TIN TỨC

Anh nằm đây – trẻ mãi tuổi hai mươi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-08 08:34:24
mail facebook google pos stwis
1708 lượt xem

TRƯƠNG NGUYÊN TUỆ

Quen biết nhà thơ cựu chiến binh Trần Ngọc Phượng, tôi hằng cảm phục tình nghĩa bạn bè, đồng đội của anh, rất nồng hậu, rất thủy chung. Như với Đoàn Công Tính, bạn từ thời tiểu học; với Mai Dân đồng hương, đồng nghiệp thơ văn hiện nay, luôn luôn tựa bát nước đầy. Đặc biệt với đồng đội đã hy sinh, Trần Ngọc Phượng nhớ họ tên, quê quán từng người, trong trường hợp nào, tại địa điểm nào... Mười năm hoạt động trên chiến trường Đông Nam Bộ khốc liệt, anh từng trực tiếp vuốt mắt tiễn đưa bao đồng đội ngã xuống khi tuổi còn rất trẻ. Niềm tiếc thương lưu lại trong nhiều vần thơ từ thuở trước đến tận hôm nay. Nhân tháng 7 về, tôi chân thành nhắc lại những cảm xúc ấy của anh. Cũng là chút tình cảm bạn bè trao đổi với nhau, khi không có nhiều dịp gặp gỡ vì tuổi cao sức yếu.
 

Anh nằm đây, trẻ mãi tuổi hai mươi!

Đó là câu thơ, đồng thời là tiếng thốt từ trái tim Trần Ngọc Phượng khi đi qua cầu Rạch Chiếc trên con đường chính dẫn vào Sài Gòn từ phía Đông. Như mọi người từng biết, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử lữ đoàn biệt động 316 được giao nhiệm vụ chốt giữ chiếc cầu yết hầu này để đại quân ta với nhiều xe tăng và trọng pháo, hành tiến thuận lợi vào Sài Gòn. 52 cán bộ, chiến sĩ đặc công - biệt động Quân giải phóng đã anh dũng hy sinh.

Để hôm nay sau gần 5 thập kỷ: “Bãi cỏ hoang, nơi anh nằm/ Mọc lên những toà nhà hiện đại nguy nga/ Ánh đèn đêm như vạn ánh sao sa...”. Và con người có được: “Niềm tin như sắc nắng ửng hồng/ Nơi cửa ngõ anh nằm/ Thành phố mới vào xuân” (Nơi cửa ngõ anh nằm).

Bài thơ Trần Ngọc Phượng viếng liệt sĩ Thanh Tề, một đồng đội trẻ mà anh gọi là “em”, lưu lại trong tôi ấn tượng sâu sắc bởi tính chân thực cao: “Buổi chiều em ra đi/ Mưa giăng giăng ngoài lộ/ Áo xắn tay/ Tiểu liên quàng trước cổ/ Em hiên ngang đi trước hàng quân/ Em ngã xuống/ tư thế tiến công/ Trong trận đánh/ Quân thù đông gấp bội/ Xác để lại/ Bên cánh rừng lầy lội/ Buổi chiều hoang tê tái mưa sa/ Mấy chục năm qua...”.

Đồng đội và gia đình, trong đó có Phượng, đã bỏ bao công sức đi tìm mộ Thanh Tề, nhưng vẫn vô vọng: “Đất nước mình mênh mông/ Cong cong hình chữ S/ Làm sao anh đi hết/ Vạn nấm mộ vô danh...

Để kết lại bài thơ, tác giả không nói thêm những lời ngậm ngùi tiếc thương mà gợi lại một hình ảnh cũ, rất thật và gợi cảm: “Chỉ thấy em về/ Nheo mắt cười tinh nghịch/ Chúng mình dễ gì chết/ Nếu chết rồi dễ gì mất xác/ Mất xác rồi còn nấm mộ vô danh”.

Tôi từng đọc đoạn kết này nhiều lần và rưng rưng ngấn lệ!

Qua bài thơ “Bên nấm mộ vô danh” vừa dẫn, ta thấy Trần Ngọc Phượng rất có ý thức về sự hy sinh cao cả của người lính cách mạng. Bởi chúng ta không ngại hy sinh, khi điều đó là cần thiết. Chúng ta luôn sống lạc quan, yêu đời. Như cảm xúc của anh trước bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên thành cổ Quảng Trị” được nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính tặng: “Các anh cười dưới chân Thành đổ nát/ Trận đánh sau ai mất ai còn/ Dẫu máu xương tan trong lòng đất/ Nụ cười còn mãi với nước non” (Nụ cười Thành cổ).

Tuổi ngoại lục tuần rồi sang thất tuần, tranh thủ lúc gân cốt còn săn, Trần Ngọc Phượng nhiều lần về thăm quê hương bên dòng sông Vị, thăm các chiến trường xưa cùng nhiều địa danh lịch sử. Khi đến Hà Tĩnh, rẽ về Can Lộc, nơi yên nghỉ của mười cô gái thanh niên xung phong: “Những năm tháng không thể nào quên được/ Máu xương rơi thấm đẫm con đường/ Em ngã xuống, mười bông hoa bất tử/ Những nụ hoa mới chớm hạt sương/ Bên mộ em người lính già đứng lặng/ Nhớ một thời trai trẻ qua đây/ Ta tặng nhau mảnh khăn dù pháo sáng/ Chiếc lược nhôm làm bằng xác máy bay...” (Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc).

Viếng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (Quảng Trị), Trần Ngọc Phượng thủ thỉ trò chuyện với những người nằm dưới mộ, song linh hồn là bất tử: “Chiều Trường Sơn/ Lặng ngắt/ Các anh nằm/  ngay hàng thẳng tắp/ nghe tắc kè kêu/ khắc khoải:/ “Sắp về...”/ Đất nước hoà bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe doạ/ ... Anh nằm đây/ Có lúc nào yên ả/ Sóng biển Đông/ Rung chuyển chỗ anh nằm!/ Hương khói bay/ Lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy/ Những linh hồn/ Bất tử” (Chiều nghĩa trang Trường Sơn).

Người Mẹ Việt Nam, người Mẹ viết hoa, phải chịu đựng biết bao khổ đau, mất mát vì chiến tranh. Họ tiêu biểu cho truyền thống anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của phụ nữ Việt Nam. Sau đây chỉ là một trong ngàn vạn trường hợp người Mẹ liệt sĩ: “Mười năm đợi con/ Mẹ nhận về tờ báo tin/ Và cái ba lô con cóc/ Kỷ vật cuối cùng/ Của đứa con độc nhất/ Cái ba lô bạc màu/ Lỗ chỗ vài vết đạn/ Có chiếc khăn tay/ Bạn gái nào thêu tặng/ Có quyển sổ tay/ Con tặng Mẹ bài thơ/ Con biết rằng/ Cả đời Mẹ mong chờ/ Có cháu nhỏ để bồng để bế/ Mẹ ôm chiếc ba lô vào lòng/ Như ôm con trẻ...” (Cái ba lô con cóc).

Trần Ngọc Phượng chỉ nói đến thế, nhưng cũng đủ cho ta suy ra nỗi buồn thương, tiếc nhớ của ngàn vạn Mẹ liệt sĩ sâu nặng, lớn lao biết nhường nào!

Sau ngày toàn thắng trở về, Trần Ngọc Phượng reo lên: “Con sống rồi Mẹ ơi!”, là tiếng lòng rất thật: “Mẹ ơi! Mẹ ơi/ Mẹ ôm chặt vào lòng/ Như sợ con tuột mất/ Con gục đầu vào Mẹ/ Mà không dám reo vang”.

Ta nhận biết tác giả đã reo lên, nhưng rồi không dám reo vang lên nữa, vì: “Bao bà Mẹ mất con/ Bao người vợ mất chồng/ ... Ai biết hoà bình/ Bao máu xương phải trả?” (Con sống rồi Mẹ ơi).

Trần Ngọc Phượng nhắc nhiều đến các đồng đội liệt sĩ và cả những người Mẹ, người vợ thân thương của họ. Đề tài về thương binh liệt sĩ quả rất phong phú, những vần thơ tôi vừa trích dẫn có thể chưa phải là tất cả tác phẩm của anh. Dẫu sao những vần thơ đó đã nói lên khá đầy đủ tình cảm sâu nặng của một hồn thơ cựu chiến binh tài hoa, tinh tế.

 

Hai bài thơ của Trần Ngọc Phượng

Hồn thiêng xin được độ trì nước non

 

Bao năm lạnh lẽo rừng giả

Đón anh về với quê nhà thân thương

Mẹ Cha một nắng hai sương

Nuôi anh vất vả trăm đường gian truân

Đò xưa lưu luyến bước chân

Hình Cha bóng Mẹ tần ngần nhìn theo

Anh đi vượt thác băng đèo

Tuổi xuân bay bổng, cánh diều vi vu

Giờ vế tìm tiếng Mẹ ru

Võng đưa kẽo kẹt, tre đu gió hè

Thủy chung trọn vẹn lời thề

Cốt xuông một nắm, Hồn quê một đời

Quê mình giầu có lên rồi

Trẻ thơ ríu rít, thăm tươi khăn quàng

Hương hoa phủ kín nghĩa trang

Tên anh liệt sĩ, xóm làng khắc ghi

Tháng Bảy đến, Tháng Bây đi

Hồn thiêng xin được độ trì nước non

 

Mâm cơm giỗ bạn ngày họp mặt - Ảnh TNP cung cấp.
 

Bên nấm mộ vô danh

Tặng hương hồn em Thanh Tề

 

Thắp nhang lên

Thấy em hiện về

Nheo mắt cười tinh nghịch;

“Chúng mình dễ gì chết

Bom đạn tránh mình, Mình tránh chúng làm chi”

 

Buổi chiều em ra đi

Mưa giăng giăng ngoài lộ

Áo xắn tay,

Tiểu liên quàng trước cổ

Em hiên ngang đi trước hàng quân

 

Em ngã xuống

Tư thế tiến công

Trong trận đánh

Quân thù đông gấp bội

Xác để lại

Bên cánh rừng lầy lội

Buổi chiều hoang tê tái mưa sa

 

Mấy chục năm qua

Đồng đội gắng công

Mẹ cha ta khó nhọc

Vái bốn phương trời

Chưa tìm thấy mộ em

 

Đất nước mình mênh mông

Cong cong hình chữ S

Làm sao anh đi hết

Vạn nấm mộ vô danh

Ngàn tượng đài liệt sĩ

Sao lúc hiện về

Em không chỉ

Nấm mộ nào là nấm mộ của em?

Chỉ thấy em về

Nheo mắt cười tinh nghịch

“Chúng mình dễ gì chết

Nếu chết rồi dễ gì mất xác

Mất xác rồi còn nấm mộ vô danh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm