TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Với nhà thơ Hoàng Cầm, Kinh Bắc như một cõi giao giữa hiện thực và huyền thoại

Với nhà thơ Hoàng Cầm, Kinh Bắc như một cõi giao giữa hiện thực và huyền thoại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-27 00:04:29
mail facebook google pos stwis
2494 lượt xem

Đi hết tháng giêng năm 2022, nếu còn sống nhà thơ Hoàng Cầm sang… tuổi 100 (1922-2022). Hình ảnh người từ trăm năm nhắc độc giả nhớ lại tập Men đá vàng của thi sĩ mà Kinh Bắc như cõi giao giữa hiện thực và huyền thoại.

“Bát Tràng. Một trưa hè không năm tháng. Có một người trai trẻ rời thuyền tìm lối đi lên, như leo dốc núi” – đoạn văn trên được chép lại từ một quyển sách cũ của thi sĩ Hoàng Cầm (in năm 1989), chỉ vỏn vẹn hơn sáu mươi trang. Sách thuộc dạo NXB Trẻ vẫn còn trên đường Thái Văn Lung (Q.1, TP.HCM). Với tranh bìa là một bức tĩnh vật sơn dầu của họa sĩ Đỗ Quang Em, bìa do họa sĩ Đinh Cường thiết kế, nổi lên cái tên Men đá vàng.


Thi sĩ Hoàng Cầm.

Bên trong, dưới chữ Men đá vàng có mở ngoặc đề đôi dòng: Một truyện thơ về người thợ gốm Bát Tràng. Thời xưa, Bát Tràng thuộc trấn Kinh Bắc, một Kinh Bắc của văn hóa và lịch sử, với những trai đời Trần mang “Nợ nước xóa ơn vua”; với gái Hậu Lê “Từng đêm vuốt bụng” như để xoa dịu đứa con “Khóc âm y trước lúc ra đời” . Một Kinh Bắc mà nhà thơ nguyện trở về:

Con đấy ư

Con đã về Kinh Bắc

Những cỏ Bồng Thi

Với dế đầu si

Những lá diêu bông

Với đôi xe hồng

Luân lưu thụ thai qua chín đời

(Luân hồi)

Thi sĩ Hoàng Cầm đi về một chốn không ngày tháng

Mỗi bài thơ Hoàng Cầm viết về vùng đất này như mỗi cuộc trùng sinh, ra đi rồi trở về như bánh xe thời gian. Kinh Bắc của Hoàng Cầm như một cõi giao giữa các thời đại, giữa xưa và nay, giữa hiện thực và huyền thoại. Giữa cõi ấy, Bát Tràng hiện ra dưới mắt Hoàng Cầm: “Thôn Bát Tràng, tả ngạn Hồng Hà, từ kinh kỳ sang phía Đông, chừng mười dặm làng xúm xít tranh, ngói, gạch màu nước vôi, quần tụ trên bãi cao nằm vào chỗ sông uốn khúc. Tường cao, ngõ hẹp dài ngắn dọc ngang chằng chịt bàn cờ”.

Tập Men đá vàng mở đầu bằng phần dẫn mang dáng hình của một truyện ngắn. Truyện kể về một chàng trai đi đến Bát Tràng tìm gặp nàng Phong Kiều. Người con gái như đi ra từ huyền thoại với đôi mắt chỉ cần nhìn cũng khiến kẻ đằng đằng sát khí phải buông dao. Trai gái Bát Tràng đều si mê đôi mắt ấy.

Chỉ tiếc một điều, nàng đã có chồng và như lời nguyền của bao người con gái có chồng trong thơ Việt Nam, nàng không hạnh phúc.


Bìa tập sách là một bức tĩnh vật sơn dầu của họa sĩ Đỗ Quang Em, do họa sĩ Đinh Cường thiết kế.

Phần dẫn truyện in chữ nhỏ li ti, phải đọc xong thì mới hiểu trọn những bài thơ phía sau. Ngày xưa Nguyễn Du diễn thơ Truyện Kiều từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. Trong Men đá vàng, Hoàng Cầm vừa đóng vai Thanh Tâm Tài Nhân vừa đóng vai Nguyễn Du. Một liên văn bản giữa mình với mình, thơ và văn bổ sung cho nhau, như nước, đá, đất cùng hòa quyện tạo thành chất men gốm Bát Tràng.

Thơ Hoàng Cầm gợi mùa xuân. Mùa xuân của Hoàng Cầm khác với Nguyễn Bính. Nếu với Nguyễn Bính, mùa xuân là mùa ly hương, của nỗi cô độc:

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ôi, chị một em, em một chị

Trời làm xa cách mấy con sông

(Xuân tha hương)

Một sự ngậm ngùi như trong thơ Thế Lữ trong Giây phút chạnh lòng:

Rũ áo phong sương trên gác trọ.

Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

Xuân của Hoàng Cầm không cô độc, thơ ông lúc nào cũng gợi sự đầy lên, đông đúc, của hội hè, của vẻ đẹp khỏe khoắn, căng tràn như bài Suốt tháng giêng:

Suốt tháng giêng mưa xuân trắng ngõ

Những người gái thôn Dương Ô

Đập sợi thâu đêm

Khi nắng lên se chỉ trắng ngoài thềm

Khi giăng lên đưa con thoi dệt vải

Tiếng hát chập chùng, mái gianh phủ khói

Chị em hẹn nhau ngày hội sang năm

Sẽ hát thi ba mươi sáu giọng bổng trầm

Những người con gái thôn Dương Ô ấy hẳn còn trẻ, còn yêu cuộc đời lắm. Trong không khí mùa xuân này, họ không tiếc nuối xuân xưa mà đã nghĩ đã mùa xuân sau, một mùa hội khác, còn hẹn nhau hội sang năm.

Trong tập Về Kinh Bắc, phần Nhịp 6: Điểm trang dành riêng cho những bài thơ về hội hè, với những cuộc thi sợi bún, thi ăn mía thổi cơm, thi đánh đu, thi hát đúm, thi dệt vải, thi thêu gấm; với hội chen Nga Hoàng, hội Gióng, hội Long Khám, hội Vân Hà…

Có lẽ vì sinh vào tháng giêng, tháng đầu tiên của mùa xuân, nên trong thơ Hoàng Cầm lúc nào cũng căng tràn không khí xuân, với những lời ca, khúc hát, rộn rã khắp nơi. Truyện thơ Men đá vàng gồm các “khúc ca phong kiều”, “câu hát Phù Du” (Phù Du là tên chồng Phong Kiều), “nhịp điệu Hồng Châu” (Hồng Châu là cha Phong Kiều)…

Nàng Phong Kiều tìm chồng đến sức tàn lực kiệt mà hóa đá. Phù Du ôm vợ đá mà đổ lệ. “Cụ già Hồng Châu hứng nước mắt ấy, lấy đá ở thân con gái giã thành bột, hòa lọc thành men, mà cụ đặt tên là Men đá vàng”. Cái đẹp từ tình yêu thủy chung của người vợ:

lửa ráp lò hồng

em níu vai anh mê ly

từng li ti mi li đất chín

ửng rồi men chuốt dáng

thanh xuân

Từ tình yêu của người chồng:

về Bát Tràng phù sa dài silicát lệ

khuấy men em

sống lại

ơi Phong Kiều

Và từ công tạo tác thiêng liêng của tình phụ tử:

Con nghe chứ

Hỡi Phong Kiều! – Cha gọi

Men chảy đâu? Lên ngôi!

Mùa xuân trong thơ Hoàng Cầm có chiều kích rộng nhưng thi nhân ít khi cô lẻ. Bởi mỗi câu thơ ông viết, ông tự tin rằng phía sau mình là cả một truyền thống, một bề dày lịch sử “chống lưng”.

Hoàng Cầm đi như chàng trai trong Men đá vàng đi về Bát Tràng, Kinh Bắc. Ông đi về một chốn không ngày tháng. Thất bại trong hiện tại, ông sống trọn với quá khứ, vịn vào một giá trị vững chãi trước biến thiên. Tất cả cái đẹp, sức sống vững bền nhà thơ phụng hiến cho mùa xuân: “Cho Văn Lang Hồng Bàng Kinh Dương Vương đi? Men đá vàng dào dạt sóng dâng xuân…”.

Và Hoàng Cầm từ cõi trăm năm ấy đi trên con thuyền vượt sông, đến bờ bên kia, như một cuộc thay da, trở về tuổi trẻ.

 Huỳnh Trọng Khang/Vanvn

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm