TIN TỨC

Người lữ khách trên những dốc tình Đà Lạt

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-14 23:39:07
mail facebook google pos stwis
4702 lượt xem

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               Dung Thị Vân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Nhà thơ Nguyễn An Bình tên thật là Lương Mành – Hội viên Hội Nhà văn TP Cần Thơ. Khi chuyển về TP. HCM sinh sống, anh được kết nạp vào Hội Nhà văn TP. HCM. Nguyễn An Bình là một người làm thơ trước 1975. Thơ anh đã được đăng tải trên các báo thời bấy giờ như: Văn, Văn Học, Tuổi Ngọc, các tuần báo nhật báo khác như Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai, Phụ Nữ Diễn Đàn, Điện Tín, Việt Nam,Tin Sáng, Thời Đại Mới, Sống. Thăng Tiến, Trắng Đen… Sau 1975, Nguyễn An Bình cộng tác với rất nhiều báo, tạp chí trong và ngoài nước.


Nhà thơ Nguyễn An Bình.

Các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn An Bình đã xuất bản cho đến tập thơ ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH tổng cộng là 12 đầu sách (thơ) 05 đầu sách (thơ phổ nhạc), 01 tập truyện ngắn và rất nhiều sách in chung (nhiều tác giả).

Đọc tựa tập thơ tôi hết sức ấn tượng. Bởi vì anh không sinh trưởng tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mà anh lại dành trọn vẹn một tập thơ viết về vùng đất cao nguyên này với rất nhiều địa danh của tỉnh Lâm Đồng mà thành phố Đà Lạt là địa danh chính để dệt nên những bài thơ tình lãng mạn.

Mở đầu cho một tập thơ viết về Đà Lạt anh chọn địa danh hồ Tuyền Lâm ở Đà Lạt là bài thơ đầu tiên trong tập thơ. Phải chăng kỷ niệm đã thôi thúc nhà thơ không thể nào không tìm lại em của mười lăm năm về trước. Nhà thơ đi tìm để thấy nỗi lòng buồn bã như câu thơ than thở “ thời gian thành vết sẹo dài đó em. Tình yêu mà ví von như một vết sẹo dài thì ắt hẳn tình yêu đó chẳng bao giờ quên được. Vết sẹo là ấn tượng cho một vết hằn, mà đã là vết hằn thì muôn đời còn để lại dấu vết, hẳn nhà thơ sẽ đau thương vô cùng. Nhưng yêu mà không nhớ không buồn thì chẳng phải là tình yêu. Cho dù bóng chim trời có bay đi thì những dòng thơ anh vẫn dệt vẫn viết cho người. Ta hãy nghe dòng thơ anh tâm sự:

Về đây tìm lại một người

Mười lăm năm bóng chim trời đã bay

Hàng cây trốn gió chiều nay

Thời gian thành vết sẹo dài đó em

(Bên hồ Tuyền Lâm)

Thế rồi những hẹn hò lại dẫn dắt thơ anh từ Đà Lạt xuống B’ Lao (Bảo Lộc) với khoảng cách 115 km. Và từ Bảo Lộc đi vào Đại Bình khoảng 15km. Nhưng khi đã yêu thì như ông bà cha ta đã nói “Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”. Vậy thì 130 km có là bao khi mà người tình đã hẹn.

Người hẹn ta về phố núi

Đợi nhau lên dốc Đại Bình

Sa-Pung một màu sương đục

Cùng chờ tia sáng bình minh

(B’Lao tình đất tình người)

Tình yêu thực màu nhiệm khiến người ta luôn thốt lên câu cảm ơn bao quát cả một địa danh. Em ở Đà Lạt cho tôi phải cám ơn người Đà Lạt. Những từ thật hay và lãng mạn như: “Tóc người ngái ngủ / tím sương hồ”. Để chứng minh cho tấm lòng của mình, thì Nguyễn An Bình cũng vậy…

Lại nhớ rồi. Em, một sớm mai

Tóc người – ngái ngủ ở trên vai

Mấy chiếc lá. Bay, tràn qua ngõ

Chắc tím sương hồ – vào tối nay

Cho tôi cám ơn. Người Đà Lạt

Đến giữa đời nhau. Thật bao dung

Núi đồi. Cứ giữ tình tôi nhé

Dù mới xa rời. Mấy bước chân

(Cám ơn người Đà Lạt)


Tập thơ “Đà Lạt, tình tôi người lữ khách” của Nguyễn An Bình.

Nhà thơ luôn tự hỏi về tất cả… nào hoa lá nào cỏ cây. Liệu “Trăm năm biết có bể dâu tương phùng”. Tình yêu luôn là những điều tự hỏi rồi được trả lời trong thinh lặng cùng nỗi lòng tưởng tượng. Phải có những nỗi niềm như thế mới là yêu và nhà thơ mới có được những bài thơ tình lãng mạn cho người đời đọc… Đà Lạt là xứ hoa đào đẹp lãng mạn cũng đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình, nhà thơ ví như hoa thả trên vai em rồi “rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu”.

Người về vui với cỏ hoa

Có hay chiếc lá thương tà áo bay

.

Rồi mai nắng quái lưng đèo

Mưa đêm Đức Trọng sương chiều B’ Lao

.

Bên hồ lặng ngắm mưa ngâu

Trăm năm biết có bể dâu tương phùng

(Cỏ hoa cùng người)

Chẳng phải loài hoa nào cũng níu giữ mùi hương

Níu cả nhớ thương đi qua quảng đời trai trẻ

Có phải em ngồi ngắm hoa đào – vừa nở sáng nay

Lại hãi sợ ngày mai biết đâu không còn nữa

Sợ những cánh đào phai sẽ rụng đầy trước cửa

Bên bờ Xuân Hương, nhuộm cả nước Tuyền Lâm.

Ngày sắp hết trên ngọn đồi thênh thang gió

Những cánh hoa đào – thả trên vai em bỏ ngỏ

Chao rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu.

(Có mùa hoa đào giấu trong mắt em)

Núi đồi Đà Lạt luôn là hình tượng cho người thơ thêu dệt một mối tình. Từ một quán nhỏ ven hồ bên ly cà phê nóng và cả đến màu áo, sợi tóc cũng cho người thơ những câu thơ tình tuyệt đẹp và thơ mộng.

Ta cùng quán nhỏ ven hồ

Ly cà phê nóng cuộc trò chuyện vui

Ghế thôi đã lạnh chỗ ngồi

Biết ai xuống núi lên đồi tìm nhau.

(Còn ai xuống núi lên đồi tìm nhau)

Nói đến Đà Lạt là người ta luôn liên tưởng đến núi đồi, thác ghềnh và những loài hoa tuyệt đẹp tượng trưng cho Đà Lạt như hoa đào, mimosa, phượng tím. Hầu như tới mùa hoa nở ai cũng muốn mình có dịp đến để ngắm hoa và chụp những tấm hình làm kỷ niệm. Với nhà thơ Nguyễn An Bình tình yêu cũng đã đan xen vào mùa phượng tím lãng mạn trữ tình dù chỉ là phượng tím cuối mùa còn sót lại. Nhưng tình yêu thì vẫn trinh nguyên lời hẹn. Hầu như đa số địa danh anh đã đi qua. Nhất là những cơn mưa phùn Đà Lạt vừa lạnh, vừa đẹp, vừa buồn và kể cả phải chia tay nhau cho dù xót xa nhưng câu thơ vẫn đẹp và mộng mị. Với anh. Đà Lạt dường như nơi nào anh cũng có quá nhiều kỷ niệm để dệt nên những bài thơ vương vấn.

Cành phượng tím đã tàn chưa em nhỉ?

Đã bao năm em chẳng nhớ nơi nầy

Mimosa vàng cả một trời mộng mị

Tôi bốn mùa vẫn giữ nụ tình phai.

Người về đâu qua bao mùa hạ trắng

Ngủ trong tôi một giấc mộng dài lâu

Thương phượng tím cuối mùa còn sót lại

Vẫn trinh nguyên lời hẹn thuở ban đầu.

(Cuối mùa phượng tím)

Thơ Nguyễn An Bình là những dòng thơ trữ tình du dương mật ngọt. Cho dù có phải chia xa thì lời thơ anh cũng vẫn vỗ về em cho ta linh cảm dù chia xa nhưng anh vẫn mong ngày gặp lại. Nhất là phải chia xa vào những ngày mưa phùn Đà Lạt nó đẹp và thơ biết chừng nào. Phải chăng lời chia tay của nhà thơ vào cơn mưa phùn Đà Lạt chỉ là những dỗi hờn trong chốc lát. Để niềm đau hạnh ngộ chắc hẳn sẽ không như thơ và tình yêu sẽ trở về. Nên những bài thơ của tác giả vẫn cứ lần lượt ra đời với bao nỗi yêu thương và nhớ nhung về Đà Lạt.

Những con dốc một thời em đã đi qua

Cố giấu nỗi buồn và tiếng thở dài xa ngái

Tôi gởi lại núi đồi những buổi chiều mê ngủ

Dây hoa móng rồng xanh níu chân khách lữ

Có mấy bậc thang rêu phong của từng con dốc

Không tìm thấy người thiếu phụ đi tìm bông hoa

Mang tên hạnh phúc cho cuộc đời mình

Mỗi người chúng ta đều giữ trong lòng một ước mơ thầm kín

Ngát hương của một thời tuổi trẻ

Tôi sẽ chẳng còn gặp em ở bất cứ đâu bất cứ nơi nào

Trong một Đà Lạt khói sương trùng trùng mộng dữ

Niềm đau hạnh ngộ sẽ không dành cho một ai

Trong hai chúng ta khi thời gian

Viễn du vào không gian đầy huyễn hoặc

Chia tay cơn mưa phùn Đà Lạt

Chia tay em nhé.

(Chia tay em cơn mưa phùn Đà Lạt)

Thơ Nguyễn An Bình mỗi câu thơ đọc lên âm vang như lời của nhạc. Cho nên vì thế mà phải nói rằng anh rất bén duyên với đa số nhạc sĩ. Thơ anh được phổ nhạc rất nhiều. Tôi được biết tính đến nay ( tháng 9/2021). Anh đã có cả ngàn bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Tiện đây tôi cũng xin chúc mừng anh. Vì không phải ai cũng có duyên được các nhạc sĩ phổ thơ của mình.

Với Đà Lạt / Lâm Đồng cứ đến mùa hoa quỳ thì hai bên đường những nơi nào còn cỏ mọc thì nơi đó còn những bụi hoa dã quỳ vàng rực nhìn đẹp đến nao lòng. Bởi vậy nhà thơ Nguyễn An Bình đã dành cho loài hoa dại ở xứ cao nguyên những câu thơ hết sức ấn tượng và người thi sĩ trong thơ đã phủ phục trước một loài hoa dại đầy đắm mê này cho dù những câu thơ anh chỉ là chiêm bao ma mị.

Xin cho tôi hôn từng cánh hoa dã quỳ

Dẫu biết đó chỉ là giấc chiêm bao

Dẫu lắt lay trong nắng sớm mưa chiều và từng đêm trở gió

Vẫn thấy em ngụ trong tim làm tôi ngạt thở

Khi xe vừa lăn qua Liên Khương, Đức Trọng, Di Linh

Khi xe vừa cắm cúi xuống đèo Bảo Lộc, Đèo Chuối

Đem tôi về lại đồng bằng gió bụi mênh mông

Ôi cánh đồng hoa dã quỳ vẫn nở suốt mùa đông

Và mái tóc em dịu dàng trong chiếc khăn quàng cổ tím

(Dã quỳ thương nhớ)

Nếu là dân Đà Lạt thì ắt hẳn sẽ không ai xa lạ với trái hồng. Đến mùa hồng thì các sạp bán trái cây màu cam đỏ của trái hồng nhìn thật đẹp mắt mà ai nhìn thấy cũng muốn mua về thưởng thức hoặc để làm quà cho người thân.

Không biết những tình cảm đã dẫn dắt và níu kéo như thế nào mà nhà thơ đã thốt nên những câu thơ dành cho em thật thiết tha và trìu mến. Ôi bàn tay em trẩy quả hồng đầu tiên vừa chín tới với lời hẹn ước tháng chạp trở lại tại D’ran đầy thương yêu và nhung nhớ.

Vườn hồng nhà ai vừa chín tới

Phải em – người trẩy quả đầu tiên

Xanh mướt su hào quanh triền núi

Mượt mà như thể bàn tay em?

Tháng chạp ước gì anh trở lại

Nhìn sắc hoa vàng nhớ áo em

Chút tình gới lại D’ran phố

Đồi núi sương mờ trong bóng đêm.

(D’ ran chút tình gởi lại)

Khi đã yêu thì hầu như bất kỳ điều nhỏ nhặt nào cũng khiến người ta yêu và nhớ rồi nhắc nhở. Nguyễn An Bình cứ đi từ cõi đê mê này qua cõi đê mê khác và cảm tất cả những gì nơi em đang sống và thi sĩ đã ví em như nàng tiên từ cổ tích bước ra. Tất cả những điều đó đã là nỗi nhớ quắt quay và nỗi nhớ ấy đã đi theo thi nhân vào giấc ngủ mà khi trở mình nhà thơ đã cảm như “ Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư”. Ôi một câu thơ hay đầy nỗi trăn trở của lòng người mà chỉ có tình yêu mới có thể cảm nhận được.

Tôi vẫn thích ngắm nhìn em như thế

Như nàng tiên từ cổ tích bước ra

Mùi khoai nướng thơm lừng trong cái rét

Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư.

Đà Lạt không quên những ngày mưa cuối

Một người quen ngồi thả lá bên cầu

Trong sương khói bàn tay còn chút ấm

Lạnh đất trời một thuở có tìm nhau?

(Đà Lạt, những ngày mưa cuối)

Nhà thơ Nguyễn An Bình đã viết ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH với một tập thơ tình đầy lãng mạn về núi đồi cao nguyên Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Một tập thơ hầu như bài nào cũng hay. Cho nên trích dẫn thực sự tôi cũng không biết phải chọn như thế nào. Bỏ câu nào tôi cũng tiếc. Nhưng cuối cùng tôi cũng không thể nào trích hết vì quá nhiều câu hay. Thôi thì để dành cho bạn đọc sẽ đọc và cảm nhận như những bản nhạc tình đưa hồn mình về với cõi yêu thương nhung nhớ…

Mùa phượng tím rũ xuống đời lầm lũi

Từng giọt buồn lay động tiếng mưa rơi.

Mai xa lắc đồi thông reo xanh mướt

Cà phê thơm môi ngọt tiếng em cười

(Đêm giã từ Đà Lạt)

Em đến nơi nầy từ những cánh rừng mưa

Đà Lạt vấn vương gieo neo tình em ở lại

Tôi lữ khách đâu hiểu hết lòng con gái

Như hoa móng rồng sáng nắng lại chiều mưa

(Đi tìm mùa hoa móng rồng)

Lại nhớ em – những cơn mưa Đà Lạt

Nhớ con đường hồng nhuộm áo đỗ quyên

Khi yêu nhà thơ thường tự hỏi không biết mình nhớ điều gì. Chàng thi sĩ không hỏi em của tình yêu mà hỏi cả một Đà Lạt thân thương khi có bóng hình người yêu mình ở đó. Hẳn là người Đà Lạt thì cà phê Tùng – một quán cà phê mà ai cũng biết, như Hồ Xuân Hương vì đó là những nơi mà người Đà Lạt thường tìm niềm vui bên tách cà phê hay đi dạo trên ven bờ hồ ngắm cảnh nước trời mênh mông dưới hàng cây lãng mạn và chụp những tấm hình ghi một vài kỷ niệm.

Vùng núi đồi Lang Biang tuyệt mỹ theo truyền thuyết của đôi tình nhân mà ai đi Đà Lạt cũng hiếu kỳ muốn biết. Nơi nào cũng là những dấu chân kỷ niệm của nhà thơ. Nên bài thơ nào của anh cũng cứ bâng khuâng hoài niệm về một mối tình tưởng sẽ chia xa, nhưng rồi lại tìm về. Phải chăng đó là nỗi niềm của nhà thơ “Đà Lạt tình tôi người lữ khách”. Vâng, cái vương vương đó là nỗi lòng của nhà thơ. Bởi cái gì mình không thể nào có được trong thực tại thì nó đẹp vô vàn.

Nói như Hồ Dzếnh trong bài thơ Ngập ngừng:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn đang dở

Dù đó chỉ là một câu nói trấn an cho một mối tình không trọn vẹn. Chứ ai không mong cầu một hạnh phúc vẹn toàn. Bởi thế mà nhà thơ luôn có những áng thơ tuyệt mỹ về vùng cao nguyên này cho chúng ta cùng thưởng thức. Nơi nào anh cũng đi qua và cũng đong đầy kỷ niệm. Ta hãy cùng nhau đọc những đoạn thơ tình của anh qua rất nhiều địa danh…để hiểu anh đã nhớ thương như thế nào… nhưng sao không là người con của Đà Lạt mà cứ mãi hoài là lữ khách…

Đà Lạt có gì – sao anh nhớ

Giây phút dừng chân chợt nhói lòng

Phải lòng con gái cao nguyên ấy

Một đời thơ thẩn giữa ngàn thông.

(Giữa ngàn thông Đà Lạt)

… Lặng bên hồ Xuân Hương

Con ngựa thồ mắt ướt

Nhớ chiếc bàn cũ kỹ

Trong quán cà phê Tùng

Nghe mùi thơm bốc khói

Lặng lẽ màu thủy chung.

(Lại nhớ về Đà Lạt)

Trở lại Lang Biang núi đã bạc đầu

Nghe trời đất kể chuyện tình bất tử

Ta buồn bã đem trái sầu xuống núi

Mất lối về quạnh quẽ cả ngàn lau.

(Lang Biang ngày trở lại)

Mùa hoa cũ lạc về đâu em nhỉ

Tôi lang thang trôi mất một mùa hè

Em giấu tình trong nụ hoa chưa kịp nở

Để đường về lòng rợp bóng mây

(Những mùa hoa oải hương)

Tạ ơn em – Đà Lạt

Tìm chi dấu thời gian

Thương loài cây trốn gió

Cuộc tình thuở nào tan?

(Tạ ơn người Đà Lạt)

...Tím chi tím quá phượng ơi

Để người phố núi ngậm ngùi chia tay.

Không còn ai mượn bờ vai

Nên se sắt lạnh – Sóng đầy mắt nhau

Bình yên em nhé – Ngày sau

Môi thơm còn giữ một màu tím xưa.

(Thuở Đà Lạt, dịu đang màu phượng tím)

Một Đà Lạt thơ mộng trữ tình đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình đến nồng say mê đắm trong những đêm thảo nguyên mênh mông huyền hoặc. Nào mơ về em một mùa cỏ hồng mà người đã trôi theo mùa trăng cổ tích cùng tiếng gió đại ngàn còn thổn thức mãi với thời gian. Phải chăng bãi cỏ là những kỷ niệm một thời yêu nhau mà kết cỏ làm nhẫn. Nhà thơ nhắc khá nhiều về hoa phượng tím. Một loài hoa đến mùa nở mà ai cũng phải trầm trồ. Hoa đẹp và lãng mạn như vậy thì đôi tình nhân nào không một hay nhiều lần ghé đến. Ắt hẳn nhà thơ cũng có rất nhiều kỷ niệm với loài hoa này. Ôi một Đà Lạt cứ để thi nhân phải yêu người ngóng núi… mà không thoát ra khỏi sự nhớ thương…đến rồi đi rồi chờ rồi đợi và tự hỏi ly rượu này đêm nay ai sẽ cùng ta uống cạn…

Đêm thảo nguyên mênh mông đầy huyền hoặc

Sao ngang trời lấp lánh xuống đồi trăng

Trái yêu đương đã qua mùa quả ngọt

Mùa cỏ hồng em có kịp về không?

Người yêu người trôi mùa trăng cổ tích

Gió đại ngàn ngậm tiếng thở thời gian.

(Trăng trên đồi cỏ hồng)

Bao mùa hạt cỏ bay đi

Có ươm lại kiếp xuân thì cho nhau

Đất cằn, khô dấu, mai sau

Vết chân chim, rụng, kiếp nào đã quên.

Vê nghe cỏ hát dưới chân

Vẫn xanh như kiếp tình nhân thuở nào

Tóc người thơm mãi ngàn sau

Một thời nhẫn cỏ hằn đau da người.

(Về nghe cỏ hát)

Đêm Đà Lạt ngày cuối năm ẩm ướt

Mưa bụi giăng giăng hết một kiếp sầu

Hòn sỏi nhỏ ném xuống hồ thinh lặng

Âm sóng vô tình giấu kín vết đau.

Khi ta về nằm trên đồi phượng tím

Đón một vì sao vừa rụng nơi nầy

Hương cỏ dại tiễn chân người xa ngái

Ly rượu buồn ai uống cạn đêm nay.

(Viết trên đồi phượng tím)

Ta yêu người ngóng núi

Yêu sương tím ven hồ

Con sông buồn tiếc nuối

Một cuộc tình vừa xa.

(Yêu người ngóng núi)

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết: “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi…”. Phải chăng vì thế mà Nguyễn An Bình đã trở thành NGƯỜI LỮ KHÁCH TRÊN NHỮNG DỐC TÌNH ĐÀ LẠT. Một Đà Lạt đắm say và đẹp đến nao lòng thì làm sao mà nhà thơ có thể chia xa được. Thôi thì định mệnh có thể đã không cho nhà thơ được một tình yêu trọn vẹn thì xin cho thi nhân cứ mãi hoài làm lữ khách để lâu lâu thi nhân có dịp tìm về đi trên những con đường “nghe chiều rơi” và bâng khuâng nhớ về một thuở. Một thuở em và tôi đã cùng nhau trác tuyệt trong một mối tình…

D.T.V

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm