TIN TỨC

Tuổi thơ, mùa bão lụt và quê hương thương khó

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-31 07:35:43
mail facebook google pos stwis
1579 lượt xem

PHẠM PHÚ PHONG – HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Dưới đây là câu chuyện của hai nhà giáo Phạm Phú Phong (Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế) và Huỳnh Như Phương (Khoa Văn học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP. HCM) - hai người bạn văn gặp nhau ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu 60 năm trước ở hai vùng quê cách xa nhau nhưng cùng cảnh ngộ. Mùa đông năm Giáp Thìn 1964, miền Trung chìm đắm trong trận lụt lịch sử. Phạm Phú Phong quê ở Điện Bàn, Quảng Nam; Huỳnh Như Phương quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi chứng kiến những tàn phá dưới dòng nước lũ và nỗ lực của gia đình, làng xóm phục hồi sau trận lụt. Mười năm trước đó, năm 1954, những người thân của hai ông cùng từ giã gia đình lên đường đi tập kết, nay cũng là dịp nhớ lại một đoạn đời chia xa, đau buồn của quê hương.


PHẠM PHÚ PHONG: Trận lụt năm đó vẫn còn in đậm trong ký ức một đưa trẻ chưa tròn mười tuổi như tôi. Nước vào nhà tôi lúc nửa đêm, lặng lẽ như có sự rình rập từ mấy ngày mưa trước đó và lên rất nhanh. Đang ngủ say, nghe tiếng mẹ gọi dậy, tôi thò chân xuống đất đã thấy nước ngang mắt cá. Cả nhà dọn lương thực, đồ đạc, kê giường cao lên, nhưng chẳng bao lâu sau nước dâng ngập cả giường, tủ. Cha tôi lót ván trên xà nhà đưa cả gia đình lên đó. Tiếng kêu khóc của trẻ con, tiếng rống của trâu bò chen lẫn trong tiếng mưa đêm gào thét ào ạt thổi qua.

Xã tôi thời ấy có bốn thôn nằm vây quanh một cánh đồng rộng, giữa cánh đồng có mấy tòa nhà là đình Đông Bàn, nơi cụ Phạm Phú Thứ, người anh ruột của ông cố tôi, xây nên để ghi tên những người đỗ đạt, gọi là Văn thánh Đông Bàn. Xóm Đình của tôi lúc ấy chỉ có bảy, tám nóc nhà nằm bên cạnh đình, chung quanh là đồng ruộng. Ngôi nhà rung rinh theo từng cơn gió. Gió thổi mạnh làm tốc mái tranh, nhìn ra chung quanh, cánh đồng rộng mênh mông nước như biển cả, dòng nước cuồn cuộn cuốn theo bao nhiêu sinh linh, cả trâu bò, nhà cửa, cây cối...

Quê tôi là vùng đất nổi lên giữa sông Thu Bồn, gọi là Gò Nổi. Do sự sắp đặt của tự nhiên, con sông từ thượng nguồn về đến ngã ba Tư Phú rẽ thành hai nhánh, chảy đến Câu Lâu nhập lại thành một dòng, trước khi xuôi về Cửa Đại. Đây là đồng ruộng và vựa lúa của cả huyện, thuộc vùng trũng, gặp nạn đại hồng thủy, nước lút cả mái nhà, ngập đến ngọn tre. Ngồi trên trần nhà, nhìn ra bốn bề nước chảy xiết cuồn cuộn, cả nhà run rẩy mong manh trong những tấm áo len, áo tơi không đủ che mưa gió.

Là vùng nông thôn, dân cư thưa thớt, nằm tách biệt ngoài cánh đồng, nước lại dâng lên lúc nửa đêm, nên không ai kịp giúp đỡ ai được gì. Lẫn trong tiếng gào thét của mưa gió và nước cuốn, nghe tiếng kêu cứu của hàng xóm cũng đành bất lực. Nhà tôi không bị nước cuốn trôi, nhưng nước càng lâu rút thì càng dễ bị chết đói. Ngày đầu, cha tôi lấy dây thép treo cái thau làm bếp, rút tranh trên mái nhà nấu được nồi cơm nửa chín, nửa nhão. Giếng ngập, không có nước sạch, phải hứng nước mưa từ mái tranh để uống. Đến ngày thứ tư thì có máy bay trực thăng bay đến thả đồ cứu trợ của chính phủ. Cha tôi trèo lên nóc nhà, giơ cái áo trắng huơ lên cầu cứu. Những gói bánh mì và nước đóng chai thả xuống bị dòng nước cuốn trôi; cha tôi may mắn dùng cây sào dài vớt được một gói, nhờ đó mà gia đình gồm năm người cầm hơi và giành lấy sự sống.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, bạn tôi, quê ở Đại Lộc, cùng cỡ tuổi anh em mình, không biết Phương đã đọc mấy câu thơ này của Hạnh chưa? “Cái làng ấy ra đi cùng tôi / Mà tôi nào hay biết / Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết / Con sông quê bóng núi cứ chập chờn // Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi” (Làng). Hạnh kể với tôi, ngày hôm trước trận lụt đó cả nhà anh xuôi thuyền theo sông Thu Bồn, về đến cầu Câu Lâu, neo thuyền nằm ngủ, nửa đêm nước lớn tràn vô thuyền, may nhờ bà con hai bên bờ sông bơi ra cứu vớt, nếu không cả nhà anh gần chục người đã chìm sâu dưới lòng sông năm đó rồi!

Nhà giáo Phạm Phú Phong và nhà giáo Huỳnh Như Phương.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG: Tình cảnh quê tôi năm đó cũng bi đát chẳng kém so với quê anh. Lúc đó tôi mới chín tuổi. Một buổi chiều tháng 10 âm lịch, đi học về thấy nước dâng lên từ từ, xắn quần xách dép lội nước vào nhà. Lúc đầu nước tràn qua vườn, lên mé sân, đêm ngủ dậy thấy nước ngập cả quốc lộ 1 trước nhà rồi trườn theo bậc tam cấp lên nền nhà. Nhà tôi thuộc loại nền cao, mấy năm trước, mùa lụt, nước chỉ đến góc sân rồi rút. Năm nào cũng vậy, tuổi thơ mong nước lụt để dầm chân nghịch nước, xem người ta đánh vó bắt cá dưới chân cầu. Năm ấy không ngờ nước lớn nhanh và không ngừng lại. Ngoài vườn, đu đủ, mãng cầu, vú sữa ngập dần đến tàn lá.

Nhà tôi lúc đó chỉ có phụ nữ và thiếu niên. Hàng xóm ở cách xa vài khu vườn, nhà ai nấy lo, chỉ gọi vói sang hỏi thăm, chớ không dám lội nước qua lại mà tiếp tế thức ăn. Bà ngoại, má và các dì tôi bắc bếp trên bộ phản gỗ nấu cơm, củi ướt khói un cay mắt, phải chuyển qua nấu bếp dầu. Cậu tôi và tôi lo chuyển sách vở lên trần nhà. Bữa cơm ngày lụt chỉ có cá chuồn khô, đu đủ xanh luộc chấm mắm cái mà thấy thật ngon.

Ngày hôm sau tự dưng nước ngưng chảy, trời lặng gió. Chúng tôi kê giường lên cao cho Bà ngoại nằm, ăn tối xong cả nhà ngồi co ro quanh ngọn đèn dầu. Bỗng đến gần khuya một trận mưa dữ dội ập đến, gió thổi hun hút rồi mạnh dần thành bão thốc vào mái nhà. Ngoài vườn mấy cây dừa oằn mình chịu trận. Tiếng người trong xóm réo gọi nhắc nhau chống bão.

Nước chảy ào ạt, ngập qua bệ cửa sổ, chỉ cách giường bà tôi vài phân. Nhà tôi mái lợp tranh nhưng trần nhà đắp bằng đất, trên đó chứa đủ các món đồ lưu cữu nhiều năm: các khung gỗ chằm nón lá, những tấm màn sáo che cửa sổ, chiếc xe đạp cũ, cuốc xẻng, nong nia... Hồi nhỏ mỗi khi chơi trốn tìm với các bạn, tôi vẫn trèo lên nấp ở đây. Cậu tôi bắc thang đỡ bà tôi leo lên mái đất, rồi cả nhà lần lượt lên theo. Mái đất cách mái tranh chỉ năm tấc, bảy người nằm ép giữa hai lớp mái. Mùi bồ hóng, phân gián, phân chuột nồng nặc át cả mùi mưa đất ẩm. Trong đêm, cả nhà nói với nhau ráng chờ trời sáng. Bên ngoài tiếng cây cối, súc vật trôi ào ạt trong gió, va vào làm mái nhà tôi rung lên. Có cả tiếng người kêu khóc trong ngôi nhà tranh bị bão cuốn trôi trong nước lũ.

Tảng sáng, trời mờ mờ, cậu tôi gỡ mấy tấm tranh lợp mái, thò đầu nhìn ra ngoài, la hét kêu cứu. Không có lời đáp lại, cả xóm năm ngôi nhà nằm im vắng như thiếp ngủ. Rồi một tiếng đồng hồ sau, một chiếc ghe bầu với hai người thanh niên mặc áo tơi lướt đi trong mưa gió, tấp vào mái nhà tôi. Hai chú lần lượt kéo cả gia đình tôi lên ghe. Không có áo phao, chín người trên chiếc ghe nhỏ, nước mấp mé thành ghe, sóng bềnh bồng, cậu cháu tôi dùng lon sữa bò tát nước ra ngoài. Ở nông thôn mà cả gia đình tôi không ai biết bơi hết anh ạ. Bà tôi lầm rầm cầu Phật độ trì tai qua nạn khỏi. Trùm lên chiếc áo mưa, tôi hé mắt nhìn ra cánh đồng Vĩnh Phú tràn ngập nước, cây cầu sắt hàng ngày tôi qua lại đến trường chìm hẳn trong biển nước không thấy dấu tích. Lúc ở nhà tuy lo sợ nhưng không thấy mối nguy hiểm cận kề như khi đi ghe tránh lụt. Hai chú chèo ghe cật lực đưa cả nhà tôi lên xóm Vĩnh Thuận, khi ghe cập vào ghềnh đá dưới chân đồi, nơi có xóm nhà bà con họ Lê phía dưới chùa Linh Sơn, cả nhà mới biết mình thoát chết.

P. P. P.: Hồi đó còn nhỏ nên tôi không biết quê tôi có phải là nơi bị tàn phá nặng nề nhất miền Trung hay không, nhưng trận lụt đã mang đi gần hết sự sống của thiên nhiên, cây cỏ, động vật ở một miền quê tương đối trù phú. Nhà nào cũng bị thiệt hại nặng nề. Nhà tôi năm con bò, một con trâu, cùng với heo, gà, lúa gạo bị cuốn trôi. Không còn một hạt thóc để làm giống. May mắn, cả xóm không có thiệt hại về người. Nhưng sau lụt, lại chống chọi với bệnh tật, bị lây nhiễm khi phải dọn xác động vật còn nằm lại các bụi tre, bờ bãi. Sau này lớn lên, tìm hiểu mới biết trong trận lụt năm Giáp Thìn địa phương chịu hậu quả nặng nề nhất là làng Đông An, xã Ninh Phước, huyện Nông Sơn có đến gần 1.500 người chết và mất tích, cả làng chỉ còn 19 người sống sót. Đó là thực tế khắc nghiệt mà mỗi người chỉ trải nghiệm một lần cũng bị ám ảnh suốt cả cuộc đời.

H. N. P.: Những ngày đó gia đình tôi tránh lụt ở nhà một người bà con dưới chân ngọn đồi đất đỏ, may mà hồi đó chưa bị đào đất nên không có nạn sạt lở. Bảo toàn mạng sống, được bà con giúp đỡ chu đáo, nhưng cả nhà nôn nóng mong ngày trở về thăm lại nhà cửa, vườn tược. Bà tôi lo nhất là vựa lúa còn lúa giống và lúa ăn đủ dùng cho hết mùa đông. Nước vừa rút là cả gia đình đùm túm lội theo bờ ruộng về nhà. Khu vườn xơ xác, bùn ngập đến mắt cá. Bàn ghế giường tủ ngấm nước hư hại. Và điều linh cảm của bà tôi thành sự thật: nước ngấm, sóng vỗ đã làm vỡ vựa lúa nhà tôi, lúa trôi hết ra ngoài, lẫn trong bùn đất, cây cỏ, cả tháng sau mầm lúa mọc lên xanh từng vạt trong sân vườn. Hàng xóm nhà tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Dù sao xóm tôi còn may mắn, mất lúa, heo gà, nhưng người còn, không ai chết hay bị thương như người ở vùng gần biển. Còn người thì còn của, “còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây”.

P. P. P.: Năm nay có hai dấu mốc tròn về lịch sử. Tính từ trận lụt năm Giáp Thìn 1964 thì nay đã tròn 60 năm. Tính từ ngày chia đôi đất nước năm Giáp Ngọ 1954 theo Hiệp định Genève thì nay đã là 70 năm. Ông bà nội tôi có ba người con trai, thì cả ba đều đi kháng chiến. Khi đất nước chia đôi, bác và chú tôi tập kết ra miền Bắc, cha tôi được phân công ở lại hoạt động bí mật; hơn nữa, cha tôi còn lo chuyện hiếu đạo: phải có một người con trai bên cạnh để chăm sóc ông bà tôi khi tuổi đã già. Sau chiến tranh, chỉ một mình chú tôi còn sống. Bác tôi lúc nào cũng nung nấu khát vọng trở về quê hương, nhất là lo cho vợ và hai đứa con trai đang tuổi ăn, tuổi lớn. Ông về quê Quảng Nam phụ trách kinh tài cho tỉnh ủy, bị phục kích và hy sinh tại Nam Yên, Hòa Vang đúng vào năm lụt lớn. Cái chết của bác tôi kéo theo một chuỗi nỗi đau: du kích về lấy xác bác đi chôn, bị gài lựu đạn, chết thêm mấy người! Gia đình còn thêm nỗi đau lớn: cha mẹ ở bên kia chiến tuyến, nhưng hai người anh con bác tôi đều bị bắt lính và chết trận!

Cha tôi hoạt động, nhiều lần thoát chết qua các đợt khủng bố, nhưng đến năm 1968, cũng hy sinh trong một trận chống càn. Năm trước đó, hai anh ruột của tôi đang học yên ổn ở Sài Gòn, cha tôi năm lần bảy lượt nhắn tin bảo về tham gia công tác, hai anh bỏ học trở về và ngã xuống trong bom đạn. Cha và hai anh mất khi tôi đang bị giam ở nhà lao Kho Đạn (Đà Nẵng) vì đi làm liên lạc, mẹ tôi ở nhà gánh chịu nỗi đau, mãi đến ngày hòa bình mẹ con tôi mới gặp lại nhau trong ngôi nhà tang khó.

Năm 1982, xã tôi có chủ trương qui tập mộ các liệt sĩ vào nghĩa trang. Tôi cùng với người anh họ chạy xe máy dọc theo sông Trường Định lên Nam Yên, đào mộ bác tôi, gói xương bỏ vào ba lô mang về. Cùng đợt cha tôi chết có đến bảy, tám người, trong đó nhiều người là dân thường, không được công nhận liệt sĩ; mẹ tôi nhận ra xác cha tôi qua cái lược bằng vỏ bom B.52 và cây bút bi ông hay dùng. Vậy là hai anh ruột của tôi và hai anh con của bác tôi đều ngã xuống ở hai bên chiến tuyến; không biết bây giờ ở thế giới bên kia những người trong chính một gia đình đã hòa giải, hòa hợp với nhau chưa! Đúng như ai đó đã nói, đời mỗi con người cũng chỉ như một chiếc lá, bị cuốn trôi trong cơn lũ đại hồng thủy hay trong bão tố của chiến tranh mà lịch sử đất nước từng trải qua, đều đau xót cả thôi. Giữa hai cơn lũ ấy, bà nội tôi, mẹ tôi và bác gái là những người chịu đựng nhiều đau khổ hơn ai hết.

H. N. P.: Cùng cảnh ngộ với gia đình anh, 70 năm trước, gia đình tôi cũng cắt chia như đất nước mình. Ông nội tôi cùng hai người con trai và một người con rể đều đi tập kết, hòa bình chỉ mình ông tôi trở về với chiếc va-li sờn cũ, hai con ruột và con rể nằm lại trên đất lạ. Ông ngoại tôi cũng đi tập kết cùng hai người con trai và hai người con rể; năm 1961 ông bị bệnh trọng qua đời, ngày hòa bình gia đình mới chuyển hài cốt ông từ nghĩa trang Văn Điển về Mộ Đức. Cha tôi về Nam theo đường Trường Sơn từ năm 1959, đơn vị chuyển quân lên Tây nguyên, đến 1965 mới về đồng bằng thăm gia đình. Nói dại, nếu cả nhà chết trong trận lụt năm 1964, thì người trở về biết gặp ai. Rồi cha tôi cũng ngã xuống trong một trận đánh năm 1967 ở Sơn Tịnh với đám lính Đại Hàn tàn bạo, được người dân an táng trong vườn chùa, ngày hòa bình mới về an nghỉ ở chân núi quê. Má tôi, dì tôi, cô tôi cũng như mẹ anh, bác anh và bao người chinh phụ khác đã thành góa phụ. Hòa bình, hai cậu tôi trở về gặp lại mẹ và các em nghe kể chuyện quê hương, gia đình; cả nhà ngồi khóc trên bậc thềm ngày cũ, nơi năm nào nước lụt dâng vô nhà.

P. P. P.: Sau ngày hòa bình, hy vọng tai trời ách nước giảm bớt, không ngờ rừng  bị tàn phá ngày càng nhiều, bão lớn, nước biển dâng, lụt lội, lở đất, nhiễm mặn khắp nơi. Con người tàn phá thiên nhiên cũng là hủy hoại cuộc sống của chính mình. Lẽ ra con người phải sống thuận theo tự nhiên và thích ứng với tự nhiên chứ không phải khai thác tận cùng thiên nhiên để phục vụ nhu cầu trước mắt. Sự hủy hoại hiện nay còn khủng khiếp hơn rất nhiều so với thời chiến tranh. Cứ xem những trận mưa lũ, lở đất, sạt đường mấy năm gần đây thì rõ!

H. N. P.: Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi lại hát thầm mấy câu ca của Phạm Đình Chương: “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm…”. Lụt lội là thảm họa thiên nhiên, nhưng bây giờ còn có tác động tiêu cực từ chính con người. Hủy hoại môi trường sinh thái là một vấn nạn toàn cầu, ở nước ta lại ngày càng gay gắt. Bảo vệ môi trường là một nghĩa vụ lớn của nhân loại. Nhân loại phải sáng suốt khi phá rừng, xây dựng các con đập, ngăn chặn dòng chảy tự nhiên của sông ngòi, thải phát khí thải nhà kính, phá hủy sự đa dạng sinh học. Những con đập ở thượng nguồn sông Hồng và sông Mekong sẽ là nguồn gốc những thảm họa lũ lụt, hạn hán của dân mình nếu không có những thỏa thuận và cam kết với các nước láng giềng.

P. P. P.: Những người ra đi 70 năm trước mơ ước về một đất nước thanh bình, đoàn tụ, phát triển. Hầu hết thế hệ đó đã nằm xuống. Gánh nặng bây giờ đặt trên vai những người còn lại. Trên thế giới những lò lửa chiến tranh vẫn chưa dập tắt hay đang nhen nhóm trở lại, những thảm họa thiên nhiên không ngừng bùng phát. Đất đai, rừng núi, sông ngòi của ta bỗng chứng kiến thiên tai ập đến, vùi lấp làng mạc, ruộng vườn, nhà cửa. Nửa thế kỷ Tổ quốc liền một dải rồi, nhưng vẫn còn bao nhiêu khoảng cách trong lòng người chưa hàn gắn, để mọi người dân Việt cùng nhau giữ vững cuộc sống hòa bình, không còn những cắt chia, thảm nạn và mất mát như 60 - 70 năm về trước.

Nguồn: https://hcmussh.edu.vn/

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm