TIN TỨC

Người lữ khách trên những dốc tình Đà Lạt

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-14 23:39:07
mail facebook google pos stwis
4943 lượt xem

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               Dung Thị Vân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Nhà thơ Nguyễn An Bình tên thật là Lương Mành – Hội viên Hội Nhà văn TP Cần Thơ. Khi chuyển về TP. HCM sinh sống, anh được kết nạp vào Hội Nhà văn TP. HCM. Nguyễn An Bình là một người làm thơ trước 1975. Thơ anh đã được đăng tải trên các báo thời bấy giờ như: Văn, Văn Học, Tuổi Ngọc, các tuần báo nhật báo khác như Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai, Phụ Nữ Diễn Đàn, Điện Tín, Việt Nam,Tin Sáng, Thời Đại Mới, Sống. Thăng Tiến, Trắng Đen… Sau 1975, Nguyễn An Bình cộng tác với rất nhiều báo, tạp chí trong và ngoài nước.


Nhà thơ Nguyễn An Bình.

Các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn An Bình đã xuất bản cho đến tập thơ ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH tổng cộng là 12 đầu sách (thơ) 05 đầu sách (thơ phổ nhạc), 01 tập truyện ngắn và rất nhiều sách in chung (nhiều tác giả).

Đọc tựa tập thơ tôi hết sức ấn tượng. Bởi vì anh không sinh trưởng tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mà anh lại dành trọn vẹn một tập thơ viết về vùng đất cao nguyên này với rất nhiều địa danh của tỉnh Lâm Đồng mà thành phố Đà Lạt là địa danh chính để dệt nên những bài thơ tình lãng mạn.

Mở đầu cho một tập thơ viết về Đà Lạt anh chọn địa danh hồ Tuyền Lâm ở Đà Lạt là bài thơ đầu tiên trong tập thơ. Phải chăng kỷ niệm đã thôi thúc nhà thơ không thể nào không tìm lại em của mười lăm năm về trước. Nhà thơ đi tìm để thấy nỗi lòng buồn bã như câu thơ than thở “ thời gian thành vết sẹo dài đó em. Tình yêu mà ví von như một vết sẹo dài thì ắt hẳn tình yêu đó chẳng bao giờ quên được. Vết sẹo là ấn tượng cho một vết hằn, mà đã là vết hằn thì muôn đời còn để lại dấu vết, hẳn nhà thơ sẽ đau thương vô cùng. Nhưng yêu mà không nhớ không buồn thì chẳng phải là tình yêu. Cho dù bóng chim trời có bay đi thì những dòng thơ anh vẫn dệt vẫn viết cho người. Ta hãy nghe dòng thơ anh tâm sự:

Về đây tìm lại một người

Mười lăm năm bóng chim trời đã bay

Hàng cây trốn gió chiều nay

Thời gian thành vết sẹo dài đó em

(Bên hồ Tuyền Lâm)

Thế rồi những hẹn hò lại dẫn dắt thơ anh từ Đà Lạt xuống B’ Lao (Bảo Lộc) với khoảng cách 115 km. Và từ Bảo Lộc đi vào Đại Bình khoảng 15km. Nhưng khi đã yêu thì như ông bà cha ta đã nói “Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”. Vậy thì 130 km có là bao khi mà người tình đã hẹn.

Người hẹn ta về phố núi

Đợi nhau lên dốc Đại Bình

Sa-Pung một màu sương đục

Cùng chờ tia sáng bình minh

(B’Lao tình đất tình người)

Tình yêu thực màu nhiệm khiến người ta luôn thốt lên câu cảm ơn bao quát cả một địa danh. Em ở Đà Lạt cho tôi phải cám ơn người Đà Lạt. Những từ thật hay và lãng mạn như: “Tóc người ngái ngủ / tím sương hồ”. Để chứng minh cho tấm lòng của mình, thì Nguyễn An Bình cũng vậy…

Lại nhớ rồi. Em, một sớm mai

Tóc người – ngái ngủ ở trên vai

Mấy chiếc lá. Bay, tràn qua ngõ

Chắc tím sương hồ – vào tối nay

Cho tôi cám ơn. Người Đà Lạt

Đến giữa đời nhau. Thật bao dung

Núi đồi. Cứ giữ tình tôi nhé

Dù mới xa rời. Mấy bước chân

(Cám ơn người Đà Lạt)


Tập thơ “Đà Lạt, tình tôi người lữ khách” của Nguyễn An Bình.

Nhà thơ luôn tự hỏi về tất cả… nào hoa lá nào cỏ cây. Liệu “Trăm năm biết có bể dâu tương phùng”. Tình yêu luôn là những điều tự hỏi rồi được trả lời trong thinh lặng cùng nỗi lòng tưởng tượng. Phải có những nỗi niềm như thế mới là yêu và nhà thơ mới có được những bài thơ tình lãng mạn cho người đời đọc… Đà Lạt là xứ hoa đào đẹp lãng mạn cũng đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình, nhà thơ ví như hoa thả trên vai em rồi “rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu”.

Người về vui với cỏ hoa

Có hay chiếc lá thương tà áo bay

.

Rồi mai nắng quái lưng đèo

Mưa đêm Đức Trọng sương chiều B’ Lao

.

Bên hồ lặng ngắm mưa ngâu

Trăm năm biết có bể dâu tương phùng

(Cỏ hoa cùng người)

Chẳng phải loài hoa nào cũng níu giữ mùi hương

Níu cả nhớ thương đi qua quảng đời trai trẻ

Có phải em ngồi ngắm hoa đào – vừa nở sáng nay

Lại hãi sợ ngày mai biết đâu không còn nữa

Sợ những cánh đào phai sẽ rụng đầy trước cửa

Bên bờ Xuân Hương, nhuộm cả nước Tuyền Lâm.

Ngày sắp hết trên ngọn đồi thênh thang gió

Những cánh hoa đào – thả trên vai em bỏ ngỏ

Chao rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu.

(Có mùa hoa đào giấu trong mắt em)

Núi đồi Đà Lạt luôn là hình tượng cho người thơ thêu dệt một mối tình. Từ một quán nhỏ ven hồ bên ly cà phê nóng và cả đến màu áo, sợi tóc cũng cho người thơ những câu thơ tình tuyệt đẹp và thơ mộng.

Ta cùng quán nhỏ ven hồ

Ly cà phê nóng cuộc trò chuyện vui

Ghế thôi đã lạnh chỗ ngồi

Biết ai xuống núi lên đồi tìm nhau.

(Còn ai xuống núi lên đồi tìm nhau)

Nói đến Đà Lạt là người ta luôn liên tưởng đến núi đồi, thác ghềnh và những loài hoa tuyệt đẹp tượng trưng cho Đà Lạt như hoa đào, mimosa, phượng tím. Hầu như tới mùa hoa nở ai cũng muốn mình có dịp đến để ngắm hoa và chụp những tấm hình làm kỷ niệm. Với nhà thơ Nguyễn An Bình tình yêu cũng đã đan xen vào mùa phượng tím lãng mạn trữ tình dù chỉ là phượng tím cuối mùa còn sót lại. Nhưng tình yêu thì vẫn trinh nguyên lời hẹn. Hầu như đa số địa danh anh đã đi qua. Nhất là những cơn mưa phùn Đà Lạt vừa lạnh, vừa đẹp, vừa buồn và kể cả phải chia tay nhau cho dù xót xa nhưng câu thơ vẫn đẹp và mộng mị. Với anh. Đà Lạt dường như nơi nào anh cũng có quá nhiều kỷ niệm để dệt nên những bài thơ vương vấn.

Cành phượng tím đã tàn chưa em nhỉ?

Đã bao năm em chẳng nhớ nơi nầy

Mimosa vàng cả một trời mộng mị

Tôi bốn mùa vẫn giữ nụ tình phai.

Người về đâu qua bao mùa hạ trắng

Ngủ trong tôi một giấc mộng dài lâu

Thương phượng tím cuối mùa còn sót lại

Vẫn trinh nguyên lời hẹn thuở ban đầu.

(Cuối mùa phượng tím)

Thơ Nguyễn An Bình là những dòng thơ trữ tình du dương mật ngọt. Cho dù có phải chia xa thì lời thơ anh cũng vẫn vỗ về em cho ta linh cảm dù chia xa nhưng anh vẫn mong ngày gặp lại. Nhất là phải chia xa vào những ngày mưa phùn Đà Lạt nó đẹp và thơ biết chừng nào. Phải chăng lời chia tay của nhà thơ vào cơn mưa phùn Đà Lạt chỉ là những dỗi hờn trong chốc lát. Để niềm đau hạnh ngộ chắc hẳn sẽ không như thơ và tình yêu sẽ trở về. Nên những bài thơ của tác giả vẫn cứ lần lượt ra đời với bao nỗi yêu thương và nhớ nhung về Đà Lạt.

Những con dốc một thời em đã đi qua

Cố giấu nỗi buồn và tiếng thở dài xa ngái

Tôi gởi lại núi đồi những buổi chiều mê ngủ

Dây hoa móng rồng xanh níu chân khách lữ

Có mấy bậc thang rêu phong của từng con dốc

Không tìm thấy người thiếu phụ đi tìm bông hoa

Mang tên hạnh phúc cho cuộc đời mình

Mỗi người chúng ta đều giữ trong lòng một ước mơ thầm kín

Ngát hương của một thời tuổi trẻ

Tôi sẽ chẳng còn gặp em ở bất cứ đâu bất cứ nơi nào

Trong một Đà Lạt khói sương trùng trùng mộng dữ

Niềm đau hạnh ngộ sẽ không dành cho một ai

Trong hai chúng ta khi thời gian

Viễn du vào không gian đầy huyễn hoặc

Chia tay cơn mưa phùn Đà Lạt

Chia tay em nhé.

(Chia tay em cơn mưa phùn Đà Lạt)

Thơ Nguyễn An Bình mỗi câu thơ đọc lên âm vang như lời của nhạc. Cho nên vì thế mà phải nói rằng anh rất bén duyên với đa số nhạc sĩ. Thơ anh được phổ nhạc rất nhiều. Tôi được biết tính đến nay ( tháng 9/2021). Anh đã có cả ngàn bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Tiện đây tôi cũng xin chúc mừng anh. Vì không phải ai cũng có duyên được các nhạc sĩ phổ thơ của mình.

Với Đà Lạt / Lâm Đồng cứ đến mùa hoa quỳ thì hai bên đường những nơi nào còn cỏ mọc thì nơi đó còn những bụi hoa dã quỳ vàng rực nhìn đẹp đến nao lòng. Bởi vậy nhà thơ Nguyễn An Bình đã dành cho loài hoa dại ở xứ cao nguyên những câu thơ hết sức ấn tượng và người thi sĩ trong thơ đã phủ phục trước một loài hoa dại đầy đắm mê này cho dù những câu thơ anh chỉ là chiêm bao ma mị.

Xin cho tôi hôn từng cánh hoa dã quỳ

Dẫu biết đó chỉ là giấc chiêm bao

Dẫu lắt lay trong nắng sớm mưa chiều và từng đêm trở gió

Vẫn thấy em ngụ trong tim làm tôi ngạt thở

Khi xe vừa lăn qua Liên Khương, Đức Trọng, Di Linh

Khi xe vừa cắm cúi xuống đèo Bảo Lộc, Đèo Chuối

Đem tôi về lại đồng bằng gió bụi mênh mông

Ôi cánh đồng hoa dã quỳ vẫn nở suốt mùa đông

Và mái tóc em dịu dàng trong chiếc khăn quàng cổ tím

(Dã quỳ thương nhớ)

Nếu là dân Đà Lạt thì ắt hẳn sẽ không ai xa lạ với trái hồng. Đến mùa hồng thì các sạp bán trái cây màu cam đỏ của trái hồng nhìn thật đẹp mắt mà ai nhìn thấy cũng muốn mua về thưởng thức hoặc để làm quà cho người thân.

Không biết những tình cảm đã dẫn dắt và níu kéo như thế nào mà nhà thơ đã thốt nên những câu thơ dành cho em thật thiết tha và trìu mến. Ôi bàn tay em trẩy quả hồng đầu tiên vừa chín tới với lời hẹn ước tháng chạp trở lại tại D’ran đầy thương yêu và nhung nhớ.

Vườn hồng nhà ai vừa chín tới

Phải em – người trẩy quả đầu tiên

Xanh mướt su hào quanh triền núi

Mượt mà như thể bàn tay em?

Tháng chạp ước gì anh trở lại

Nhìn sắc hoa vàng nhớ áo em

Chút tình gới lại D’ran phố

Đồi núi sương mờ trong bóng đêm.

(D’ ran chút tình gởi lại)

Khi đã yêu thì hầu như bất kỳ điều nhỏ nhặt nào cũng khiến người ta yêu và nhớ rồi nhắc nhở. Nguyễn An Bình cứ đi từ cõi đê mê này qua cõi đê mê khác và cảm tất cả những gì nơi em đang sống và thi sĩ đã ví em như nàng tiên từ cổ tích bước ra. Tất cả những điều đó đã là nỗi nhớ quắt quay và nỗi nhớ ấy đã đi theo thi nhân vào giấc ngủ mà khi trở mình nhà thơ đã cảm như “ Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư”. Ôi một câu thơ hay đầy nỗi trăn trở của lòng người mà chỉ có tình yêu mới có thể cảm nhận được.

Tôi vẫn thích ngắm nhìn em như thế

Như nàng tiên từ cổ tích bước ra

Mùi khoai nướng thơm lừng trong cái rét

Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư.

Đà Lạt không quên những ngày mưa cuối

Một người quen ngồi thả lá bên cầu

Trong sương khói bàn tay còn chút ấm

Lạnh đất trời một thuở có tìm nhau?

(Đà Lạt, những ngày mưa cuối)

Nhà thơ Nguyễn An Bình đã viết ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH với một tập thơ tình đầy lãng mạn về núi đồi cao nguyên Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Một tập thơ hầu như bài nào cũng hay. Cho nên trích dẫn thực sự tôi cũng không biết phải chọn như thế nào. Bỏ câu nào tôi cũng tiếc. Nhưng cuối cùng tôi cũng không thể nào trích hết vì quá nhiều câu hay. Thôi thì để dành cho bạn đọc sẽ đọc và cảm nhận như những bản nhạc tình đưa hồn mình về với cõi yêu thương nhung nhớ…

Mùa phượng tím rũ xuống đời lầm lũi

Từng giọt buồn lay động tiếng mưa rơi.

Mai xa lắc đồi thông reo xanh mướt

Cà phê thơm môi ngọt tiếng em cười

(Đêm giã từ Đà Lạt)

Em đến nơi nầy từ những cánh rừng mưa

Đà Lạt vấn vương gieo neo tình em ở lại

Tôi lữ khách đâu hiểu hết lòng con gái

Như hoa móng rồng sáng nắng lại chiều mưa

(Đi tìm mùa hoa móng rồng)

Lại nhớ em – những cơn mưa Đà Lạt

Nhớ con đường hồng nhuộm áo đỗ quyên

Khi yêu nhà thơ thường tự hỏi không biết mình nhớ điều gì. Chàng thi sĩ không hỏi em của tình yêu mà hỏi cả một Đà Lạt thân thương khi có bóng hình người yêu mình ở đó. Hẳn là người Đà Lạt thì cà phê Tùng – một quán cà phê mà ai cũng biết, như Hồ Xuân Hương vì đó là những nơi mà người Đà Lạt thường tìm niềm vui bên tách cà phê hay đi dạo trên ven bờ hồ ngắm cảnh nước trời mênh mông dưới hàng cây lãng mạn và chụp những tấm hình ghi một vài kỷ niệm.

Vùng núi đồi Lang Biang tuyệt mỹ theo truyền thuyết của đôi tình nhân mà ai đi Đà Lạt cũng hiếu kỳ muốn biết. Nơi nào cũng là những dấu chân kỷ niệm của nhà thơ. Nên bài thơ nào của anh cũng cứ bâng khuâng hoài niệm về một mối tình tưởng sẽ chia xa, nhưng rồi lại tìm về. Phải chăng đó là nỗi niềm của nhà thơ “Đà Lạt tình tôi người lữ khách”. Vâng, cái vương vương đó là nỗi lòng của nhà thơ. Bởi cái gì mình không thể nào có được trong thực tại thì nó đẹp vô vàn.

Nói như Hồ Dzếnh trong bài thơ Ngập ngừng:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn đang dở

Dù đó chỉ là một câu nói trấn an cho một mối tình không trọn vẹn. Chứ ai không mong cầu một hạnh phúc vẹn toàn. Bởi thế mà nhà thơ luôn có những áng thơ tuyệt mỹ về vùng cao nguyên này cho chúng ta cùng thưởng thức. Nơi nào anh cũng đi qua và cũng đong đầy kỷ niệm. Ta hãy cùng nhau đọc những đoạn thơ tình của anh qua rất nhiều địa danh…để hiểu anh đã nhớ thương như thế nào… nhưng sao không là người con của Đà Lạt mà cứ mãi hoài là lữ khách…

Đà Lạt có gì – sao anh nhớ

Giây phút dừng chân chợt nhói lòng

Phải lòng con gái cao nguyên ấy

Một đời thơ thẩn giữa ngàn thông.

(Giữa ngàn thông Đà Lạt)

… Lặng bên hồ Xuân Hương

Con ngựa thồ mắt ướt

Nhớ chiếc bàn cũ kỹ

Trong quán cà phê Tùng

Nghe mùi thơm bốc khói

Lặng lẽ màu thủy chung.

(Lại nhớ về Đà Lạt)

Trở lại Lang Biang núi đã bạc đầu

Nghe trời đất kể chuyện tình bất tử

Ta buồn bã đem trái sầu xuống núi

Mất lối về quạnh quẽ cả ngàn lau.

(Lang Biang ngày trở lại)

Mùa hoa cũ lạc về đâu em nhỉ

Tôi lang thang trôi mất một mùa hè

Em giấu tình trong nụ hoa chưa kịp nở

Để đường về lòng rợp bóng mây

(Những mùa hoa oải hương)

Tạ ơn em – Đà Lạt

Tìm chi dấu thời gian

Thương loài cây trốn gió

Cuộc tình thuở nào tan?

(Tạ ơn người Đà Lạt)

...Tím chi tím quá phượng ơi

Để người phố núi ngậm ngùi chia tay.

Không còn ai mượn bờ vai

Nên se sắt lạnh – Sóng đầy mắt nhau

Bình yên em nhé – Ngày sau

Môi thơm còn giữ một màu tím xưa.

(Thuở Đà Lạt, dịu đang màu phượng tím)

Một Đà Lạt thơ mộng trữ tình đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình đến nồng say mê đắm trong những đêm thảo nguyên mênh mông huyền hoặc. Nào mơ về em một mùa cỏ hồng mà người đã trôi theo mùa trăng cổ tích cùng tiếng gió đại ngàn còn thổn thức mãi với thời gian. Phải chăng bãi cỏ là những kỷ niệm một thời yêu nhau mà kết cỏ làm nhẫn. Nhà thơ nhắc khá nhiều về hoa phượng tím. Một loài hoa đến mùa nở mà ai cũng phải trầm trồ. Hoa đẹp và lãng mạn như vậy thì đôi tình nhân nào không một hay nhiều lần ghé đến. Ắt hẳn nhà thơ cũng có rất nhiều kỷ niệm với loài hoa này. Ôi một Đà Lạt cứ để thi nhân phải yêu người ngóng núi… mà không thoát ra khỏi sự nhớ thương…đến rồi đi rồi chờ rồi đợi và tự hỏi ly rượu này đêm nay ai sẽ cùng ta uống cạn…

Đêm thảo nguyên mênh mông đầy huyền hoặc

Sao ngang trời lấp lánh xuống đồi trăng

Trái yêu đương đã qua mùa quả ngọt

Mùa cỏ hồng em có kịp về không?

Người yêu người trôi mùa trăng cổ tích

Gió đại ngàn ngậm tiếng thở thời gian.

(Trăng trên đồi cỏ hồng)

Bao mùa hạt cỏ bay đi

Có ươm lại kiếp xuân thì cho nhau

Đất cằn, khô dấu, mai sau

Vết chân chim, rụng, kiếp nào đã quên.

Vê nghe cỏ hát dưới chân

Vẫn xanh như kiếp tình nhân thuở nào

Tóc người thơm mãi ngàn sau

Một thời nhẫn cỏ hằn đau da người.

(Về nghe cỏ hát)

Đêm Đà Lạt ngày cuối năm ẩm ướt

Mưa bụi giăng giăng hết một kiếp sầu

Hòn sỏi nhỏ ném xuống hồ thinh lặng

Âm sóng vô tình giấu kín vết đau.

Khi ta về nằm trên đồi phượng tím

Đón một vì sao vừa rụng nơi nầy

Hương cỏ dại tiễn chân người xa ngái

Ly rượu buồn ai uống cạn đêm nay.

(Viết trên đồi phượng tím)

Ta yêu người ngóng núi

Yêu sương tím ven hồ

Con sông buồn tiếc nuối

Một cuộc tình vừa xa.

(Yêu người ngóng núi)

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết: “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi…”. Phải chăng vì thế mà Nguyễn An Bình đã trở thành NGƯỜI LỮ KHÁCH TRÊN NHỮNG DỐC TÌNH ĐÀ LẠT. Một Đà Lạt đắm say và đẹp đến nao lòng thì làm sao mà nhà thơ có thể chia xa được. Thôi thì định mệnh có thể đã không cho nhà thơ được một tình yêu trọn vẹn thì xin cho thi nhân cứ mãi hoài làm lữ khách để lâu lâu thi nhân có dịp tìm về đi trên những con đường “nghe chiều rơi” và bâng khuâng nhớ về một thuở. Một thuở em và tôi đã cùng nhau trác tuyệt trong một mối tình…

D.T.V

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm