TIN TỨC

Cuộc chiến nhân tính – Tiểu luận của Hoàng Thuỵ Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-02 23:31:07
mail facebook google pos stwis
1350 lượt xem

Nhà văn Hữu Phương là một trong số những cây bút văn xuôi kỳ cựu của miền Trung, đã khẳng định sở trường, sự điêu luyện khi nhìn sâu và cắt nghĩa tính tàn bạo của chiến tranh thông qua những số phận bị chấn thương, bi kịch.

Chân trời mùa hạ là một tiểu thuyết có giá trị về mặt tư liệu, mang chất tự sự của một giai đoạn lịch sử về văn học hiện thực đơn thuần, đơn tuyến; mặc dù bị thi pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ràng buộc, chi phối nhưng nó vẫn phản ánh chân thực thân phận con người cũng như sự dẻo dai của người dân miền Trung trong những năm tháng bom đạn.

Sự kiện Chân trời mùa hạ đạt giải B, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2011 và Cúp Bông lúa vàng do Bộ NN&PTNT trao tặng đã chứng minh bút lực dồi dào của nhà văn Hữu Phương trong dòng chảy ấy. Nhưng nếu Chân trời mùa hạ còn mang đậm cảm hứng sử thi thì đến Quay đầu lại là bờ – tiểu thuyết đoạt giải nhì Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 5 (2016-2019) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, hoà trong sự vận động của văn học thời hậu chiến, trong sự thay đổi quan niệm, tư tưởng nghệ thuật, đề tài chiến tranh và người lính đã được Hữu Phương soi chiếu ở góc nhìn thế sự, đời tư. Những mâu thuẫn, hận thù không đội trời chung giữa bên này với bên kia được Hữu Phương đặt trong mối quan hệ tình nghĩa, máu mủ gia đình. Không gian gia đình là điểm trung tâm, là sợi dây hàn gắn mọi khúc mắc. Nằm trong dòng mạch văn học hậu chiến, nhưng Trăng mọc nơi bến phà xưa (NXB Văn học, 2023) vẫn thể hiện được ngòi bút tinh tế, sắc bén của nhà văn Hữu Phương khi đào sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật; những luận bàn cởi mở, đa chiều, bộc lộ suy ngẫm về bản chất, nhân tính của con người đã mang đến cho tiểu thuyết nhiều góc nhìn mới lạ, kịch tính.

Nhà văn Hữu Phương (1949 – 2023)

Chiến tranh – trò đùa của cuộc đời

Tổng Thủy, đã có vợ và hai cô con gái, trong lần đi thăm và kiểm tra tiến độ thi công của Công ty Thịnh Đạt, Công Ty Ánh Dương, kí ức những năm tháng chiến tranh hiện về trong ông rõ mồn một, từ chuyện Trái Tim Quỷ, chuyện khoan trúng xương cốt của đồng đội, chuyện Thu Cúc, Phan Vững đến chuyện gặp và yêu chính con gái của mình. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa Thủy và ông Chất, đồng đội của ông, sau ba mươi năm, đã bày ra số phận trái khoáy, oan nghiệt. Cứ tưởng Thủy vĩnh viễn giấu chặt đêm ái tình với Thu Cúc – mà chính Thủy đã ăn cắp hạnh phúc cuối cùng của Phan Vững, nhưng cuộc đời đâu dễ dàng thế, kẻ ăn cắp hạnh phúc của người đang cận kề cái chết phải bị trừng phạt, trả giá bằng chính sự dày vò, phỉ báng, đớn đau tột cùng. Thủy chiếm đoạt Thu Cúc thì cuộc đời trả giá Thủy bằng cuộc gặp gỡ oan trái với chính con gái mình – Lệ Thu, lúc Thủy xấp xỉ gần 60 tuổi, cái tuổi mà “con người như nhìn thấy đoạn cuối của đời mình” (tr 196).

Thủy “thuộc loại muốn tròn vai, tròn danh. Luôn ướp danh thơm” (tr.196) nên Thủy mãi mãi “như cây cột gỗ, loại gỗ không có lõi roòng, bao năm sơn phết hào nhoáng” (tr.289). Đây là căn bệnh của những người muốn làm anh hùng ngay từ khi còn trẻ, mặc kệ những thương tổn của người khác, sẵn sàng táng tận lương tâm để thực hiện mưu đồ của mình. Nhân vật Thủy làm chúng ta nhớ đến nhân vật Bá trong tiểu thuyết Cát trọc đầu của Nguyễn Quang Vinh, họ đều là những di họa của chiến  tranh, lợi dụng triệt để hoàn cảnh chiến tranh nhằm bảo toàn tính mạng và thăng tiến.  Nếu Bá bộc lộ bản chất một cách trực diện, không giấu diếm thì Thủy lại khéo che đậy, sự quay trở lại quá khứ của Thủy lúc này là lợi thế để Hữu Phương khơi dậy, cật vấn mặc cảm tội lỗi của Thủy. Nhưng hòn đá mà Thủy đeo vào cuộc đời quá nặng, quá sắc, buộc Thủy phải trả giá bằng hình phạt khủng khiếp. Chỉ trong hình phạt khủng khiếp ấy, Thủy mới thực sự tỉnh thức.

Thủy che giấu được cái đen tối, xấu xa bên trong của mình gần 30 năm qua, để mãi trong cái mác là bậc đáng kính, nghiêm chỉnh, lịch lãm. Bản thành tích Thủy viết lần này lần khác cùng với thanh âm trầm bổng đã lấy đi nước mắt của nhiều người và cũng là bàn đạp để Thủy đào tẩu một cách danh dự và vững vàng trên lưng ngựa. Trước sự dẫn dắt của những người chuyên đi “xây dựng anh hùng”, Thủy diễn hết sức tinh vi, càng ngày càng dày dặn kinh nghiệm, từ cuộc sống hằng ngày trong chiến tranh, tình cảm cá nhân đến danh vọng, chức quyền, rốt cuối Thủy phi chuẩn xác: từ bến phà Long Sọ, thẳng sang Mạc Tư Khoa, rồi về Hà Nội rong ruổi với các công trình, trở thành Tổng giám đốc Tổng công ty Ánh Dương. Nhưng trăng mọc nơi bến phà xưa cứ lung linh, huyền ảo, trêu ngươi, soi rọi, lật tẩy cuộc đời Thủy.

Thủy trốn tránh nhiệm vụ quét sạch bom từ trường trên dòng Nhật Lệ, thông tuyến cho sà lan chở tăng đi bằng cái tờ quyết định cử đi Liên Xô học. Người cho Thủy sự sống bằng cái chết của chính mình ấy là Phan Vững và Toàn. Cả hai đã mãi mãi nằm lại lòng sông. 2 lần Phan Vững được truy điệu sống, 2 lần xung phong lái ca nô cảm tử nhưng may mắn không đến với anh lần thứ 2. Nếu phù sa Nhật Lệ “đắp cho Phan Vững ngôi mộ bùn” thì cuộc đời trả cho Vững nỗi oan Thị Mầu qua thước phim “tội ác và trừng phạt” của Thủy.

Tiểu thuyết Trăng mọc nơi bến phà xưa của nhà văn Hữu Phương

Chiến tranh không can dự về mặt đạo đức, nhân tính

Nhưng cái kim trong bọc có bao giờ yên? Nỗi đau có bao giờ lắng xuống khi lòng đầy vướng mắc, âu lo, ngay cả giấc mơ cũng bị trì níu, dày vò? Sự hi sinh thêm lần nữa của những đồng đội nằm lại dưới đá ngầm Tà Khơn do mũi khoan của Công ty Thịnh Đạt lúc đang thi công cầu chữ U, ngôi mộ bùn của Phan Vững dưới đáy sông,… dần dần mở ra chuỗi tội lỗi của Thủy. Năm xưa, nếu quả bom từ trường của Mỹ đã lấy đi xác của cậu Toàn, cậu Vững để Thủy nhanh chóng thực hiện con đường đi của mình thì dẫu quả bom từ trường của Thu Cúc không thể giết chết Thủy lúc ấy, nhưng gần 30 năm sau, sự trở lại của quả bom từ trường Thu Cúc bằng hình hài của đứa con Lệ Thu, đã đẩy Thủy vào tột cùng bi kịch, đớn đau, thảm hại hơn ngàn vạn lần.

Hữu Phương rất khéo léo khi đặt ra tình huống oái ăm, tréo ngoe, đó là mối tình tay ba, giữa Thủy – Thu Cúc và Thủy – Lệ Thu, đứa con ruột rà của Thủy. Thu Cúc xin về Trung đội thanh niêm xung phong bờ bắc phà Long Sọ, toàn nam, là phà Long Sơn bom dội đêm ngày, để gột rửa vết đen lý lịch con địa chủ. Nàng về đơn vị sống động, thay đổi hẳn, trái tim nàng chỉ dành cho Phan Vững, người đàn ông hiền lành, tốt bụng. Nhưng sự ngẫu nhiên của cuộc đời lại cho Thủy quá nhiều cơ hội, kể cả cơ hội được 2 lần ở với Thu Cúc, mà chính Thu Cúc cũng không hề hay biết. Và tất nhiên, cái gì đến nó sẽ đến. Chiến tranh mở ra trò đùa của cuộc đời. Nhưng cuộc đời lại mở ra trò đùa của cái chết tâm hồn. Sống mà như đã chết. Chết khi đang còn sống.

Lệ Thu là kỹ sư cầu đường, một đời chồng, có con gái gần 5 tuổi, là một cô gái vừa sắc sảo, thông minh vừa hoang dã, dịu dàng, nhưng rất thẳng thắn, trách nhiệm, đã khiến giám đốc Thông và kỹ sư tư vấn giám sát Hồ Rật khiếp vía khi vấp phải sự cố về quy trình kỹ thuật rải thảm bê tông nhựa. Việc Hồ Rần bị căn bệnh nan y, hay bản thân đã phải lòng Tổng Thủy cũng không làm Lệ Thu nương tay, bỏ qua chuyện lấp liếm, đồng lõa, dối trá trong xây dựng, thiết kế một đàng làm một nẻo, dẫn đến chất lượng cầu đường kém, nhanh xuống cấp. Con người, tính cách Lệ Thu khác hẳn với Thủy. Nhưng Lệ Thu lại bị sức cám dỗ mãnh liệt của con người khéo che đậy ấy. Để rồi, cô nhanh chóng trở thành chất xúc tác trình hiện những mặc cảm tội lỗi, hành hạ và trừng phạt Thủy. Sự xuất hiện của Lệ Thu khiến Thủy bị ám ảnh bởi đôi mắt Trái Tim Quỷ – Thu Cúc nhiều hơn. Đôi mắt ấy vừa khơi dậy Trái Tim Quỷ cách đây gần 30 năm đã từng khiến Thủy sống trong nỗi sợ hãi, lo lắng, vừa mê hoặc, dẫn dắt Thủy thêm lần nữa bước vào động Trái Tim Quỷ.

Mặc cảm tội lỗi chiến thắng thể xác Thu Cúc luôn ám ảnh, quấy rối Thủy, đến độ ông cảm tưởng như Trái Tim Quỷ – Thu Cúc luôn thấy tất cả việc ông làm, nhận ra con người giả, anh hùng giả của ông. Trái Tim Quỷ còn trêu ngươi ông, đặt ông trong những tình huống oái ăm: sự trùng hợp ngẫu nhiên khi Thu ôm một bó hoa dại đứng trước hang Hàm Rồng lúc ông chuẩn bị làm lễ thi công cầu Long Sơn của Công ty Bình Minh y như hình ảnh Trái Tim Quỷ đã từng ôm bó hoa rừng dõi theo con đường Mười Lăm; cái hoang cỏ ngày xưa nơi ông cởi áo ngực Thu Cúc cũng giống cái hoang cỏ mà ông gặp Lệ Thu.

Sự đồng nhất giữa huyền thoại, Thu Cúc và Lệ Thu trong hình dáng, giọng nói, ánh mắt của Trái Tim Quỷ dựng nên biểu tượng trạng thái chấn thương. Chiến tranh vừa gây nên nỗi mất mát, đớn đau vừa gọi tên đầy đủ về nỗi mất mát, đớn đau của con người. Trong tiểu thuyết, có hai gia đình, một gia đình ảo và một gia đình thật. Phan Vững, Thu Cúc và Lệ Thu là một gia đình ảo nhưng lại chịu nhiều oan khuất, đớn đau. Thủy, Thu Cúc và Lệ Thu là một gia đình thật nhưng không ai biết. Sự đánh tráo đầy nghịch lý này một mặt vừa tố cáo tính khốc liệt, bi thương của chiến tranh, mặt khác bày ra những bi kịch của người phụ nữ bị cuộc chiến dày xéo, bị cuộc đời “giỡn mặt”.

Kỹ sư Vũ Lượng, 30 tuổi, tổng chỉ huy công trình cầu Long Sơn là con của ông Chất, Thủy là thủ trưởng của ông Chất, sau cũng là thủ trưởng của cậu Lượng. Cuộc gặp gỡ giữa ông Chất và Thủy theo chuyện tình cảm giữa Vũ Lượng và Thảo Duyên, phóng viên báo ngành, đã bày ra số phận hết sức oan nghiệt, ông Thủy đã yêu con gái của mình mà ông không cách gì bôi xóa, tẩy trắng được. Ông Thủy ghê tởm chính mình. Ông tự xỉ vả mình. Nhưng ai đã chơi khăm ông? Ai đã gây ra tai họa, đẩy ông vào ngõ cụt, phải trả giá? Cuộc đời? Số phận? Ma quỷ? Hay chính con người hám danh của ông?

Nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh

Trái Tim Quỷ đã đưa đường dẫn lối để Thủy phải trả giá, một cái giá quá kinh khủng, nghiệt ngã. Thủy muốn đập nát Trái Tim Quỷ nơi hang Hàm Rồng mà bấy lâu nay trong mắt mọi người cứ ám người này đến người khác, song thực ra, Trái Tim Quỷ không đâu xa, nó ở ngay trong con người ông, cái con người chỉ sắm vai đẹp mã, còn bên trong giả dối, rỗng tuếch. Cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, quặn quại trong vết thương, cùng những lời tự thú trước hang Hàm Rồng như là quy luật nhân quả tất yếu mà ông phải chịu trách nhiệm, phải mang vác.

Từ một bến phà Long Sọ xưa, kí ức chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt hiện lên rõ mồn một. Nhất là hình thức lễ truy điệu sống tại bờ sông với chiếc quan tài cùng hương hoa vải liệm gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Ở nơi được xem là túi bom này, chỉ có nước mắt, máu và cái chết hiện hữu. Nhưng Hữu Phương mượn chiến tranh làm nền để nhân vật của mình đối diện với cuộc chiến kinh hoàng khác nữa, cuộc chiến nội tâm. Cảm thức tội lỗi trong những năm tháng chiến tranh dày vò, đè nặng lên cuộc đời Thủy, đặt Thủy trước những mâu thuẫn tự thú hay không tự thú. Mặc dù Thủy đã hơn 2 lần tự thú trước người khác rằng mình không phải là anh hùng, trước Hồ Rần – khi ông đang bị căn bệnh ung thư hành hạ và trước Hồ Rật, con trai Hồ Rần, nhưng bản thân ông vẫn không vượt qua được cám dỗ của danh vọng, vẫn bị cái vòng kim cô anh hùng thít chặt, ghìm lại, vì thế, sống trong hiện tại mà lúc nào ánh trăng nơi bến phà xưa, bóng ma của kí ức, phức cảm tội lỗi cứ mải miết bủa vây, chất vấn ông.

Chiến tranh không can dự về mặt đạo đức, nhân tính, nó chỉ góp phần bóc trần đạo đức, nhân tính của con người. Thủy, Thu Cúc, Phan Vững… đều là nạn nhân của chiến tranh. Nhưng Thu Cúc và Phan Vững không bị chiến tranh hủy hoại nhân tính, Thủy ngược lại. Hữu Phương đã gọi tên được vùng tối nội tâm Thủy: đó là sự thoái hóa nhân tính. Vẫn là kiểu kết cấu chuỗi nhân quả như một số tác phẩm trước đây nhưng Hữu Phương đã tinh tế truy tìm, lắng nghe được tiếng nói nỗi đau vang lên từ con người đang đi giữa hai lằn ranh phi luân và đạo đức, thực tế và danh vọng,… Đó là thành công của tiểu thuyết Trăng mọc nơi bến phà xưa của nhà văn Hữu Phương.

HOÀNG THỤY ANH

Báo Văn Nghệ số 37/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm