TIN TỨC

‘Bút chiến’ thời Tự Lực Văn Đoàn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-09 16:11:45
mail facebook google pos stwis
1160 lượt xem

Trước khi được giải Lý luận phê bình của Hội Nhà văn năm nay thì “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đã được chú ý trong cộng đồng đọc. “Câu chuyện cũ nhưng cách tiếp cận mới, khảo tả công phu, chưa kể những dẫn chứng “đấu đá” hậu trường văn chương, đọc rất vui”, độc giả bình luận.

Hai tác giả Phùng Ngọc Kiên và Đoàn Ánh Dương trong buổi toạ đàm về cuốn sách “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do”

Công trình nghiên cứu nhưng viết thú vị

Về ý kiến cho rằng, câu chuyện của văn học thuộc địa giai đoạn những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi “đã cũ” trong bối cảnh hiện tại, TS. Đoàn Ánh Dương (đồng tác giả cuốn sách) cho rằng: Thực tế không bao giờ có một đối tượng nghiên cứu cũ “đã xong xuôi”, mọi vấn đề và câu chuyện đều luôn mới nếu đặt trong cách diễn giải khác.

Một trong những độc giả đầu tiên của cuốn sách, TS. Phạm Phương Chi đánh giá: “Một công trình nghiên cứu nhưng viết thú vị kể cả lập luận, giọng điệu và sự kiện. Khi đọc, tôi cũng nhiều lần bật cười một mình, các tác giả có sự hài hước, duyên dáng, vốn rất hiếm trong các công trình khoa học, học thuật”. Chị Chi còn khẳng định: Đây là cuốn sách dành cho mọi người.

Hầu hết những người từng đọc qua “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” đều bày tỏ thích thú với những câu chuyện hậu trường văn chương được kể lại trong sách. Ở đấy, chi chít những “vụ áp phe” công kích giữa các báo, các nhân vật nổi tiếng như một sự gây chú ý cho độc giả hay như chiến lược kinh doanh văn học nghệ thuật.

Ví như: “trong số Mùa xuân báo Phong Hóa vu cho Nguyễn Công Hoan đã “sưu tầm” để viết “Lá ngọc cành vàng”, giống “Nửa chừng xuân” và “Cô giáo Minh” giống hệt “Đoạn tuyệt”, nói một cách khác tức là Nguyễn Công Hoan ăn cắp văn của Nhất Linh và Khái Hưng. Nếu Phong Hóa nói đúng, thì là một cái nhục cho nhà văn Nguyễn Công Hoan. Mà trái lại, ông Hoan quả không ăn cắp văn, thì với một việc này cũng có thể tan tành hết cả công gây dựng của TLVĐ”, trích bài của tác giả Lê Cường trên Hà Nội báo (1936). Đáp lời, báo Phong Hóa thẳng thắn: “Chúng tôi không trả lời Hà Nội báo, nghĩa là ông Lê Cường, chủ hiệu thuốc lậu Hồng Khê, vì ông Lê Cường có ý ở giữa nói khích hai bên, mong đục nước để béo cò. Hành vi ấy trẻ con lắm, dùng để quảng cáo thuốc lậu tốt hơn là dùng quảng cáo văn”.

Theo TS. Nguyễn Phương Chi, những câu chuyện kiểu này không cần có hồi kết ai đúng ai sai nhưng tạo ấn tượng về một đời sống trí thức đầy sôi động, đầy hỉ nộ ái ố những năm trước cách mạng. “Việc bao gồm những câu chuyện văn chương trong một công trình học thuật khiến cho cuốn sách có giá trị như một sự giải thiêng với tôi – nếu đặt trong bối cảnh những công trình nghiên cứu về đời sống trí thức giai đoạn thuộc địa từ góc nhìn hậu thuộc địa mà ở đó hầu hết trí thức đều được miêu tả như những nhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị hay là những nhà lập quốc rất nghiêm túc”, chị Chi chia sẻ.

Tác phẩm “Tự chủ văn chương & Sứ mệnh tự do” được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023

Tự chủ văn chương nhân trường hợp Tự Lực Văn Đoàn

Cuối tháng 12, trước khi giải thưởng Hội Nhà văn chính thức công bố, một tọa đàm khoa học về cuốn sách đã được tổ chức “xôm tụ” ở Đại học KHXH&NV Hà Nội. Nói là xôm vì cả hội trường liên tục phải dồn chỗ ngồi, sinh viên đến rất đông, phá vỡ định kiến “chuyện từ thời 1930 -1945 ai còn hứng thú nghe”.

PGS, TS Phùng Ngọc Kiên, chủ biên cuốn sách cho biết: “Đây là một phần kết quả nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia tài trợ”. Đường đi của những công trình nghiên cứu “cao siêu” kiểu này trước nay đa phần đều chỉ lưu hành trong nhóm nhỏ, rất ít phổ biến cho công chúng, đừng nói đến in sách và bán đại trà. Nên có thể coi “Tự chủ văn chương và sứ mệnh tự do” (NXB Hội Nhà văn) là một ngoại lệ.

Cuốn sách bắt đầu bằng luận điểm của TS. Phùng Ngọc Kiên về “tính nước đôi” trong sự khai phá văn minh của người Pháp ở Đông Dương. Theo chứng minh của anh Kiên: “Công cuộc khai hóa thuộc địa của Đế chế Pháp theo sau các cuộc chiếm đóng và bình định đã làm thay đổi sâu sắc xứ Đông Dương”. Và rằng: “Người Pháp vào Việt Nam đã mang đến báo chí như một không gian công cộng mới mẻ”. Để từ đó “thế giới có vẻ đã được thu nhỏ lại hơn, và dễ bề hình dung hơn với người trí thức Việt Nam”.

Mạch khảo cứu cứ thế được dẫn dắt khéo léo với lối viết hoạt, dẫn chứng chi tiết, pha chút hài hước khiến người đọc dễ dàng bị cuốn theo. Từ đây, bức tranh về những hoạt động báo chí, văn chương chữ quốc ngữ thời kỳ đầu ở Việt Nam được phục dựng hết sức cụ thể.

Tiến sĩ Mai Anh Tuấn đánh giá: Đây là cuốn sách đầu tiên trong giới nghiên cứu Việt Nam giúp chúng ta nhìn thấy vấn đề then chốt của văn học Việt Nam thuộc địa: chính là tính tự chủ.

Nói rõ hơn về tính tự chủ trong văn chương, một số diễn giả cho rằng: tự chủ có thể hiểu là người viết sống được bằng ngòi bút mà không dựa vào nhà tài trợ. Trước thế kỷ 17, trên thế giới, đa số nhà văn vẫn chỉ sống bằng tài trợ hoặc tiền trợ cấp của nhà vua.

PGS, TS. Nguyễn Bá Thành chia sẻ, theo nghiên cứu lịch sử văn học nhiều thời kỳ thì văn học tự chủ luôn có đời sống lâu hơn, khỏe hơn văn học không tự chủ (phụ thuộc, ít giá trị tự thân).

“Điểm nhấn của cuốn sách là phân tích quá trình tự chủ về kinh tế và tự chủ về nghệ thuật thông qua ví dụ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ). Nỗ lực rất lớn của TLVĐ là xây dựng quá trình tự chủ kinh tế thông qua nhiều hoạt động như: báo chí, xuất bản, in ấn, quảng cáo… để quyết định việc họ sẽ tồn tại với tư cách một nhóm phái văn chương ra sao. Giữa tự chủ về kinh tế và tự chủ về nghệ thuật cái gì quan trọng hơn? Cá nhân tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ tự chủ nghệ thuật là tiên quyết, trước khi tạo lực về kinh tế.

Ví dụ qua khảo sát lượng sách bán chạy của TLVĐ, rõ ràng không phải chỉ vì họ làm quảng cáo tốt, cũng không phải vì chiến lực in ấn khôn khéo, hay nhờ cả vào lượng độc giả đã được tập dượt về văn chương mới, mà vì tất cả sản phẩm văn chương đó đủ tạo thành một hệ thẩm mỹ mới hấp dẫn người ta mua sách. Điều này nói lên rằng: trong văn chương nếu muốn tích lũy tư bản thì phải có sự khác biệt về nghệ thuật, chính sự khác biệt này khiến cho công chúng nhận ra người nghệ sĩ và tác phẩm của họ”, ông Mai Anh Tuấn nói thêm.

HẠNH ĐỖ/ TPO

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm