TIN TỨC

Người lữ khách trên những dốc tình Đà Lạt

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-14 23:39:07
mail facebook google pos stwis
5098 lượt xem

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               Dung Thị Vân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Nhà thơ Nguyễn An Bình tên thật là Lương Mành – Hội viên Hội Nhà văn TP Cần Thơ. Khi chuyển về TP. HCM sinh sống, anh được kết nạp vào Hội Nhà văn TP. HCM. Nguyễn An Bình là một người làm thơ trước 1975. Thơ anh đã được đăng tải trên các báo thời bấy giờ như: Văn, Văn Học, Tuổi Ngọc, các tuần báo nhật báo khác như Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai, Phụ Nữ Diễn Đàn, Điện Tín, Việt Nam,Tin Sáng, Thời Đại Mới, Sống. Thăng Tiến, Trắng Đen… Sau 1975, Nguyễn An Bình cộng tác với rất nhiều báo, tạp chí trong và ngoài nước.


Nhà thơ Nguyễn An Bình.

Các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn An Bình đã xuất bản cho đến tập thơ ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH tổng cộng là 12 đầu sách (thơ) 05 đầu sách (thơ phổ nhạc), 01 tập truyện ngắn và rất nhiều sách in chung (nhiều tác giả).

Đọc tựa tập thơ tôi hết sức ấn tượng. Bởi vì anh không sinh trưởng tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mà anh lại dành trọn vẹn một tập thơ viết về vùng đất cao nguyên này với rất nhiều địa danh của tỉnh Lâm Đồng mà thành phố Đà Lạt là địa danh chính để dệt nên những bài thơ tình lãng mạn.

Mở đầu cho một tập thơ viết về Đà Lạt anh chọn địa danh hồ Tuyền Lâm ở Đà Lạt là bài thơ đầu tiên trong tập thơ. Phải chăng kỷ niệm đã thôi thúc nhà thơ không thể nào không tìm lại em của mười lăm năm về trước. Nhà thơ đi tìm để thấy nỗi lòng buồn bã như câu thơ than thở “ thời gian thành vết sẹo dài đó em. Tình yêu mà ví von như một vết sẹo dài thì ắt hẳn tình yêu đó chẳng bao giờ quên được. Vết sẹo là ấn tượng cho một vết hằn, mà đã là vết hằn thì muôn đời còn để lại dấu vết, hẳn nhà thơ sẽ đau thương vô cùng. Nhưng yêu mà không nhớ không buồn thì chẳng phải là tình yêu. Cho dù bóng chim trời có bay đi thì những dòng thơ anh vẫn dệt vẫn viết cho người. Ta hãy nghe dòng thơ anh tâm sự:

Về đây tìm lại một người

Mười lăm năm bóng chim trời đã bay

Hàng cây trốn gió chiều nay

Thời gian thành vết sẹo dài đó em

(Bên hồ Tuyền Lâm)

Thế rồi những hẹn hò lại dẫn dắt thơ anh từ Đà Lạt xuống B’ Lao (Bảo Lộc) với khoảng cách 115 km. Và từ Bảo Lộc đi vào Đại Bình khoảng 15km. Nhưng khi đã yêu thì như ông bà cha ta đã nói “Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”. Vậy thì 130 km có là bao khi mà người tình đã hẹn.

Người hẹn ta về phố núi

Đợi nhau lên dốc Đại Bình

Sa-Pung một màu sương đục

Cùng chờ tia sáng bình minh

(B’Lao tình đất tình người)

Tình yêu thực màu nhiệm khiến người ta luôn thốt lên câu cảm ơn bao quát cả một địa danh. Em ở Đà Lạt cho tôi phải cám ơn người Đà Lạt. Những từ thật hay và lãng mạn như: “Tóc người ngái ngủ / tím sương hồ”. Để chứng minh cho tấm lòng của mình, thì Nguyễn An Bình cũng vậy…

Lại nhớ rồi. Em, một sớm mai

Tóc người – ngái ngủ ở trên vai

Mấy chiếc lá. Bay, tràn qua ngõ

Chắc tím sương hồ – vào tối nay

Cho tôi cám ơn. Người Đà Lạt

Đến giữa đời nhau. Thật bao dung

Núi đồi. Cứ giữ tình tôi nhé

Dù mới xa rời. Mấy bước chân

(Cám ơn người Đà Lạt)


Tập thơ “Đà Lạt, tình tôi người lữ khách” của Nguyễn An Bình.

Nhà thơ luôn tự hỏi về tất cả… nào hoa lá nào cỏ cây. Liệu “Trăm năm biết có bể dâu tương phùng”. Tình yêu luôn là những điều tự hỏi rồi được trả lời trong thinh lặng cùng nỗi lòng tưởng tượng. Phải có những nỗi niềm như thế mới là yêu và nhà thơ mới có được những bài thơ tình lãng mạn cho người đời đọc… Đà Lạt là xứ hoa đào đẹp lãng mạn cũng đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình, nhà thơ ví như hoa thả trên vai em rồi “rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu”.

Người về vui với cỏ hoa

Có hay chiếc lá thương tà áo bay

.

Rồi mai nắng quái lưng đèo

Mưa đêm Đức Trọng sương chiều B’ Lao

.

Bên hồ lặng ngắm mưa ngâu

Trăm năm biết có bể dâu tương phùng

(Cỏ hoa cùng người)

Chẳng phải loài hoa nào cũng níu giữ mùi hương

Níu cả nhớ thương đi qua quảng đời trai trẻ

Có phải em ngồi ngắm hoa đào – vừa nở sáng nay

Lại hãi sợ ngày mai biết đâu không còn nữa

Sợ những cánh đào phai sẽ rụng đầy trước cửa

Bên bờ Xuân Hương, nhuộm cả nước Tuyền Lâm.

Ngày sắp hết trên ngọn đồi thênh thang gió

Những cánh hoa đào – thả trên vai em bỏ ngỏ

Chao rụng xuống hồ hồng cả cõi thiên thu.

(Có mùa hoa đào giấu trong mắt em)

Núi đồi Đà Lạt luôn là hình tượng cho người thơ thêu dệt một mối tình. Từ một quán nhỏ ven hồ bên ly cà phê nóng và cả đến màu áo, sợi tóc cũng cho người thơ những câu thơ tình tuyệt đẹp và thơ mộng.

Ta cùng quán nhỏ ven hồ

Ly cà phê nóng cuộc trò chuyện vui

Ghế thôi đã lạnh chỗ ngồi

Biết ai xuống núi lên đồi tìm nhau.

(Còn ai xuống núi lên đồi tìm nhau)

Nói đến Đà Lạt là người ta luôn liên tưởng đến núi đồi, thác ghềnh và những loài hoa tuyệt đẹp tượng trưng cho Đà Lạt như hoa đào, mimosa, phượng tím. Hầu như tới mùa hoa nở ai cũng muốn mình có dịp đến để ngắm hoa và chụp những tấm hình làm kỷ niệm. Với nhà thơ Nguyễn An Bình tình yêu cũng đã đan xen vào mùa phượng tím lãng mạn trữ tình dù chỉ là phượng tím cuối mùa còn sót lại. Nhưng tình yêu thì vẫn trinh nguyên lời hẹn. Hầu như đa số địa danh anh đã đi qua. Nhất là những cơn mưa phùn Đà Lạt vừa lạnh, vừa đẹp, vừa buồn và kể cả phải chia tay nhau cho dù xót xa nhưng câu thơ vẫn đẹp và mộng mị. Với anh. Đà Lạt dường như nơi nào anh cũng có quá nhiều kỷ niệm để dệt nên những bài thơ vương vấn.

Cành phượng tím đã tàn chưa em nhỉ?

Đã bao năm em chẳng nhớ nơi nầy

Mimosa vàng cả một trời mộng mị

Tôi bốn mùa vẫn giữ nụ tình phai.

Người về đâu qua bao mùa hạ trắng

Ngủ trong tôi một giấc mộng dài lâu

Thương phượng tím cuối mùa còn sót lại

Vẫn trinh nguyên lời hẹn thuở ban đầu.

(Cuối mùa phượng tím)

Thơ Nguyễn An Bình là những dòng thơ trữ tình du dương mật ngọt. Cho dù có phải chia xa thì lời thơ anh cũng vẫn vỗ về em cho ta linh cảm dù chia xa nhưng anh vẫn mong ngày gặp lại. Nhất là phải chia xa vào những ngày mưa phùn Đà Lạt nó đẹp và thơ biết chừng nào. Phải chăng lời chia tay của nhà thơ vào cơn mưa phùn Đà Lạt chỉ là những dỗi hờn trong chốc lát. Để niềm đau hạnh ngộ chắc hẳn sẽ không như thơ và tình yêu sẽ trở về. Nên những bài thơ của tác giả vẫn cứ lần lượt ra đời với bao nỗi yêu thương và nhớ nhung về Đà Lạt.

Những con dốc một thời em đã đi qua

Cố giấu nỗi buồn và tiếng thở dài xa ngái

Tôi gởi lại núi đồi những buổi chiều mê ngủ

Dây hoa móng rồng xanh níu chân khách lữ

Có mấy bậc thang rêu phong của từng con dốc

Không tìm thấy người thiếu phụ đi tìm bông hoa

Mang tên hạnh phúc cho cuộc đời mình

Mỗi người chúng ta đều giữ trong lòng một ước mơ thầm kín

Ngát hương của một thời tuổi trẻ

Tôi sẽ chẳng còn gặp em ở bất cứ đâu bất cứ nơi nào

Trong một Đà Lạt khói sương trùng trùng mộng dữ

Niềm đau hạnh ngộ sẽ không dành cho một ai

Trong hai chúng ta khi thời gian

Viễn du vào không gian đầy huyễn hoặc

Chia tay cơn mưa phùn Đà Lạt

Chia tay em nhé.

(Chia tay em cơn mưa phùn Đà Lạt)

Thơ Nguyễn An Bình mỗi câu thơ đọc lên âm vang như lời của nhạc. Cho nên vì thế mà phải nói rằng anh rất bén duyên với đa số nhạc sĩ. Thơ anh được phổ nhạc rất nhiều. Tôi được biết tính đến nay ( tháng 9/2021). Anh đã có cả ngàn bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc. Tiện đây tôi cũng xin chúc mừng anh. Vì không phải ai cũng có duyên được các nhạc sĩ phổ thơ của mình.

Với Đà Lạt / Lâm Đồng cứ đến mùa hoa quỳ thì hai bên đường những nơi nào còn cỏ mọc thì nơi đó còn những bụi hoa dã quỳ vàng rực nhìn đẹp đến nao lòng. Bởi vậy nhà thơ Nguyễn An Bình đã dành cho loài hoa dại ở xứ cao nguyên những câu thơ hết sức ấn tượng và người thi sĩ trong thơ đã phủ phục trước một loài hoa dại đầy đắm mê này cho dù những câu thơ anh chỉ là chiêm bao ma mị.

Xin cho tôi hôn từng cánh hoa dã quỳ

Dẫu biết đó chỉ là giấc chiêm bao

Dẫu lắt lay trong nắng sớm mưa chiều và từng đêm trở gió

Vẫn thấy em ngụ trong tim làm tôi ngạt thở

Khi xe vừa lăn qua Liên Khương, Đức Trọng, Di Linh

Khi xe vừa cắm cúi xuống đèo Bảo Lộc, Đèo Chuối

Đem tôi về lại đồng bằng gió bụi mênh mông

Ôi cánh đồng hoa dã quỳ vẫn nở suốt mùa đông

Và mái tóc em dịu dàng trong chiếc khăn quàng cổ tím

(Dã quỳ thương nhớ)

Nếu là dân Đà Lạt thì ắt hẳn sẽ không ai xa lạ với trái hồng. Đến mùa hồng thì các sạp bán trái cây màu cam đỏ của trái hồng nhìn thật đẹp mắt mà ai nhìn thấy cũng muốn mua về thưởng thức hoặc để làm quà cho người thân.

Không biết những tình cảm đã dẫn dắt và níu kéo như thế nào mà nhà thơ đã thốt nên những câu thơ dành cho em thật thiết tha và trìu mến. Ôi bàn tay em trẩy quả hồng đầu tiên vừa chín tới với lời hẹn ước tháng chạp trở lại tại D’ran đầy thương yêu và nhung nhớ.

Vườn hồng nhà ai vừa chín tới

Phải em – người trẩy quả đầu tiên

Xanh mướt su hào quanh triền núi

Mượt mà như thể bàn tay em?

Tháng chạp ước gì anh trở lại

Nhìn sắc hoa vàng nhớ áo em

Chút tình gới lại D’ran phố

Đồi núi sương mờ trong bóng đêm.

(D’ ran chút tình gởi lại)

Khi đã yêu thì hầu như bất kỳ điều nhỏ nhặt nào cũng khiến người ta yêu và nhớ rồi nhắc nhở. Nguyễn An Bình cứ đi từ cõi đê mê này qua cõi đê mê khác và cảm tất cả những gì nơi em đang sống và thi sĩ đã ví em như nàng tiên từ cổ tích bước ra. Tất cả những điều đó đã là nỗi nhớ quắt quay và nỗi nhớ ấy đã đi theo thi nhân vào giấc ngủ mà khi trở mình nhà thơ đã cảm như “ Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư”. Ôi một câu thơ hay đầy nỗi trăn trở của lòng người mà chỉ có tình yêu mới có thể cảm nhận được.

Tôi vẫn thích ngắm nhìn em như thế

Như nàng tiên từ cổ tích bước ra

Mùi khoai nướng thơm lừng trong cái rét

Đêm trở mình sợi tóc cũng tương tư.

Đà Lạt không quên những ngày mưa cuối

Một người quen ngồi thả lá bên cầu

Trong sương khói bàn tay còn chút ấm

Lạnh đất trời một thuở có tìm nhau?

(Đà Lạt, những ngày mưa cuối)

Nhà thơ Nguyễn An Bình đã viết ĐÀ LẠT, TÌNH TÔI NGƯỜI LỮ KHÁCH với một tập thơ tình đầy lãng mạn về núi đồi cao nguyên Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Một tập thơ hầu như bài nào cũng hay. Cho nên trích dẫn thực sự tôi cũng không biết phải chọn như thế nào. Bỏ câu nào tôi cũng tiếc. Nhưng cuối cùng tôi cũng không thể nào trích hết vì quá nhiều câu hay. Thôi thì để dành cho bạn đọc sẽ đọc và cảm nhận như những bản nhạc tình đưa hồn mình về với cõi yêu thương nhung nhớ…

Mùa phượng tím rũ xuống đời lầm lũi

Từng giọt buồn lay động tiếng mưa rơi.

Mai xa lắc đồi thông reo xanh mướt

Cà phê thơm môi ngọt tiếng em cười

(Đêm giã từ Đà Lạt)

Em đến nơi nầy từ những cánh rừng mưa

Đà Lạt vấn vương gieo neo tình em ở lại

Tôi lữ khách đâu hiểu hết lòng con gái

Như hoa móng rồng sáng nắng lại chiều mưa

(Đi tìm mùa hoa móng rồng)

Lại nhớ em – những cơn mưa Đà Lạt

Nhớ con đường hồng nhuộm áo đỗ quyên

Khi yêu nhà thơ thường tự hỏi không biết mình nhớ điều gì. Chàng thi sĩ không hỏi em của tình yêu mà hỏi cả một Đà Lạt thân thương khi có bóng hình người yêu mình ở đó. Hẳn là người Đà Lạt thì cà phê Tùng – một quán cà phê mà ai cũng biết, như Hồ Xuân Hương vì đó là những nơi mà người Đà Lạt thường tìm niềm vui bên tách cà phê hay đi dạo trên ven bờ hồ ngắm cảnh nước trời mênh mông dưới hàng cây lãng mạn và chụp những tấm hình ghi một vài kỷ niệm.

Vùng núi đồi Lang Biang tuyệt mỹ theo truyền thuyết của đôi tình nhân mà ai đi Đà Lạt cũng hiếu kỳ muốn biết. Nơi nào cũng là những dấu chân kỷ niệm của nhà thơ. Nên bài thơ nào của anh cũng cứ bâng khuâng hoài niệm về một mối tình tưởng sẽ chia xa, nhưng rồi lại tìm về. Phải chăng đó là nỗi niềm của nhà thơ “Đà Lạt tình tôi người lữ khách”. Vâng, cái vương vương đó là nỗi lòng của nhà thơ. Bởi cái gì mình không thể nào có được trong thực tại thì nó đẹp vô vàn.

Nói như Hồ Dzếnh trong bài thơ Ngập ngừng:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp những khi còn đang dở

Dù đó chỉ là một câu nói trấn an cho một mối tình không trọn vẹn. Chứ ai không mong cầu một hạnh phúc vẹn toàn. Bởi thế mà nhà thơ luôn có những áng thơ tuyệt mỹ về vùng cao nguyên này cho chúng ta cùng thưởng thức. Nơi nào anh cũng đi qua và cũng đong đầy kỷ niệm. Ta hãy cùng nhau đọc những đoạn thơ tình của anh qua rất nhiều địa danh…để hiểu anh đã nhớ thương như thế nào… nhưng sao không là người con của Đà Lạt mà cứ mãi hoài là lữ khách…

Đà Lạt có gì – sao anh nhớ

Giây phút dừng chân chợt nhói lòng

Phải lòng con gái cao nguyên ấy

Một đời thơ thẩn giữa ngàn thông.

(Giữa ngàn thông Đà Lạt)

… Lặng bên hồ Xuân Hương

Con ngựa thồ mắt ướt

Nhớ chiếc bàn cũ kỹ

Trong quán cà phê Tùng

Nghe mùi thơm bốc khói

Lặng lẽ màu thủy chung.

(Lại nhớ về Đà Lạt)

Trở lại Lang Biang núi đã bạc đầu

Nghe trời đất kể chuyện tình bất tử

Ta buồn bã đem trái sầu xuống núi

Mất lối về quạnh quẽ cả ngàn lau.

(Lang Biang ngày trở lại)

Mùa hoa cũ lạc về đâu em nhỉ

Tôi lang thang trôi mất một mùa hè

Em giấu tình trong nụ hoa chưa kịp nở

Để đường về lòng rợp bóng mây

(Những mùa hoa oải hương)

Tạ ơn em – Đà Lạt

Tìm chi dấu thời gian

Thương loài cây trốn gió

Cuộc tình thuở nào tan?

(Tạ ơn người Đà Lạt)

...Tím chi tím quá phượng ơi

Để người phố núi ngậm ngùi chia tay.

Không còn ai mượn bờ vai

Nên se sắt lạnh – Sóng đầy mắt nhau

Bình yên em nhé – Ngày sau

Môi thơm còn giữ một màu tím xưa.

(Thuở Đà Lạt, dịu đang màu phượng tím)

Một Đà Lạt thơ mộng trữ tình đã đi vào thơ của Nguyễn An Bình đến nồng say mê đắm trong những đêm thảo nguyên mênh mông huyền hoặc. Nào mơ về em một mùa cỏ hồng mà người đã trôi theo mùa trăng cổ tích cùng tiếng gió đại ngàn còn thổn thức mãi với thời gian. Phải chăng bãi cỏ là những kỷ niệm một thời yêu nhau mà kết cỏ làm nhẫn. Nhà thơ nhắc khá nhiều về hoa phượng tím. Một loài hoa đến mùa nở mà ai cũng phải trầm trồ. Hoa đẹp và lãng mạn như vậy thì đôi tình nhân nào không một hay nhiều lần ghé đến. Ắt hẳn nhà thơ cũng có rất nhiều kỷ niệm với loài hoa này. Ôi một Đà Lạt cứ để thi nhân phải yêu người ngóng núi… mà không thoát ra khỏi sự nhớ thương…đến rồi đi rồi chờ rồi đợi và tự hỏi ly rượu này đêm nay ai sẽ cùng ta uống cạn…

Đêm thảo nguyên mênh mông đầy huyền hoặc

Sao ngang trời lấp lánh xuống đồi trăng

Trái yêu đương đã qua mùa quả ngọt

Mùa cỏ hồng em có kịp về không?

Người yêu người trôi mùa trăng cổ tích

Gió đại ngàn ngậm tiếng thở thời gian.

(Trăng trên đồi cỏ hồng)

Bao mùa hạt cỏ bay đi

Có ươm lại kiếp xuân thì cho nhau

Đất cằn, khô dấu, mai sau

Vết chân chim, rụng, kiếp nào đã quên.

Vê nghe cỏ hát dưới chân

Vẫn xanh như kiếp tình nhân thuở nào

Tóc người thơm mãi ngàn sau

Một thời nhẫn cỏ hằn đau da người.

(Về nghe cỏ hát)

Đêm Đà Lạt ngày cuối năm ẩm ướt

Mưa bụi giăng giăng hết một kiếp sầu

Hòn sỏi nhỏ ném xuống hồ thinh lặng

Âm sóng vô tình giấu kín vết đau.

Khi ta về nằm trên đồi phượng tím

Đón một vì sao vừa rụng nơi nầy

Hương cỏ dại tiễn chân người xa ngái

Ly rượu buồn ai uống cạn đêm nay.

(Viết trên đồi phượng tím)

Ta yêu người ngóng núi

Yêu sương tím ven hồ

Con sông buồn tiếc nuối

Một cuộc tình vừa xa.

(Yêu người ngóng núi)

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết: “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi…”. Phải chăng vì thế mà Nguyễn An Bình đã trở thành NGƯỜI LỮ KHÁCH TRÊN NHỮNG DỐC TÌNH ĐÀ LẠT. Một Đà Lạt đắm say và đẹp đến nao lòng thì làm sao mà nhà thơ có thể chia xa được. Thôi thì định mệnh có thể đã không cho nhà thơ được một tình yêu trọn vẹn thì xin cho thi nhân cứ mãi hoài làm lữ khách để lâu lâu thi nhân có dịp tìm về đi trên những con đường “nghe chiều rơi” và bâng khuâng nhớ về một thuở. Một thuở em và tôi đã cùng nhau trác tuyệt trong một mối tình…

D.T.V

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm