TIN TỨC

Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-07 11:43:59
mail facebook google pos stwis
1110 lượt xem

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập "Viết về Mẹ" gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả. Những trang viết trong tuyển tập là tiếng lòng thành kính của những người con hướng về mẹ – biểu tượng thiêng liêng của tình yêu thương, sự hy sinh và nguồn cội. Qua những vần thơ và trang văn giàu cảm xúc, hình ảnh người mẹ Việt Nam hiện lên vừa gần gũi đời thường vừa mang vẻ đẹp bền bỉ của lịch sử và văn hóa dân tộc. Văn chương TP. HCM xin giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Quế về ấn phẩm này.

NGUYỄN QUẾ

Sau sáp nhập, bên cạnh việc tổ chức các hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các kiện trọng đại của đất nước và mừng xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập “Viết về Mẹ”, gồm 104 bài thơ và 47 bài văn của nhiều tác giả. Đây là nỗi niềm yêu thương thành kính của những người con từ ba tỉnh thành vừa sum họp trong ngôi nhà chung cùng hướng về một “mẫu số” mang ý nghĩa thiêng liêng; từ dấu mốc ấy hứa hẹn sự gắn kết chặt chẽ của đội ngũ cầm bút ở đô thị lớn và góp phần thổi bùng lên trong họ ngọn lửa đam mê cho hành trình sáng tạo mới.

104 bài thơ trong tuyển tập là tiếng vọng tha thiết từ những con tim giàu yêu thương, xúc động. Trong tâm thức các nhà thơ, công ơn của mẹ không thể đong đếm. Vì tương lai của con cái, mẹ sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời mình và chịu mọi vất vả gian truân. Nữ nhà thơ P. N. Thường Đoan đã mượn hình ảnh của dòng sông – một thực thể trường tồn, chiếm vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần người Việt – và sử dụng các biện pháp tu từ để sáng tạo nên biểu tượng bất tử của mẹ:

“mẹ một đời cam phận dòng sông

Khi lớn – khi ròng – ngược – xuôi – vất vả…

mang phù sa bồi ruộng đời con.”

(“Nghĩ về hoàng hôn mẹ” – P.N. Thường Đoan)

Ngắm nhìn mẹ quét lá như gom nỗi buồn lại đốt trong cảnh trời chiều, tác giả Lê Minh Vũ viết những câu thơ mộc mạc nhưng giàu hình ảnh, chân thật và đầy xúc cảm:

“Bóng hoàng hôn nặng trịch

Mẹ gánh nhọc nhằn không một tiếng thở than

lưng còng…

tóc bạc…

tay run…

vắt kiệt xuân xanh nuôi con khôn lớn”

(“Viết trong chiều cuối năm” -  Lê Minh Vũ)

Nghĩ về sự hy sinh và tình thương bao la của mẹ, tác giả Hồ Thi Ca như thầm nói với mẹ bao nỗi niềm da diết trong sâu thẳm lòng mình:

“Hôm qua tóc má rám màu

Hôm nay má gửi xanh vào tóc con…

Má ơi, những giấc băn khoăn

Những buồn trăn trở, những rưng rưng sầu

Hơn sáu mươi tuổi, sớm đâu

Ai gieo vào đó cả màu thời gian”

(“Má ơi!” – Hồ Thi Ca)

Còn Mai Hoa đau đớn, băn khoăn:

“Hay là tóc mẹ hoá tiêu

Làm bông lau trắng vẫy chiều sang con”

(“Lau trắng chiều quê” – Mai Hoa)

Với nỗi nhớ thương mẹ thường trực trong lòng, nghe tiếng rao của bà bán bắp trong cảnh mưa phùn buốt giá, nhà thơ Lại Văn Long đã liên tưởng tới mẹ mình. Bụng đang đói “eo xèo”, anh mơ được mẹ ôm vào lòng và vội mua cho “bánh mỳ thịt thơm giòn” cùng “ly đậu nành ngọt ngon ấm nóng”. Nhưng rồi thực tế hiện lên trước mắt anh thật thương tâm:

Bên “bà Tiên” áo tơi, nón lá

Tiêng rao buồn nửa gánh bắp còn đầy”

(“Bà Tiên áo tơi” – Lại Văn Long)

Thấu cảm nỗi vất vả, gian truân của mẹ và ý nghĩa cao quý từ công việc mẹ làm, nhà thơ Triệu Kim Loan đã viết những vần thơ chan chứa niềm xót xa và sự cảm phục:

“Gánh gồng cuối bãi đầu sông

Áo tơi mỏng lá mùa đông gió lùa

 

Mưa giông chân bấm đường bừa

Tháng ba ngày tám cho vừa áo cơm

 

Lời ru vẳng tiếng thảo thơm

Đồng sâu ruộng cạn mẹ đơm gốc lành”

(“Mẹ chồng tôi” – Triệu Kim Loan)

Sự hy sinh to lớn, bền bỉ, dẻo dai của mẹ luôn để lại những dấu ấn không thể phai mờ. Qua những trang thơ đầy xúc cảm, các tác giả Bùi Đức Hiền, Cao Quảng Văn, Trăng Khuyết, Kim Ngoan, Nguyễn Văn Ân, Trần Thanh Hải, Đòan Thị Diễm Thuyên, Hoàng Hương Lan, Hoàng Ngọc Châu… đã khắc hoạ rõ nét công ơn trời biển của mẹ. Nữ tác giả Đỗ Anh Thư có những giây phút rung động sâu sắc trước hình ảnh đầy thương cảm của bậc sinh thành:

“Con đếm thời gian trên mái đầu tóc bạc

Của mẹ yêu trong nắng nhạt trời chiều

Khoẻ mắt mẹ nhìn xa vắng, nhăn nheo

Những dấu chân chim hằn theo năm tháng”

(“Sợi tóc của mẹ” - Đỗ Anh Thư)

Với niềm yêu thương da diết luôn hiện diện trong tâm trí, thoáng nhìn thấy ai đó giống mẹ mình “thẫn thờ” bên “lối cũ” trong cảnh trời chiều, Trần Thanh Bình cảm thấy xao xuyến, bâng khuâng:

“Chiều nay lối cũ thẫn thờ

Hao hao giống mẹ bên bờ cái quan

Đội đầu một thúng đa đoan

Đấu đong nước mắt ngày xoan con cầm”

(“Gương mặt mẹ” – Trần Thanh Bình)     

Nhưng mẹ không chỉ là biểu tượng của đức hy sinh. Mẹ còn luôn kiên cường vượt qua mọi nghịch cảnh. Nguyễn Minh Ngọc Hà đã nói lên điều đó khi chị bộc bạch:

       “Trăng khuyết tròn – mẹ vẫn trọn tình thương

Cột trụ không còn – nhà một tay mẹ chống

Đàn con lớn khôn qua năm dài tháng rộng

Đòn gánh cong dần theo dáng mẹ liêu xiêu”

(“Rất lâu rồi con sợ sẽ mồ côi…” – Nguyễn Minh Ngọc Hà)

Ở góc độ khác, nữ tác giả Hoài Hương đã nói lên một sự thật đớn đau làm lay động trái tim đọc giả: cả cuộc đời mình, mẹ không có lấy một phút giây ngọt bùi, một niềm vui nho nhỏ ngoài việc được nghe tiếng con mình. Người đành lấy đó làm chất keo để vá víu những mảng đời bất hạnh:

“Cả một đời mặn chát

Mẹ vá víu đời mình bằng tiếng con thơ”

(“Mẹ” – Hoài Hương)

Rồi một ngày, những đứa con thân yêu mẹ đứt ruột đẻ ra và dành hết tâm sức nuôi nấng, dưỡng dục cũng từ biệt mẹ ra đi, để lại mình mẹ đơn côi giữa cuộc đời rộng lớn nhiều khi đầy giông bão:

      “Năm đi qua

Tháng đi qua

Một mình mẹ

Một hiên nhà

Vắng tanh…”

(“Bóng lá” - Đào Phong Lan)

Sau những năm tháng dài đầy cơ cực, quãng đời còn lại của mẹ là sự mòn mỏi đợi chờ. Sự chờ đợi, ngóng trông nhiểu khi còn ray rứt, giằng xé đớn đau hơn cả những gian nan thử thách mẹ từng phải gánh chịu và vượt qua:

 “Sao mãi con không về

Mẹ lòng hanh hao quá

Đời cứ mãi gian truân

Mẹ rừng – con cuối bể”

(“Gửi mẹ “Gió Lào” – Lê Thị Kim)

Vất vả gian truân, chờ đợi mỏi mòn nhưng mẹ không hề quở trách. Người âm thầm chịu đựng và càng thương con mình hơn. Thành kính trước trái tim bao la của mẹ, tác gỉả Phạm Thanh Bình đã viết:

“Mênh mong sông, biển, đất, trời

Sánh sao lòng mẹ cả đời bao dung”

(“Lời kinh muộn” – Phạm Thanh Bình)

Về phía những người con, dẫu xa cách, họ vẫn luôn vẹn nguyên tình mẹ trong tim. Trong tâm tưởng, họ luôn mong ước được trở vể để sà vào vòng tay thân thương của mẹ, được mẹ vuốt ve âu yếm như những ngày thơ ấu. Bởi mẹ là máu thịt, là nguồn cội thiêng liêng, là nơi để về. Nữ nhà thơ Kim Mai bồi hồi tự nhủ:

“Ta về ngày tháng ca dao

Bế bồng mẹ hát ngọt ngào ầu ơ…

Ta về tìm lại tuổi thơ

Nép vào lòng mẹ nằm mơ giao thừa”

(“Về thôi!”– Kim Mai)

Với Võ Miên Trường, bóng dáng mẹ luôn hiện lên như một “dấu hỏi buồn” giữa thời gian và không gian dài rộng của vũ trụ, của cuộc đời, ngồi bấm đốt ngón tay “đếm mòn tháng năm” từ ngày “cha cưỡi hạc xa xăm”. Hình ảnh ấy đã tạo nên một ấn tượng không thể phai mờ và làm nhói đau trái tim người đọc:

“Mẹ ngồi cong dấu hỏi buồn

Thương bàn tay mỏi đếm mòn tháng năm

Từ cha cưỡi hạc xa xăm

Mẹ ngồi như tượng lệ thăm thắm mùa”

(“Mẹ cười mẹ đủ xoá phiền muộn con” – Võ Miên Trường)

Dù sao, thật may mắn đối với những ai còn mẹ trên đời. Bởi mẹ chỉ có một, mẹ là tất cả, không gì có thể thay thế được. Nhưng nữ nhà thơ Trần Kim Dung không còn được hưởng niềm hạnh phúc to lớn ấy. Tuy vậy, dù mẹ đã đi thật xa, mang theo cả những nỗi tảo tần, lo âu, đau đớn, hình ảnh mẹ vẫn mãi khắc sâu trong lòng chị:

“Mẹ tôi từ giã cõi trần

Mang theo năm tháng tảo tần lo âu

Mang theo cả những cơn đau

Năm mươi năm vẫn khắc sâu không mờ”

(“Mẹ ơi!” – Trần Kim Dung)

Nói về người mẹ Việt Nam, còn nói tới Mẹ Tổ quốc với biểu tượng thiêng liêng là mẹ Âu Cơ. Tự hào trước sự bình dị mà cao cả của mẹ, tác giả Trầm Hương đã viết nên những câu thơ hào sảng:

“Khi mẹ Âu Cơ trở dạ sinh bộc trứng thân kỳ

Chân Người ngập phù sa sông Hồng

Đăm đắm nhìn sông Hậu

Quặn lòng một khúc ca dao

 

Phù sa chảy qua thời gian

Đa mang như lòng mẹ

Chân trần mẹ đi và đi…”

(“Hành trình những bà mẹ chân đất” – Trầm Hương)

Trong dòng chảy lịch sử mấy ngàn năm chống giặc ngoại xâm bi hùng của dân tộc, biết bao thế hệ phụ nữ Việt Nam đã tiễn người thân ra trận rồi phải chịu cảnh mòn mỏi trông chồng trong con, và rất nhiều người trong số họ đã đi mãi không về. Người mẹ yêu kính của nhà thơ Lê Tiến Mợi là một trong những người phải chịu nỗi thương đau to lớn ấy:

“Tám mươi tuổi lệ nhoà mắt mẹ

Chiến tranh qua…Anh đã không về”

(“Mừng tuổi mẹ 80” – Lê Tiến Mợi)

Đọc những câu thơ sau đây của tác giả Trần Mai Hường, người đọc quặn lỏng trước cảnh người mẹ mất con mà không biết rõ nơi con mình ngã vào lòng đất hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước và ước mong một lần được vào thăm nơi con mình hy sinh:

“Con hy sinh ở chiến trường miền Nam

Miền Nam là ở đâu

Đã bao lần mẹ hỏi mình trong đêm cùng nước mắt...

Mẹ muốn được vào tận nơi con đặt dấu chân

Nơi con ngã xuống máu xương đã thấm sâu vào đất

Để được trò chuyện với cánh rừng xanh mướt

Bởi hồn con cùng đồng đội còn đây”

(“Ước mong của mẹ” – Trấn Mai Hường)

Cảm động biết bao khi ta được tiếp cận với nỗi đau thương chồng chất của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Đa qua bài thơ “Bông bười trắng” của tác giả Bùi Thị Phương Lan. Chỉ “một tháng vợ chồng mẹ hoá đơn côi”. Nỗi đau mất chồng còn chất chứa trong lòng, trong cảnh quân thù ngày đêm dày xéo quê hương, mẹ lại phải hiến dâng người con gái thân yêu của mình cho kháng chiến khi “xác thân chị hoá đất trời”. (“Bông bưởi trắng” – Bùi Thị Phương Lan)

Mất mát đau thương đến tột cùng nhưng những người vợ, người mẹ Việt Nam không bao giờ gục ngã. Với tâm hồn cao thượng và ý chí kiên cường bất khuất, họ đã đứng lên tiếp tục hiến dâng cuộc đời mình cho Tổ quốc với tâm thế của những người luôn biết làm chủ mọi hoàn cảnh. Điều đó đã được tác giả Trần Hà Yên tái hiện đậm nét qua hình tượng người mẹ anh tôn vinh:

“Từ vết thương

Mẹ hoá thành đất nước

Thành cội nguồn

Thành dòng sông

Chở Tổ quốc đi qua mùa bão lửa

Mà vẫn hiền hoà như nắng mùa thu”

(“Mẹ - dòng sông Tổ quốc” – Trần Hà Yên)

Hết mực tin yêu, kỳ vọng vào con mình và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, “Mẹ đã tạc hình Tổ quốc” vào những người con yêu quý từ thuở ấu thơ và kìm nén tình cảm riêng tư. Với niềm tôn kính, tự hào, nhà thơ Nguyễn Văn Thanh viết:

“Mẹ đã tạc dáng hình Tổ quốc

Trong lòng con từ lúc ra đời

Còn tình thương:

mẹ vẫn ủ dưới vành môi”

(“Mẹ tạc hình Tổ quốc trong con” – Nguyễn Văn Thanh)

Những phẩm chất cao đẹp của mẹ đã hun đúc nên những anh hùng và có sức lan toả mãnh liệt. Từ niềm kính yêu và lòng biết ơn vô hạn, chỉ qua “ánh nhìn” từ trong khung ảnh của Mẹ Nguyễn Thị Thứ - người mẹ của 9 người con liệt sỹ - nhà thơ Phạm Đình Phú cảm nhận:

“Từ trong khung ảnh, dõi xa xăm ngắm kỹ các con,

 Mẹ vẫn kiên trung niềm tin yêu như ngày đó

Dáng Mẹ tinh nhanh, tươi tắn tràn trề hạnh phúc ước mơ…”

 (“Từ trong ảnh nhìn” – Phạm Đình Phú)

Như tiến sỹ – nhà thơ Nguyên Hùng, người tuyển chọn và biên tập phần thơ đã nói, viết về mẹ không cần tô vẽ, ẩn dụ cầu kỳ hay phô diễn kỹ thuật. 104 bài thơ trong tuyển tập phần lớn rất giản dị và chân thực. Chậm rãi đọc từng trang thơ, ta có cảm giác như đang bước vào một “thế giới của cảm xúc nguyên bản”. Nhiều bài thơ đã chạm tới trái tim người đọc. Có những câu thơ làm lòng ta đau xé hoặc xao xuyến, bâng khuâng. Tuy nhiên, cũng có những bài câu chữ chưa thật ổn nhưng chúng ta cảm thấy chấp nhận được bởi nội dung rất “đời”, rất đáng nói.

Phần văn xuôi, theo “Lời ngỏ” ở đầu sách, “như mang dáng dấp một cuốn phim ký ức với khuôn hình chậm rãi, lặng thinh, day dứt”. Tác giả Trần Đôn trong tác phẩm “Người phụ nữ của huyền thoại” viết về mẹ Lê Thị Não, người phụ nữ mà cuộc đời “vắt qua hai thế kỷ”, đã đi vào ký ức của nhân dân Dĩ An (cũ) “bằng những tháng năm máu lửa”. Trong hai ngày liên tiếp, mẹ được lãnh đạo tỉnh tổ chức hai buổi lễ long trọng: Lễ trao tặng Huy hiệu 75 tuổi Đảng và lễ mừng thọ 100 tuổi. Trong các cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc, mẹ đã sát cánh cùng chồng  mấy chục năm tham gia hoạt động cách mạng, dũng cảm vượt qua bao chông gai thử thách. Bị địch bắt và dùng các thủ đoạn nham hiểm, tra tấn một cách dã man, mẹ vẫn một mực kiên trung bất khuất, dành chiến thắng để trở về với nhân dân và đồng đội, tiếp tục cuộc chiến đấu. Noi gương mẹ, các con của mẹ cũng tham gia hoạt động cách mạng từ lúc mới 12, 13 tuổi. Anh Lê Hồng Phương, người con trai thứ của mẹ làm giao liên, bị địch bắt và tra tấn giã man vẫn dũng cảm vượt qua, giữ vững bí mật. Sau ngày thống nhất đất nước, cả bốn người con của mẹ đều trưởng thành.

Tác giả Võ Thị Nhạn qua bài viết “Tiếng rao gợi nhớ gợi thương” nói về một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở chiến khu Thuận An Hoà xưa, sau khi chị được nghe người con trai duy nhất còn sống của mẹ kể lại trong một chuyến Về nguồn đầy kỷ niệm. Qua câu chuyện, cuộc đời mẹ hiện lên bình dị, chân chất vả cao đẹp biết bao. Mẹ vốn làm nghề truyền thống của gia đình là đan lát và đẽo đòn gánh. Làm ngày tất bật, mẹ cật lực làm đêm. Sáng sớm trên con đường làng cỏn ướt hơi sương, mẹ đã gánh gồng bước đi vội vã cho kịp phiên chợ ban mai. Vất vả vậy nhưng những đứa con vừa lớn lên, mẹ hiến dâng cho Tổ quốc. Lâu lâu dành dụm được ít tiền, mẹ mua sắm vài món đồ cần thiết để cùng với các dì, các cô âm thầm tiếp tế cho cách mạng. Nhưng, cảm động biết bao, trong ngày vui lớn của dân tộc, mẹ và những người mẹ có con đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đều cảm thấy bùi ngùi thương nhớ các con. Để che mắt địch, lúc còn chiến tranh, mẹ phải kìm nén nỗi đau thương mất mát trong lòng. Ngày đất nước thống nhất mẹ mới công khai sửa soạn bàn thờ để thờ các liệt sỹ con của mẹ. Ngày giỗ các con, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, hoa trái toả hương và mâm cơm cúng đậm đà đủ hương vị quê nhà mà hồi nhỏ các anh chị thường được mẹ nấu cho ăn. Mẹ, các dì, các cô ngồi lại bên nhau nhắc lại chuyên xưa, nhớ nhớ thương thương, rưng rưng nước mắt… Ngày thường, mẹ vẫn sống cuộc đời bình dị. “Ai mua thúng, rổ, sàng, nia…đòn gánh hôn”. Tiếng rao nghe sao gợi nhớ, gợi thương một thời mẹ nâng niu, gìn giữ từng bụi tre, khóm trúc…

Với lòng thành kính và niềm tự hào to lớn, tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh dẫn dắt đọc giả đến với câu chuyện của chính mẹ mình trong bài viết “Mẹ tôi – Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Hương”. Năm 1945, hướng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Tuần lẽ vàng”, nhà có bao nhiêu vàng vợ chồng mẹ đem ra cống hiến hết. Mẹ có 11 người con, 5 trai 6 gái. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mẹ cho 3 con trai vào Vệ quốc quân ra trận chống giặc. Khi 2 người con trai còn lại đủ tuổi, mẹ cho vào Vệ quốc đoàn. Người con trai đầu của mẹ bị đich bắt, bị chúng chặt đầu bêu trên cầu Phú Ốc ở sông Hương. Rồi chồng mẹ hy sinh, 2 người con khác của mẹ cũng thành thương binh. Làm theo đồng bào dân tộc Vân Kiều, mẹ địu con sau lưng lao động cực nhọc để nuôi những người con nhỏ dai còn lại ở chiến khu Thuỷ Ba rừng thiêng nước đỏc, thú dữ hoành hành. Cuộc sống đói kém, nhà bị đốt 5 lần, giặc truy lùng gắt gao, cọp rình rập bắt người ăn thịt, tang thương chồng chất, nhưng mẹ kiên cường vượt qua tất cả. Lúc rảnh rỗi, mẹ còn dạy các con hát các bài ca cách mạng. Sau giải phóng, mẹ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng khi đã từ trần hai năm. Mẹ đã đi xa nhưng câu chuyện về cuộc đời mẹ cỏn làm ấm mãi lòng người đọc.

Trong cuộc sống của chúng ta, có những con người nhìn bề ngòai có vẻ tầm thường, yếu đuối, nhưng ẩn chứa bên trong một nghị lực phi thường. Họ chuẩn mực, chín chu, nói ít làm nhiều và có nhân cách cao thượng khiến xung quanh phải nể phục. Người mẹ của Nguyễn Minh Ngọc trong tác phẩm “Mẹ tôi là một nông dân” là một trong những người như

Vậy. Quê mẹ là “mảnh làng thuần nông” bên dòng sông Lam ở Hà Tĩnh. Theo lời tác giả bài viết, mẹ thuộc một trong hai dòng họ danh giá trong làng, Mẹ có 9 anh chị em. Ông ngoại anh mất sớm. Bà ngoại nuôi các con vẹn toàn. Thừa hưởng gien trội của bà, tuy vốc dáng nhỏ nhắn nhưng mẹ rất giỏi công việc đồng áng. Chỉ được học qua Bình dân hoc vụ, nhưng mẹ có cả kho truyện cổ tích. 17 tuổi, mẹ đi dân công hoả tuyến, gánh gạo sang Lào. Bị ốm thập tử nhất sinh, mái tóc dài chấm gót rụng trụi. Nhìn thấy đầu mẹ trọc lóc, những người không biết nguyên do tưởng là sư cụ. Về sau, nhiều lần người ta giục kê khai để hưởng chế độ tham gia kháng chiến nhưng mẹ chỉ lắc đầu cười, không chịu làm. Chồng mẹ thoát ly, mọi công việc mẹ gánh vác. Ở vùng đất lụt, mỗi năm có nhiều trận “hồng thuỷ” lớn nhỏ, mẹ chủ động chuẩn bị dầu đèn, lương thực, thực phẩm, gia cố nhà cửa, làm bè nhốt gia súc gia cầm, nước dâng đến đâu bè neo nổi lên lên tới đó nên “sống chung” được với lũ lụt, trong khi nhiêu gia đình có đàn ông “sức dài vai rộng” lụt về thì cuống quýt. Đã vào U100 nhưng đầu óc mẹ còn khá. Từ lâu mẹ vẫn thường nhắc các con: “của DÂN có nọc”. Ngắn gọn vậy nhưng các con mẹ luôn nhớ và ngẩng cao đầu, không dám trái lời.

Tác phẩm “Mười ba năm gian truân đời mẹ” của Nguyễn Bính Hồng Cầu nói vể một quãng đời đầy đắng cay, gian nan thử thách “không có kích cỡ văn tự nào gói hết” của mẹ. Người mẹ mà chị gọi là“người đàn bà đi qua tâm bão” ấy đã “bước ra từ xà lim khám tối, mang trên vai món nợ nước thù nhà”. Tiếp nối đoạn trường ấy là “mười ba năm đánh Mỹ, bầu trời đặc sảnh khói bom. Cánh đồng khắc khoái gió, luống cày chết ngạt, từng ngọn cỏ, cành cây cũng dập bầm thương tích. Trong cảnh tang thương ấy, “mẹ một mình bám đất gieo hạt giữa tan hoang”, kiên cường chống trả mọi thủ đoạn nham hiểm và tàn bạo của quân thú.Nhưng, qua trang văn của chị, người đọc cảm thấy đời mẹ không chỉ có đắng cay mà còn tràn đầy ý chí, nghị lực và sự quá cảm để vượt qua mọi gian nan, thử thách. “Trong trái tim mẹ, ngọn lửa niềm tin luôn rực cháy”. Qua bao bão tố phong ba, mẹ vẫn vững bước, “chân không rời ruộng, rời đồng”. Bởi “nơi đó còn máu xương đồng đội, có hạt lúa no lòng các con chiến sỹ”. Nhờ có niềm tin và nỗ lực to lớn ấy, vinh quang đã đến với cuộc đời mẹ: “Ngày giải phóng, mẹ về trong nắng sớm, đôi chân trần còn in dấu bùn đen, đất cúi đầu chào mẹ - người giữ đất, cỏ rạp mình nâng bước người đi”. Ta cảm thấy rất đỗi sung sướng, tự hào và chợt nhận ra rằng, hình ảnh mẹ gắn liền với Mẹ Tổ quốc.

Với những trang văn bình dị và trang trọng, qua bài viết “Má tôi”, tác giả Trịnh Bích Ngân trải lòng: “Hai năm nay má không còn khoẻ. Các con ở xa, lúc má đau bệnh mới vội vã quay về, và cũng vội vã lên TP.HCM khi má vừa khoẻ lại. Đứa nào cũng vướng víu việc chung, việc riêng và đứa nảo cũng cảm thấy day dứt bởi thời gian dành cho đấng sinh thành quá ít”. Chị bồi hồi nhớ lại, ba chị đi tham gia kháng chiến, là vợ “Việt cộng” nên má chị phải đùm túm mấy con nhỏ cùng một số vật dụng cần thiết, “rời nhà cửa, bỏ đất đai, lặng lẽ ra đi trong đêm”.  Để nuôi mấy người con còn nhỏ, mẹ chị phải làm lụng vất vả, cực nhọc. Ngôi nhà sàn lợp bằng lá dừa nước được chính quyền vùng kháng chiến giúp cất nằm dưới tán cây rừng bên ngã ba sông của gia đình chị trở thành điểm dừng chân của nhiều đoàn quân giải phóng và cũng là điểm lọt vào ống nhòm từ trực thăng địch. Nhà 2 lần bị bom thiêu cháy, má chị phải vất vả làm lại. 9 tuôi, chị phải cật lực đỡ đần công việc cho má, lại phải vừa làm chị, vừa làm mẹ người em 2 tuổi. Là một cán bộ của hội phụ nữ và là nữ hộ sinh, dù vất vả gian nan, má chị xem việc giúp đỡ người khác là niềm vui và hạnh phúc. “Bất kể giờ giấc, bất chấp đêm hay ngày, nắng hay mưa, nước ròng hay nước lớn, kể cả máy bay quần thảo trên đầu, má luôn sẵn sàng. Nếu sản phụ ở xa và trở dạ vào ban đêm, má kéo 3 đứa con lóc nhóc theo cùng”. Nhiều lần gặp tỉnh huống ẻo le nhưng “má luôn bình tĩnh trước mọi tình huống và là một chiến binh quá cảm”. Công việc nặng nhọc, đời sống khó khăn nhưng má rất lạc quan, hăng say các hoạt động văn – thể - mỹ. Với niềm yêu thương da diết, chị bồi hồi nhớ kỷ vật mẹ chị để lại: “Quyển sổ chép nhạc của má với nét chữ không thể lẫn với nét chữ của bất cứ ai. Nét chữ từ bàn tay vừa dịu dàng vừa rắn rỏi của bà đỡ đẻ”. Đối với nử nhà văn, có lẽ không gì thiêng liêng, cao quý bằng tình mẹ.

Trong tác phẩm “Chứng minh thư của má”, nhà văn Lưu Thành Tựu lại nói về nỗi đau đớn vì bệnh tật của một người mẹ già cùng tấm lòng hiếu thảo, sự vất vả của người con trai khi chăm mẹ ốm. Câu chuyện có nhiểu tình tiết gây xúc động như đoạn anh viết về tình huống sau: “Hôm bữa vào nhà vệ sinh, má phun bã trầu không đúng chỗ bị cô tạp vụ chửi um, nghe vậy hắn chạy vào líu ríu: “Cô thông cảm, má tôi uống thuốc quá nhiều nên mắt mờ hết rồi, cô để tôi làm thay”, hay cảnh “hắn dìu má mình vào nhà vệ stnh để lấy nước tiểu xét nghiệm, hoặc cõng bà lên tận lầu hai để đo điện tim, cõng xuống tầng một để đo huyết áp”. Đoạn miêu tả tình trạng bệnh tật của người mẹ cũng tạo cảm giác rất thương tâm. Thương nhất là đoạn nói vể tâm trạng của người con sau khi mẹ mình qua đời: “Những ngày sau đó, đi qua bệnh viện, hắn thèm vào trong ngồi trên ghế đá dù có chờ đợi mỏi mòn, thèm được nghe y tá dõng dạc gọi tên để ngời ngời hạnh phúc mà nói với cô rằng, nè cô, má tôi nè cô” và sự ray rứt của anh khi không giữ được hình ảnh mẹ bên mình vì đã làm mất chứng minh thư của mẹ.

Cũng như phần thơ, mỗi trang văn trong tuyển tập đều chan chứa tình yêu thương dạt dào đối với mẹ. Bên cạnh những câu chuyện cảm động trên đây, chúng ta thông cảm và sẻ chia với những nỗi niềm sâu sắc của Trân Thế Tuyển, Nguyễn Phương Dung, Đào Đạt, Thái Hà, Trần Thanh Hải, Nguyễn Hoàng Trung Hiếu, Hoài Hương, Tăng Quảng Kiện, Phùng Thị Trang, Minh Hương, Hoàng Hương Lan, Đông Nhật…; trân trọng khoảng trời bình yên bên mẹ của Duyên, Kim Loan, Phan Thanh Tâm…

Có thể nói, tuyển tập “Viết về Mẹ” là tràng hoa tươi thắm, nhiều màu sắc dâng lên Mẹ kính yêu. Đây thực sự là một ấn phẩm quý, nhiều ý nghĩa của Hội Nhà văn Thành phố.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm