bảo về tham gia công tác, hai anh bỏ học trở về và ngã xuống trong bom đạn. Cha và hai anh mất khi tôi đang bị giam ở nhà lao Kho Đạn (Đà Nẵng) vì đi làm liên lạc, mẹ tôi ở nhà gánh chịu nỗi đau, mãi đến ngày hòa bình mẹ con tôi mới gặp lại nhau trong ngôi nhà tang khó.

Năm 1982, xã tôi có chủ trương qui tập mộ các liệt sĩ vào nghĩa trang. Tôi cùng với người anh họ chạy xe máy dọc theo sông Trường Định lên Nam Yên, đào mộ bác tôi, gói xương bỏ vào ba lô mang về. Cùng đợt cha tôi chết có đến bảy, tám người, trong đó nhiều người là dân thường, không được công nhận liệt sĩ; mẹ tôi nhận ra xác cha tôi qua cái lược bằng vỏ bom B.52 và cây bút bi ông hay dùng. Vậy là hai anh ruột của tôi và hai anh con của bác tôi đều ngã xuống ở hai bên chiến tuyến; không biết bây giờ ở thế giới bên kia những người trong chính một gia đình đã hòa giải, hòa hợp với nhau chưa! Đúng như ai đó đã nói, đời mỗi con người cũng chỉ như một chiếc lá, bị cuốn trôi trong cơn lũ đại hồng thủy hay trong bão tố của chiến tranh mà lịch sử đất nước từng trải qua, đều đau xót cả thôi. Giữa hai cơn lũ ấy, bà nội tôi, mẹ tôi và bác gái là những người chịu đựng nhiều đau khổ hơn ai hết.

H. N. P.: Cùng cảnh ngộ với gia đình anh, 70 năm trước, gia đình tôi cũng cắt chia như đất nước mình. Ông nội tôi cùng hai người con trai và một người con rể đều đi tập kết, hòa bình chỉ mình ông tôi trở về với chiếc va-li sờn cũ, hai con ruột và con rể nằm lại trên đất lạ. Ông ngoại tôi cũng đi tập kết cùng hai người con trai và hai người con rể; năm 1961 ông bị bệnh trọng qua đời, ngày hòa bình gia đình mới chuyển hài cốt ông từ nghĩa trang Văn Điển về Mộ Đức. Cha tôi về Nam theo đường Trường Sơn từ năm 1959, đơn vị chuyển quân lên Tây nguyên, đến 1965 mới về đồng bằng thăm gia đình. Nói dại, nếu cả nhà chết trong trận lụt năm 1964, thì người trở về biết gặp ai. Rồi cha tôi cũng ngã xuống trong một trận đánh năm 1967 ở Sơn Tịnh với đám lính Đại Hàn tàn bạo, được người dân an táng trong vườn chùa, ngày hòa bình mới về an nghỉ ở chân núi quê. Má tôi, dì tôi, cô tôi cũng như mẹ anh, bác anh và bao người chinh phụ khác đã thành góa phụ. Hòa bình, hai cậu tôi trở về gặp lại mẹ và các em nghe kể chuyện quê hương, gia đình; cả nhà ngồi khóc trên bậc thềm ngày cũ, nơi năm nào nước lụt dâng vô nhà.

P. P. P.: Sau ngày hòa bình, hy vọng tai trời ách nước giảm bớt, không ngờ rừng  bị tàn phá ngày càng nhiều, bão lớn, nước biển dâng, lụt lội, lở đất, nhiễm mặn khắp nơi. Con người tàn phá thiên nhiên cũng là hủy hoại cuộc sống của chính mình. Lẽ ra con người phải sống thuận theo tự nhiên và thích ứng với tự nhiên chứ không phải khai thác tận cùng thiên nhiên để phục vụ nhu cầu trước mắt. Sự hủy hoại hiện nay còn khủng khiếp hơn rất nhiều so với thời chiến tranh. Cứ xem những trận mưa lũ, lở đất, sạt đường mấy năm gần đây thì rõ!

H. N. P.: Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi lại hát thầm mấy câu ca của Phạm Đình Chương: “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm…”. Lụt lội là thảm họa thiên nhiên, nhưng bây giờ còn có tác động tiêu cực từ chính con người. Hủy hoại môi trường sinh thái là một vấn nạn toàn cầu, ở nước ta lại ngày càng gay gắt. Bảo vệ môi trường là một nghĩa vụ lớn của nhân loại. Nhân loại phải sáng suốt khi phá rừng, xây dựng các con đập, ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của sông ngòi, thải phát khí thải nhà kính, phá hủy sự đa dạng sinh học. Những con đập ở thượng nguồn sông Hồng và sông Mekong sẽ là nguồn gốc những thảm họa lũ lụt, hạn hán của dân mình nếu không có những thỏa thuận và cam kết với các nước láng giềng.

P. P. P.: Những người ra đi 70 năm trước mơ ước về một đất nước thanh bình, đoàn tụ, phát triển. Hầu hết thế hệ đó đã nằm xuống. Gánh nặng bây giờ đặt trên vai những người còn lại. Trên thế giới những lò lửa chiến tranh vẫn chưa dập tắt hay đang nhen nhóm trở lại, những thảm họa thiên nhiên không ngừng bùng phát. Đất đai, rừng núi, sông ngòi của ta bỗng chứng kiến thiên tai ập đến, vùi lấp làng mạc, ruộng vườn, nhà cửa. Nửa thế kỷ Tổ quốc liền một dải rồi, nhưng vẫn còn bao nhiêu khoảng cách trong lòng người chưa hàn gắn, để mọi người dân Việt cùng nhau giữ vững cuộc sống hòa bình, không còn những cắt chia, thảm nạn và mất mát như 60 - 70 năm về trước.

Nguồn: https://hcmussh.edu.vn/

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm