TIN TỨC

Tuổi thơ, mùa bão lụt và quê hương thương khó

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-31 07:35:43
mail facebook google pos stwis
1491 lượt xem

PHẠM PHÚ PHONG – HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Dưới đây là câu chuyện của hai nhà giáo Phạm Phú Phong (Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế) và Huỳnh Như Phương (Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP. HCM) - hai người bạn văn gặp nhau ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu 60 năm trước ở hai vùng quê cách xa nhau nhưng cùng cảnh ngộ. Mùa đông năm Giáp Thìn 1964, miền Trung chìm đắm trong trận lụt lịch sử. Phạm Phú Phong quê ở Điện Bàn, Quảng Nam; Huỳnh Như Phương quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi chứng kiến những tàn phá dưới dòng nước lũ và nỗ lực của gia đình, làng xóm phục hồi sau trận lụt. Mười năm trước đó, năm 1954, những người thân của hai ông cùng từ giã gia đình lên đường đi tập kết, nay cũng là dịp nhớ lại một đoạn đời chia xa, đau buồn của quê hương.


PHẠM PHÚ PHONG: Trận lụt năm đó vẫn còn in đậm trong ký ức một đưa trẻ chưa tròn mười tuổi như tôi. Nước vào nhà tôi lúc nửa đêm, lặng lẽ như có sự rình rập từ mấy ngày mưa trước đó và lên rất nhanh. Đang ngủ say, nghe tiếng mẹ gọi dậy, tôi thò chân xuống đất đã thấy nước ngang mắt cá. Cả nhà dọn lương thực, đồ đạc, kê giường cao lên, nhưng chẳng bao lâu sau nước dâng ngập cả giường, tủ. Cha tôi lót ván trên xà nhà đưa cả gia đình lên đó. Tiếng kêu khóc của trẻ con, tiếng rống của trâu bò chen lẫn trong tiếng mưa đêm gào thét ào ạt thổi qua.

Xã tôi thời ấy có bốn thôn nằm vây quanh một cánh đồng rộng, giữa cánh đồng có mấy tòa nhà là đình Đông Bàn, nơi cụ Phạm Phú Thứ, người anh ruột của ông cố tôi, xây nên để ghi tên những người đỗ đạt, gọi là Văn thánh Đông Bàn. Xóm Đình của tôi lúc ấy chỉ có bảy, tám nóc nhà nằm bên cạnh đình, chung quanh là đồng ruộng. Ngôi nhà rung rinh theo từng cơn gió. Gió thổi mạnh làm tốc mái tranh, nhìn ra chung quanh, cánh đồng rộng mênh mông nước như biển cả, dòng nước cuồn cuộn cuốn theo bao nhiêu sinh linh, cả trâu bò, nhà cửa, cây cối...

Quê tôi là vùng đất nổi lên giữa sông Thu Bồn, gọi là Gò Nổi. Do sự sắp đặt của tự nhiên, con sông từ thượng nguồn về đến ngã ba Tư Phú rẽ thành hai nhánh, chảy đến Câu Lâu nhập lại thành một dòng, trước khi xuôi về Cửa Đại. Đây là đồng ruộng và vựa lúa của cả huyện, thuộc vùng trũng, gặp nạn đại hồng thủy, nước lút cả mái nhà, ngập đến ngọn tre. Ngồi trên trần nhà, nhìn ra bốn bề nước chảy xiết cuồn cuộn, cả nhà run rẩy mong manh trong những tấm áo len, áo tơi không đủ che mưa gió.

Là vùng nông thôn, dân cư thưa thớt, nằm tách biệt ngoài cánh đồng, nước lại dâng lên lúc nửa đêm, nên không ai kịp giúp đỡ ai được gì. Lẫn trong tiếng gào thét của mưa gió và nước cuốn, nghe tiếng kêu cứu của hàng xóm cũng đành bất lực. Nhà tôi không bị nước cuốn trôi, nhưng nước càng lâu rút thì càng dễ bị chết đói. Ngày đầu, cha tôi lấy dây thép treo cái thau làm bếp, rút tranh trên mái nhà nấu được nồi cơm nửa chín, nửa nhão. Giếng ngập, không có nước sạch, phải hứng nước mưa từ mái tranh để uống. Đến ngày thứ tư thì có máy bay trực thăng bay đến thả đồ cứu trợ của chính phủ. Cha tôi trèo lên nóc nhà, giơ cái áo trắng huơ lên cầu cứu. Những gói bánh mì và nước đóng chai thả xuống bị dòng nước cuốn trôi; cha tôi may mắn dùng cây sào dài vớt được một gói, nhờ đó mà gia đình gồm năm người cầm hơi và giành lấy sự sống.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, bạn tôi, quê ở Đại Lộc, cùng cỡ tuổi anh em mình, không biết Phương đã đọc mấy câu thơ này của Hạnh chưa? “Cái làng ấy ra đi cùng tôi / Mà tôi nào hay biết / Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết / Con sông quê bóng núi cứ chập chờn // Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi” (Làng). Hạnh kể với tôi, ngày hôm trước trận lụt đó cả nhà anh xuôi thuyền theo sông Thu Bồn, về đến cầu Câu Lâu, neo thuyền nằm ngủ, nửa đêm nước lớn tràn vô thuyền, may nhờ bà con hai bên bờ sông bơi ra cứu vớt, nếu không cả nhà anh gần chục người đã chìm sâu dưới lòng sông năm đó rồi!

Nhà giáo Phạm Phú Phong và nhà giáo Huỳnh Như Phương.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG: Tình cảnh quê tôi năm đó cũng bi đát chẳng kém so với quê anh. Lúc đó tôi mới chín tuổi. Một buổi chiều tháng 10 âm lịch, đi học về thấy nước dâng lên từ từ, xắn quần xách dép lội nước vào nhà. Lúc đầu nước tràn qua vườn, lên mé sân, đêm ngủ dậy thấy nước ngập cả quốc lộ 1 trước nhà rồi trườn theo bậc tam cấp lên nền nhà. Nhà tôi thuộc loại nền cao, mấy năm trước, mùa lụt, nước chỉ đến góc sân rồi rút. Năm nào cũng vậy, tuổi thơ mong nước lụt để dầm chân nghịch nước, xem người ta đánh vó bắt cá dưới chân cầu. Năm ấy không ngờ nước lớn nhanh và không ngừng lại. Ngoài vườn, đu đủ, mãng cầu, vú sữa ngập dần đến tàn lá.

Nhà tôi lúc đó chỉ có phụ nữ và thiếu niên. Hàng xóm ở cách xa vài khu vườn, nhà ai nấy lo, chỉ gọi vói sang hỏi thăm, chớ không dám lội nước qua lại mà tiếp tế thức ăn. Bà ngoại, má và các dì tôi bắc bếp trên bộ phản gỗ nấu cơm, củi ướt khói un cay mắt, phải chuyển qua nấu bếp dầu. Cậu tôi và tôi lo chuyển sách vở lên trần nhà. Bữa cơm ngày lụt chỉ có cá chuồn khô, đu đủ xanh luộc chấm mắm cái mà thấy thật ngon.

Ngày hôm sau tự dưng nước ngưng chảy, trời lặng gió. Chúng tôi kê giường lên cao cho Bà ngoại nằm, ăn tối xong cả nhà ngồi co ro quanh ngọn đèn dầu. Bỗng đến gần khuya một trận mưa dữ dội ập đến, gió thổi hun hút rồi mạnh dần thành bão thốc vào mái nhà. Ngoài vườn mấy cây dừa oằn mình chịu trận. Tiếng người trong xóm réo gọi nhắc nhau chống bão.

Nước chảy ào ạt, ngập qua bệ cửa sổ, chỉ cách giường bà tôi vài phân. Nhà tôi mái lợp tranh nhưng trần nhà đắp bằng đất, trên đó chứa đủ các món đồ lưu cữu nhiều năm: các khung gỗ chằm nón lá, những tấm màn sáo che cửa sổ, chiếc xe đạp cũ, cuốc xẻng, nong nia... Hồi nhỏ mỗi khi chơi trốn tìm với các bạn, tôi vẫn trèo lên nấp ở đây. Cậu tôi bắc thang đỡ bà tôi leo lên mái đất, rồi cả nhà lần lượt lên theo. Mái đất cách mái tranh chỉ năm tấc, bảy người nằm ép giữa hai lớp mái. Mùi bồ hóng, phân gián, phân chuột nồng nặc át cả mùi mưa đất ẩm. Trong đêm, cả nhà nói với nhau ráng chờ trời sáng. Bên ngoài tiếng cây cối, súc vật trôi ào ạt trong gió, va vào làm mái nhà tôi rung lên. Có cả tiếng người kêu khóc trong ngôi nhà tranh bị bão cuốn trôi trong nước lũ.

Tảng sáng, trời mờ mờ, cậu tôi gỡ mấy tấm tranh lợp mái, thò đầu nhìn ra ngoài, la hét kêu cứu. Không có lời đáp lại, cả xóm năm ngôi nhà nằm im vắng như thiếp ngủ. Rồi một tiếng đồng hồ sau, một chiếc ghe bầu với hai người thanh niên mặc áo tơi lướt đi trong mưa gió, tấp vào mái nhà tôi. Hai chú lần lượt kéo cả gia đình tôi lên ghe. Không có áo phao, chín người trên chiếc ghe nhỏ, nước mấp mé thành ghe, sóng bềnh bồng, cậu cháu tôi dùng lon sữa bò tát nước ra ngoài. Ở nông thôn mà cả gia đình tôi không ai biết bơi hết anh ạ. Bà tôi lầm rầm cầu Phật độ trì tai qua nạn khỏi. Trùm lên chiếc áo mưa, tôi hé mắt nhìn ra cánh đồng Vĩnh Phú tràn ngập nước, cây cầu sắt hàng ngày tôi qua lại đến trường chìm hẳn trong biển nước không thấy dấu tích. Lúc ở nhà tuy lo sợ nhưng không thấy mối nguy hiểm cận kề như khi đi ghe tránh lụt. Hai chú chèo ghe cật lực đưa cả nhà tôi lên xóm Vĩnh Thuận, khi ghe cập vào ghềnh đá dưới chân đồi, nơi có xóm nhà bà con họ Lê phía dưới chùa Linh Sơn, cả nhà mới biết mình thoát chết.

P. P. P.: Hồi đó còn nhỏ nên tôi không biết quê tôi có phải là nơi bị tàn phá nặng nề nhất miền Trung hay không, nhưng trận lụt đã mang đi gần hết sự sống của thiên nhiên, cây cỏ, động vật ở một miền quê tương đối trù phú. Nhà nào cũng bị thiệt hại nặng nề. Nhà tôi năm con bò, một con trâu, cùng với heo, gà, lúa gạo bị cuốn trôi. Không còn một hạt thóc để làm giống. May mắn, cả xóm không có thiệt hại về người. Nhưng sau lụt, lại chống chọi với bệnh tật, bị lây nhiễm khi phải dọn xác động vật còn nằm lại các bụi tre, bờ bãi. Sau này lớn lên, tìm hiểu mới biết trong trận lụt năm Giáp Thìn địa phương chịu hậu quả nặng nề nhất là làng Đông An, xã Ninh Phước, huyện Nông Sơn có đến gần 1.500 người chết và mất tích, cả làng chỉ còn 19 người sống sót. Đó là thực tế khắc nghiệt mà mỗi người chỉ trải nghiệm một lần cũng bị ám ảnh suốt cả cuộc đời.

H. N. P.: Những ngày đó gia đình tôi tránh lụt ở nhà một người bà con dưới chân ngọn đồi đất đỏ, may mà hồi đó chưa bị đào đất nên không có nạn sạt lở. Bảo toàn mạng sống, được bà con giúp đỡ chu đáo, nhưng cả nhà nôn nóng mong ngày trở về thăm lại nhà cửa, vườn tược. Bà tôi lo nhất là vựa lúa còn lúa giống và lúa ăn đủ dùng cho hết mùa đông. Nước vừa rút là cả gia đình đùm túm lội theo bờ ruộng về nhà. Khu vườn xơ xác, bùn ngập đến mắt cá. Bàn ghế giường tủ ngấm nước hư hại. Và điều linh cảm của bà tôi thành sự thật: nước ngấm, sóng vỗ đã làm vỡ vựa lúa nhà tôi, lúa trôi hết ra ngoài, lẫn trong bùn đất, cây cỏ, cả tháng sau mầm lúa mọc lên xanh từng vạt trong sân vườn. Hàng xóm nhà tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Dù sao xóm tôi còn may mắn, mất lúa, heo gà, nhưng người còn, không ai chết hay bị thương như người ở vùng gần biển. Còn người thì còn của, “còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây”.

P. P. P.: Năm nay có hai dấu mốc tròn về lịch sử. Tính từ trận lụt năm Giáp Thìn 1964 thì nay đã tròn 60 năm. Tính từ ngày chia đôi đất nước năm Giáp Ngọ 1954 theo Hiệp định Genève thì nay đã là 70 năm. Ông bà nội tôi có ba người con trai, thì cả ba đều đi kháng chiến. Khi đất nước chia đôi, bác và chú tôi tập kết ra miền Bắc, cha tôi được phân công ở lại hoạt động bí mật; hơn nữa, cha tôi còn lo chuyện hiếu đạo: phải có một người con trai bên cạnh để chăm sóc ông bà tôi khi tuổi đã già. Sau chiến tranh, chỉ một mình chú tôi còn sống. Bác tôi lúc nào cũng nung nấu khát vọng trở về quê hương, nhất là lo cho vợ và hai đứa con trai đang tuổi ăn, tuổi lớn. Ông về quê Quảng Nam phụ trách kinh tài cho tỉnh ủy, bị phục kích và hy sinh tại Nam Yên, Hòa Vang đúng vào năm lụt lớn. Cái chết của bác tôi kéo theo một chuỗi nỗi đau: du kích về lấy xác bác đi chôn, bị gài lựu đạn, chết thêm mấy người! Gia đình còn thêm nỗi đau lớn: cha mẹ ở bên kia chiến tuyến, nhưng hai người anh con bác tôi đều bị bắt lính và chết trận!

Cha tôi hoạt động, nhiều lần thoát chết qua các đợt khủng bố, nhưng đến năm 1968, cũng hy sinh trong một trận chống càn. Năm trước đó, hai anh ruột của tôi đang học yên ổn ở Sài Gòn, cha tôi năm lần bảy lượt nhắn tin bảo về tham gia công tác, hai anh bỏ học trở về và ngã xuống trong bom đạn. Cha và hai anh mất khi tôi đang bị giam ở nhà lao Kho Đạn (Đà Nẵng) vì đi làm liên lạc, mẹ tôi ở nhà gánh chịu nỗi đau, mãi đến ngày hòa bình mẹ con tôi mới gặp lại nhau trong ngôi nhà tang khó.

Năm 1982, xã tôi có chủ trương qui tập mộ các liệt sĩ vào nghĩa trang. Tôi cùng với người anh họ chạy xe máy dọc theo sông Trường Định lên Nam Yên, đào mộ bác tôi, gói xương bỏ vào ba lô mang về. Cùng đợt cha tôi chết có đến bảy, tám người, trong đó nhiều người là dân thường, không được công nhận liệt sĩ; mẹ tôi nhận ra xác cha tôi qua cái lược bằng vỏ bom B.52 và cây bút bi ông hay dùng. Vậy là hai anh ruột của tôi và hai anh con của bác tôi đều ngã xuống ở hai bên chiến tuyến; không biết bây giờ ở thế giới bên kia những người trong chính một gia đình đã hòa giải, hòa hợp với nhau chưa! Đúng như ai đó đã nói, đời mỗi con người cũng chỉ như một chiếc lá, bị cuốn trôi trong cơn lũ đại hồng thủy hay trong bão tố của chiến tranh mà lịch sử đất nước từng trải qua, đều đau xót cả thôi. Giữa hai cơn lũ ấy, bà nội tôi, mẹ tôi và bác gái là những người chịu đựng nhiều đau khổ hơn ai hết.

H. N. P.: Cùng cảnh ngộ với gia đình anh, 70 năm trước, gia đình tôi cũng cắt chia như đất nước mình. Ông nội tôi cùng hai người con trai và một người con rể đều đi tập kết, hòa bình chỉ mình ông tôi trở về với chiếc va-li sờn cũ, hai con ruột và con rể nằm lại trên đất lạ. Ông ngoại tôi cũng đi tập kết cùng hai người con trai và hai người con rể; năm 1961 ông bị bệnh trọng qua đời, ngày hòa bình gia đình mới chuyển hài cốt ông từ nghĩa trang Văn Điển về Mộ Đức. Cha tôi về Nam theo đường Trường Sơn từ năm 1959, đơn vị chuyển quân lên Tây nguyên, đến 1965 mới về đồng bằng thăm gia đình. Nói dại, nếu cả nhà chết trong trận lụt năm 1964, thì người trở về biết gặp ai. Rồi cha tôi cũng ngã xuống trong một trận đánh năm 1967 ở Sơn Tịnh với đám lính Đại Hàn tàn bạo, được người dân an táng trong vườn chùa, ngày hòa bình mới về an nghỉ ở chân núi quê. Má tôi, dì tôi, cô tôi cũng như mẹ anh, bác anh và bao người chinh phụ khác đã thành góa phụ. Hòa bình, hai cậu tôi trở về gặp lại mẹ và các em nghe kể chuyện quê hương, gia đình; cả nhà ngồi khóc trên bậc thềm ngày cũ, nơi năm nào nước lụt dâng vô nhà.

P. P. P.: Sau ngày hòa bình, hy vọng tai trời ách nước giảm bớt, không ngờ rừng  bị tàn phá ngày càng nhiều, bão lớn, nước biển dâng, lụt lội, lở đất, nhiễm mặn khắp nơi. Con người tàn phá thiên nhiên cũng là hủy hoại cuộc sống của chính mình. Lẽ ra con người phải sống thuận theo tự nhiên và thích ứng với tự nhiên chứ không phải khai thác tận cùng thiên nhiên để phục vụ nhu cầu trước mắt. Sự hủy hoại hiện nay còn khủng khiếp hơn rất nhiều so với thời chiến tranh. Cứ xem những trận mưa lũ, lở đất, sạt đường mấy năm gần đây thì rõ!

H. N. P.: Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi lại hát thầm mấy câu ca của Phạm Đình Chương: “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm…”. Lụt lội là thảm họa thiên nhiên, nhưng bây giờ còn có tác động tiêu cực từ chính con người. Hủy hoại môi trường sinh thái là một vấn nạn toàn cầu, ở nước ta lại ngày càng gay gắt. Bảo vệ môi trường là một nghĩa vụ lớn của nhân loại. Nhân loại phải sáng suốt khi phá rừng, xây dựng các con đập, ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của sông ngòi, thải phát khí thải nhà kính, phá hủy sự đa dạng sinh học. Những con đập ở thượng nguồn sông Hồng và sông Mekong sẽ là nguồn gốc những thảm họa lũ lụt, hạn hán của dân mình nếu không có những thỏa thuận và cam kết với các nước láng giềng.

P. P. P.: Những người ra đi 70 năm trước mơ ước về một đất nước thanh bình, đoàn tụ, phát triển. Hầu hết thế hệ đó đã nằm xuống. Gánh nặng bây giờ đặt trên vai những người còn lại. Trên thế giới những lò lửa chiến tranh vẫn chưa dập tắt hay đang nhen nhóm trở lại, những thảm họa thiên nhiên không ngừng bùng phát. Đất đai, rừng núi, sông ngòi của ta bỗng chứng kiến thiên tai ập đến, vùi lấp làng mạc, ruộng vườn, nhà cửa. Nửa thế kỷ Tổ quốc liền một dải rồi, nhưng vẫn còn bao nhiêu khoảng cách trong lòng người chưa hàn gắn, để mọi người dân Việt cùng nhau giữ vững cuộc sống hòa bình, không còn những cắt chia, thảm nạn và mất mát như 60 - 70 năm về trước.

Nguồn: https://hcmussh.edu.vn/

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm