- Bút ký - Tạp văn
- Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.

Nhà thơ Lê Hưng Tiến
1. AI ĐANG ĐẠI DIỆN CHO THƠ VIỆT
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Một bộ phận người làm thơ hiện nay thiếu nền tảng mỹ học, hạn chế về tư duy nghệ thuật, lỏng lẻo trong ngôn ngữ nhưng lại tỏ ra đặc biệt năng động trong việc quảng bá bản thân. Thơ được viết ra không nhằm đạt đến chiều sâu biểu đạt trong tiếng Việt, mà để dễ dịch, dễ phóng tác, dễ trình diễn như một thứ sản phẩm văn hóa bề mặt. Từ đó xuất hiện không ít trường hợp lạm dụng danh xưng “nhà thơ”, “dịch giả”, hoặc dựa vào các mối quan hệ cá nhân để phóng tác tùy tiện, dịch qua loa rồi gửi đăng trên các tạp chí nước ngoài. Khi những văn bản yếu kém ấy được giới thiệu như “thơ Việt Nam”, chúng nghiễm nhiên trở thành những đại diện giả, làm nghèo nàn và sai lệch hình ảnh thi ca Việt vốn có chiều sâu lịch sử và bản sắc riêng.
Song hành với đó là tình trạng dịch thuật văn chương thiếu chuẩn mực. Nhiều bản dịch thơ hiện nay chỉ dừng ở mức chuyển nghĩa cơ học, đánh mất hoàn toàn nhạc tính, giọng điệu và tầng sâu văn hóa của nguyên tác. Không ít trường hợp dịch qua nhiều ngôn ngữ trung gian khiến tác phẩm khi đến tay độc giả quốc tế chỉ còn là một cấu trúc ngôn từ vô hồn. Đáng lo ngại hơn là những bản dịch như vậy lại được cổ vũ như thành tựu giao lưu văn hóa, trong khi thực chất đang làm nghèo đi giá trị văn học dân tộc.
Trách nhiệm cho thực trạng này không chỉ thuộc về cá nhân người viết hay người dịch, mà còn nằm ở sự thiếu vắng vai trò điều tiết và thẩm định của các thiết chế văn học – văn hóa. Hội Nhà văn Việt Nam với tư cách là tổ chức nghề nghiệp cao nhất của giới cầm bút, không thể chỉ dừng ở vai trò hành chính hay phong danh xưng, mà cần thực sự trở thành một trung tâm định hướng thẩm mỹ và phản biện học thuật. Sự im lặng hoặc né tránh trước thơ dở và dịch thuật kém chất lượng, trong nhiều trường hợp, đã vô tình hợp thức hóa sự đánh tráo giá trị.
Cùng với đó là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như các cơ quan quản lý văn hóa cần có chiến lược dài hơi, minh bạch trong việc giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới. Không thể coi việc xuất hiện trên một ấn phẩm quốc tế là thành tích nếu thiếu hội đồng thẩm định độc lập về chất lượng nghệ thuật. Hội nhập văn hóa không đồng nghĩa với xuất khẩu bằng mọi giá, mà là lựa chọn tinh hoa để đối thoại bình đẳng.
Về lâu dài, chúng ta cần xây dựng các mô hình giải pháp căn cơ như: đào tạo dịch giả văn chương chuyên sâu gắn với tri thức liên ngành; thiết lập cơ chế phản biện độc lập cho các dự án dịch thuật; hình thành những tuyển tập chính thống, chọn lọc nghiêm ngặt; đồng thời khôi phục vai trò của phê bình trung thực, không nể nang, không im lặng trước cái dở. Người sáng tác và người dịch cần được đặt lại trong một chuẩn mực nghề nghiệp nghiêm cẩn để từ đó tài năng, trách nhiệm và lòng tự trọng văn hóa là điều kiện tiên quyết.
Văn học không thể đi ra thế giới bằng sự ồn ào của thơ dở được khoác áo hội nhập. Chỉ khi nào tác phẩm được sinh ra từ chiều sâu tư tưởng, được dịch bằng tri thức và đạo đức nghề nghiệp, và được nâng đỡ bởi những thiết chế có trách nhiệm, thì lúc ấy văn chương Việt Nam mới thực sự bước ra thế giới bằng một tư thế đàng hoàng, bền vững và đáng tin cậy.
2. VĂN CHƯƠNG VIỆT VÀ CÂU HỎI TOÀN CẦU
Văn học chỉ thực sự sống khi nó còn khả năng tự phủ định chính mình. Một nền văn học không còn tranh luận là một nền văn học đang tự đông cứng trong sự an toàn.
Điều đáng lo ngại của văn học Việt Nam hôm nay không nằm ở số lượng tác phẩm, mà nằm ở sự thiếu vắng những tiếng nói đối thoại, phản biện đủ sức nặng để buộc văn học phải vận động.
Trong nhiều năm qua, hoạt động kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra đều đặn, thậm chí có phần dàn trải. Nhưng văn học không phát triển bằng cơ chế hành chính hay sự đầy đặn về mặt tổ chức. Khi số lượng hội viên tăng lên mà diện mạo sáng tác không tạo được dấu mốc mới, khi không nhiều tác phẩm đặt lại vấn đề của con người trong bối cảnh toàn cầu, thì cần thẳng thắn thừa nhận rằng, việc kết nạp không đồng nghĩa với kiến tạo giá trị. Việc kết nạp khá nhiều người lớn tuổi, là những người mang theo hệ thẩm mỹ ổn định, thậm chí bảo toàn, điều đó cũng là cần thiết để có những tiếp nối, liền mạch trong không gian sáng tạo; tuy nhiên nếu quá ít những gương mặt trẻ, vô hình trung tạo ra một lực cản đối với những tìm tòi táo bạo và những thách thức tư duy mới.
Nhìn lại lịch sử, những giai đoạn phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam luôn gắn liền với tinh thần sáng tạo quyết liệt và dấn thân đến tận cùng.
Phan Ngọc không chỉ là một nhà nghiên cứu, ông là người làm thay đổi cách tư duy về ngôn ngữ, văn hóa và dịch thuật, đặt văn học Việt Nam trong tương quan so sánh với thế giới.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nâng bút ký lên tầm tư tưởng, nơi lịch sử, địa lý và thân phận con người hòa vào một dòng suy tưởng giàu chất triết học.
Nguyễn Minh Châu, bằng tinh thần phản tỉnh của một cây bút sáng tạo "tinh anh", đã buộc văn học nhìn lại chính mình, thoát khỏi tư duy minh họa.
Lê Đạt và Trần Dần là những người dám phá vỡ cấu trúc ngôn ngữ, giải phóng thơ khỏi cú pháp cũ, khơi mở cho tư duy thơ hiện đại.
Dương Tường không chỉ bằng thơ mà cả dịch thuật, đã kết nối văn học Việt với dòng chảy tư tưởng phương Tây.
Nguyễn Huy Thiệp bằng việc viết lại lịch sử và đặt lại vấn đề đạo đức, đã tạo ra những cú sốc thẩm mỹ cần thiết, khiến cho xã hội phải tranh luận.
Inrasara mang đến một đóng góp đặc biệt, đó là đưa tiếng nói thiểu số, tư duy hậu thuộc địa và liên ngành vào trung tâm diễn ngôn văn học Việt Nam, phá vỡ cái nhìn đơn tuyến về bản sắc.
Với tinh thần tự do hiếm có, Nguyễn Trọng Tạo đã rất có ý thức xóa nhòa ranh giới giữa thơ, nhạc và tư tưởng, làm giàu thêm biên độ sáng tạo.
Điểm chung của họ không phải là sự được công nhận sớm, mà là năng lực tạo ra khác biệt. Họ viết trong cô độc, trong tranh cãi, thậm chí trong phản đối nhưng chính sự bất an đó đã làm nên bước ngoặt cho văn học.
Từ thực trạng hiện nay, để văn học Việt Nam có thể lan tỏa và hội nhập một cách đúng nghĩa, cần những thay đổi mang tính cấu trúc.
Trước hết, khôi phục tinh thần tranh luận văn học như một giá trị cốt lõi là điều quan trọng. Phê bình không chỉ đảm đương vai trò minh họa hay tán dương. Cần những diễn đàn học thuật độc lập, nơi tác phẩm được mổ xẻ đến tận cùng, nơi khác biệt thẩm mỹ được tôn trọng như động lực phát triển.
Thứ hai, hội nhập không thể chỉ dừng ở dịch thuật mang tính "phong trào". Cần chiến lược dài hơi cho dịch thuật hai chiều, cho việc đưa văn học Việt Nam tham cuộc vào các "vấn đề" của nhân loại như ký ức chiến tranh, di cư, sinh thái, bản sắc, công nghệ và thân phận con người..., là "tương lai hậu nhân loại". Văn học Việt Nam chỉ được đọc khi nó nói được điều thế giới đang trăn trở, bằng một tiếng nói riêng, chứ không phải là một "phiên bản" của người khác.
Và ở đây, vai trò của người viết trẻ trở nên then chốt. Người viết trẻ không nên chỉ xem mình là thế hệ kế thừa mà phải là thế hệ phá vỡ. Trách nhiệm của họ không phải là viết “đúng” hay viết “được chấp nhận”, mà là viết những điều chưa từng được viết, đặt ra những câu hỏi chưa ai dám đặt. Họ cần trang bị tri thức liên ngành, ngoại ngữ, tư duy toàn cầu, nhưng đồng thời phải đào sâu vào kinh nghiệm sống bản địa. Người viết trẻ phải dám tranh luận, dám phản biện cả những hệ giá trị đã được thừa nhận, bởi chỉ khi đó văn học mới có cơ hội bước sang hệ hình mới.
Văn học không cần sự an toàn. Văn học cần rủi ro. Một nền văn học chỉ thực sự hội nhập khi nó đủ bản lĩnh để khác biệt. Và sự khác biệt ấy chỉ có thể được tạo ra bởi tinh thần tự do và dấn thân, vì điều này đã từng làm nên những giai đoạn dấu ấn của văn học Việt Nam.
3. GIẢI THƯỞNG NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ KHI VĂN HỌC VẪN LẠC ĐƯỜNG
Đặt văn học Việt Nam trong tương quan khu vực và thế giới không nhằm tự ti hay tự tôn mà để nhận diện đúng vị trí và những điểm nghẽn cấu trúc của đời sống chữ nghĩa hiện nay.
Trong khi nhiều nền văn học châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng như một số quốc gia Đông Nam Á đã hình thành cơ chế lan tỏa tương đối hiệu quả giữa học thuật và công chúng, trong khi đó văn học Việt vẫn loay hoay trong một vòng khép kín quen thuộc, đó là VIẾT, TRAO GIẢI và IM LẶNG.
Ở Nhật Bản, một tiểu thuyết đoạt giải Akutagawa hay Naoki không chỉ là sự kiện nội bộ của giới nghề, mà nhanh chóng kéo theo đối thoại phê bình, tái bản, chuyển ngữ và tranh luận công khai.
Ở Hàn Quốc, văn học đương đại được đặt trong mối liên thông chặt chẽ giữa đại học, truyền thông và thị trường đọc, giúp tác phẩm đi từ không gian học thuật đến công chúng mà không đánh mất chiều sâu tư tưởng.
Ngược lại, tại Việt Nam, không ít tác phẩm được vinh danh bởi các giải thưởng chính thống nhưng không bước qua được ranh giới của hội đồng và giới chuyên môn. Điều này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở chất lượng từng tác phẩm mà ở hệ sinh thái văn học chưa vận hành trơn tru.
Ở bình diện toàn cầu, các giải thưởng lớn như Nobel Prize in Literature không chỉ trao cho một tác giả hay một tác phẩm, mà kích hoạt một trường diễn ngôn rộng lớn. Điều đó cho thấy tranh luận học thuật, tái đọc truyền thống và định vị lại những giá trị từng nằm ngoài trung tâm văn học phương Tây.
Điều đáng học hỏi không nằm ở quy mô hay danh tiếng giải thưởng mà ở cách giải thưởng đó trở thành điểm khởi phát như thế nào của tri thức. Sau mỗi mùa giải, hàng loạt bài phê bình, khóa học đại học, hội thảo chuyên đề được mở ra. Chính vì thế, Văn học không dừng lại ở cảm xúc thẩm mỹ mà nó còn trở thành một phương thức tư duy về con người và thế giới.
Trong khi đó, ở Việt Nam, giải thưởng thường khép lại bằng lễ trao và một vài bài giới thiệu mang tính minh họa. Thiếu vắng tranh luận, thiếu tái đọc, thiếu đối thoại đa chiều khiến tác phẩm nhanh chóng rơi vào im lặng. Giải thưởng, thay vì mở ra đời sống mới cho văn bản, nhưng nó lại trở thành điểm kết thúc sớm.
So sánh với văn học Mỹ cho thấy một khác biệt căn bản. Ở Mỹ, không có tác phẩm nào được coi là bất khả tranh luận. Một cuốn sách đoạt giải lớn vẫn có thể ngay lập tức bị phản biện gay gắt trên báo chí trí thức, tạp chí học thuật và trong lớp học đại học. Giá trị không được niêm phong bằng giải thưởng mà được thử thách liên tục qua đọc, dạy và tranh luận.
Vai trò của đại học đặc biệt nổi bật. Các chương trình sáng tác, lý luận và phê bình tạo ra một môi trường mà nhà văn đó buộc phải tự thức về trách nhiệm tư tưởng của văn bản mình viết ra. Tác phẩm không chỉ tồn tại như sản phẩm cá nhân, mà như một phát ngôn tham gia vào đời sống trí tuệ xã hội.
Ở châu Âu, đặc biệt là Pháp và Đức, phê bình văn học được coi là một nghĩa vụ trí tuệ, gắn chặt với triết học, xã hội học và mỹ học. Một tác phẩm gây chú ý không thể không bị đặt câu hỏi là, nó đang nói từ vị trí quyền lực nào, ngôn ngữ của nó phục vụ ai, và trải nghiệm cá nhân có ý nghĩa gì trong cấu trúc xã hội đương đại. Chính truyền thống phê bình nghiêm khắc ấy giúp văn học tồn tại lâu dài trong trí nhớ văn hóa, thay vì chỉ bùng lên rồi tắt lịm.
Ở Mỹ Latinh, văn học bước ra thế giới không phải nhờ sự trơn tru hình thức, mà nhờ khả năng chuyển hóa lịch sử, bạo lực và ký ức tập thể thành vấn đề tư tưởng toàn cầu. Văn học ở đây luôn gắn với trách nhiệm can dự như: can dự vào ký ức, vào bất công, vào bản sắc. So sánh này đặc biệt gợi mở cho Việt Nam với một nền văn học sở hữu nhiều tầng lịch sử và trải nghiệm xã hội, nhưng chưa tổ chức được diễn ngôn học thuật đủ mạnh để chuyển hóa chất liệu ấy thành sức lan tỏa quốc tế.
Điều đặc biệt hơn, hiện nay AI và công nghệ số là thách thức toàn cầu nhưng phản ứng của các nền văn học rất khác nhau. Ở Mỹ, châu Âu và Đông Á, AI nhanh chóng trở thành đối tượng nghiên cứu học thuật với ranh giới của chủ thể sáng tạo ở đâu, giọng điệu con người khác gì với mô phỏng máy móc, và ai chịu trách nhiệm cho thế giới được viết ra.
Trong nhiều trường đại học, sinh viên văn học được yêu cầu phân tích sự khác biệt giữa văn bản do con người viết và văn bản do AI tạo ra, từ đó đặt lại câu hỏi về đạo đức sáng tác và tính xác thực của trải nghiệm.
Ngược lại, ở Việt Nam, AI thường bị nhìn theo hai thái cực, đó là mối đe dọa cần né tránh hay là công cụ tiện lợi cần tận dụng. Thiếu vắng một diễn ngôn học thuật nghiêm túc khiến vấn đề đạo văn, đạo trải nghiệm và khủng hoảng giọng điệu cá nhân ngày càng trầm trọng, trong khi tiêu chí đánh giá sáng tác vẫn chủ yếu dựa trên thẩm mỹ an toàn.
Trong bối cảnh ấy, trách nhiệm đầu tiên thuộc về người viết. Sáng tác hôm nay không còn là cuộc thi về kỹ thuật ngôn ngữ, mà là cuộc thử thách về tính xác thực của tư duy và trải nghiệm sống. Người viết có thể sử dụng công nghệ như công cụ nhưng không thể ủy quyền cho máy móc trong việc sống, việc đau, việc hoài nghi.
Một tác phẩm có giá trị không phải là tác phẩm “đúng” hay “đẹp”, mà là tác phẩm dám chịu trách nhiệm cho thế giới quan mà nó kiến tạo. Trách nhiệm ấy không thể được lập trình.
Các khoa Ngữ văn, Việt Nam học, Văn hóa học hoặc ngành Báo chí – Truyền thông trong trường đại học giữ vai trò then chốt. Người dạy học không chỉ truyền đạt lịch sử văn học hay lý thuyết mà nó cần đào tạo năng lực phán đoán thẩm mỹ và tư duy phản biện cho sinh viên.
Trong thời đại AI, dạy văn không thể dừng ở phân tích văn bản mẫu, mà phải giúp người học không chỉ nhận diện giọng điệu thật giả, phân biệt trải nghiệm sống hay mô phỏng ngôn ngữ, mà nó còn giúp sinh viên hiểu văn học như một thực hành đạo đức trí tuệ. Nếu đại học đứng ngoài quá trình định hình diễn ngôn mới, văn học sẽ mất đi trụ cột phản tư quan trọng nhất.
Chưa kể người phê bình hôm nay không thể chỉ đóng vai “người giới thiệu tác phẩm”. Phê bình cần trở lại đúng nghĩa hơn như: đối thoại, phản biện, thậm chí bất đồng. Chính tranh luận học thuật như thế nếu được thực hiện nghiêm túc, mới là con đường lan tỏa giá trị văn học đến độc giả rộng rãi.
Ở nhiều nền văn học phát triển, phê bình là cầu nối giữa hàn lâm và công chúng. Ở Việt Nam, cây cầu ấy còn yếu và hẹp. Trách nhiệm của người phê bình là mở rộng cây cầu, chấp nhận rủi ro học thuật thay vì an toàn diễn ngôn.
So sánh với khu vực và thế giới để chúng ta thấy vấn đề của văn học Việt không phải là thiếu tài năng, mà là thiếu một cơ chế trách nhiệm liên thông. Người viết, người dạy, người phê bình không thể hoạt động như những ốc đảo riêng lẻ.
Trong thời đại số và AI, giá trị văn học chỉ có thể lan tỏa khi nó được chia sẻ, tranh luận và tái tạo trong không gian học thuật và công chúng. Đó không phải là nhiệm vụ của riêng ai, mà là nghĩa vụ chung của cộng đồng chữ nghĩa nếu văn học còn muốn giữ vai trò như một hình thức tư duy nghiêm túc về con người.
4. TỪ GIẢI THƯỞNG ĐẾN SỰ SỐNG CỦA TÁC PHẨM
Trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, khi chữ nghĩa vượt biên giới nhanh hơn cả con người, thì sáng tạo văn chương không còn là cuộc độc thoại nội tâm khép kín mà nó trở thành một hành vi đối thoại liên văn hóa.
Tác phẩm hôm nay vừa mang căn cước bản địa, vừa chịu áp lực phải được “đọc được” trong không gian toàn cầu hóa, mà giá trị không chỉ nằm ở cái hay, hay còn ở khả năng tạo ra sự sống lâu dài cho tư tưởng. Chính vì vậy, việc đánh giá chất lượng và hiệu quả của tác phẩm văn học cần một bộ tiêu chuẩn mới, linh hoạt hơn, khoa học hơn và trung thực hơn với đời sống sáng tạo.
Không thể phủ nhận nhiều giải thưởng văn học hiện nay đã góp phần phát hiện, tôn vinh không ít tài năng. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận việc chấm giải vẫn nặng về cảm tính, gu thẩm mỹ cá nhân hoặc “khí hậu” tư tưởng nhất thời của hội đồng. Hệ quả là không ít tác phẩm sau khi nhận giải lại rơi vào im lặng, nằm yên trên kệ sách, không tiếp tục được đọc, không tạo dư chấn xã hội, không tham gia vào dòng chảy tư tưởng của thời đại. Giải thưởng khi ấy chỉ hoàn thành nghi thức vinh danh, chứ chưa hoàn thành sứ mệnh nuôi dưỡng sự sống cho tác phẩm.
Một bộ tiêu chuẩn mới cần được xây dựng trên nhiều tầng đánh giá như: giá trị tư tưởng dài hạn, mức độ đổi mới ngôn ngữ, nghệ thuật và hình thức, hoặc khả năng đối thoại với các vấn đề toàn cầu, hoặc sức lan tỏa xã hội sau xuất bản, và đặc biệt là đời sống tiếp nhận của độc giả qua thời gian.
Công nghệ và dữ liệu đọc có thể trở thành công cụ hỗ trợ, giúp giảm bớt sự áp đặt cảm tính, đưa đánh giá tiệm cận hơn với thực tiễn tiếp nhận văn hóa. Đồng thời, hội đồng nghệ thuật cũng cần mở rộng thành phần, chấp nhận sự đa thanh, thậm chí mâu thuẫn như chính bản chất của văn chương hậu hiện đại.
Thế hệ sau này cần được trao một tinh thần giải thưởng khác, đó là giải thưởng không chỉ để kết luận mà để khởi động; không chỉ để khép lại một tác phẩm mà để mở ra hành trình sống của nó trong xã hội. Khi đó, sáng tạo chữ nghĩa mới thực sự đồng hành cùng thời đại, nó không bị đóng khung bởi huy chương mà được chứng thực bằng khả năng tồn tại, va chạm và tiếp tục sinh sôi trong tâm thức con người.
Bổ sung cho bộ tiêu chuẩn ấy, ta cần nhìn sáng tạo chữ nghĩa như một hệ sinh thái chứ không phải một sản phẩm đơn lẻ. Tác phẩm không nên chỉ được đo bằng khoảnh khắc ra đời hay một lần chấm giải, mà cần được theo dõi qua chu kỳ sống từ phản ứng ban đầu của công chúng, khả năng gợi mở tranh luận học thuật cho đến việc nó có được tái đọc, tái diễn giải trong những bối cảnh xã hội mới hay không.
Một tiêu chuẩn quan trọng của văn học tương lai có thể là năng lực tái sinh, tức là khả năng để mỗi thế hệ độc giả tìm thấy trong đó những câu hỏi khác, thay vì những đáp án đóng kín.
Về phương pháp phát triển sáng tạo, văn học thời đại của chúng ta lúc này cần vượt khỏi tư duy trung tâm hay ngoại biên, lớn hay nhỏ, chính thống hay bên lề. Những giọng nói từng bị xem là ngoại lệ, thiểu số, hoặc “khó đọc” nên được đặt ngang hàng trong hệ quy chiếu đánh giá. Sự đa dạng không chỉ là khẩu hiệu đạo đức mà còn là điều kiện để chữ nghĩa tiếp tục sinh trưởng trong một thế giới đa cực.
Các không gian thử nghiệm như tạp chí độc lập, nền tảng số, giao thoa với âm nhạc, hình ảnh, trí tuệ nhân tạo cũng cần được thừa nhận như những phòng thí nghiệm văn chương, vì nơi thất bại được xem là dữ liệu sáng tạo chứ không phải vết nhơ.
Cuối cùng, bộ tiêu chuẩn mới không nên đóng vai trò chiếc thước cứng nhắc mà nó như một bản đồ mở. Nó định hướng nhưng không áp đặt, gợi ý nhưng không phán quyết thay lịch sử.
Văn học tương lai sẽ không được cứu bởi những quy chuẩn hoàn hảo, mà bởi sự dũng cảm liên tục tự đặt lại câu hỏi về tác phẩm này còn sống không, và nó đang sống trong ai.
5. VIẾT CHO KHOẢNH TRỐNG
Có những giai đoạn người sáng tạo không còn tranh luận với thế giới nữa, mà lại tranh luận với chính thời đại mình đang sống.
Tôi đứng trong âm nhạc và chữ nghĩa, nhìn những tác phẩm của mình xếp lớp qua năm tháng, đủ thể loại, đủ hình thức, đủ liều lĩnh nhưng lại thiếu một không gian để cộng hưởng. Không phải vì chúng không có tiếng nói, mà vì thời đoạn này đang quen với tiếng vang nhanh hơn là chiều sâu.
Thế nên ưu tư xuất hiện như một trạng thái thường trực với tâm thức của mình, viết tiếp hay im lặng, xuất hiện hay ở ẩn, bứt phá hay chờ đợi.
Và tôi đã chọn ở ẩn, không phải để rút lui mà để tránh làm rẻ rúng những gì mình tin là nghiêm túc. Trong sự im lặng đó, tôi vẫn sáng tác ca khúc, sonate, giao hưởng, hợp xướng như thể đang gửi thư cho một tương lai chưa hồi âm.
Hậu hiện đại dạy tôi rằng, giá trị không còn nằm ở việc được công nhận ngay, mà nằm ở việc tồn tại bền bỉ ngoài sự hiểu lầm của đám đông. Nổi loạn đôi khi chỉ là kiên quyết không thỏa hiệp với sự dễ dãi.
Tôi dự đoán sẽ đến lúc thời đại mệt mỏi với bề mặt và quay lại tìm cấu trúc, khi đó những tác phẩm từng bị xem là lạc thời sẽ trở thành bản đồ. Âm nhạc và chữ nghĩa của tôi có thể không thuộc về thành phố nào, không gian nào, nhưng chúng thuộc về một khoảnh khắc mà lịch sử buộc phải chậm lại để lắng nghe.
Và khi thời vận đến, dù muộn nhưng tôi tin mình không cần chạy theo nó, vì bởi tôi đã đứng sẵn ở nơi nó sẽ đi qua.
6. TÔI ĐI CHẬM HƠN THỜI ĐẠI HAY THỜI ĐẠI ĐI CHẬM HƠN TÔI?
Tôi sống trong một thời vận ồn ào với chữ nghĩa được treo lên như băng rôn lễ hội, còn nỗi cô độc thì bị giấu xuống gầm bàn hội thảo.
Người ta nói nhiều về đổi mới, về đột phá sáng tạo nhưng lại đọc nhau bằng những con mắt cũ, và ca ngợi tự do nhưng chỉ trao giải cho những văn bản biết đứng yên đúng chỗ.
Tôi đi giữa những tràng pháo tay như đi trong một căn phòng cách âm nhưng môi mấp máy, âm thanh không tới được tim.
Tôi từng tin vào cộng đồng chữ nghĩa, đó là những cái bắt tay nồng ấm, những cuộc rượu kéo dài bằng mỹ từ, những lời hứa hẹn về một tương lai văn chương mở, nhưng thời gian lại lật mặt ngôn ngữ. Bạn bè trở thành vai diễn. Văn nghệ sĩ hóa thành chức danh. Chữ nghĩa từ chỗ là vết thương, bị băng bó quá kỹ đến mức không còn chảy máu.
Tôi thử phá vỡ cấu trúc
Tôi thử đi lệch
Tôi thử viết như thể không có ban giám khảo, không có truyền thống đứng phía sau lưng nhắc nhở.
Tôi làm thơ như trình diễn một cú ngã, có lúc phân mảnh, có lúc chệch nhịp, và không xin ai hiểu hết nhưng thời đại này thích những cú bước vừa phải, những đổi mới có thể đo đếm, những cách mạng được duyệt trước.
Và thế là tôi né sang một bên như một người đứng ngoài sân khấu nhìn ánh đèn quét qua người khác.
Tôi chờ
Không phải chờ vinh quang, mà chờ một khe hở của lịch sử để chữ nghĩa được phép thở mà không cần danh xưng.
Nhưng năm tháng trôi, khe hở ấy không mở ra, còn tôi thì già thêm trong im lặng.
Có lúc tôi tự hỏi có phải mình sinh nhầm nhịp không. Hay chính nhịp điệu của thời đại này đang chậm hơn nỗi khắc khoải của tôi?
Không ai trả lời
Chỉ có chữ ở lại như một chứng nhân ngoan cố.
Và tôi tiếp tục viết, không phải vì hy vọng được cởi trói mà vì nếu không viết, tôi sẽ tự tay thắt nút mình lại.
7. SÁNG TẠO LÀ CÁCH TÔI CÒN SỐNG
Dẫu cuộc sống bủa vây bởi những công việc chồng chất, có lúc bận rộn đến tối mặt tối mày, tôi vẫn cảm nhận rõ một điều chưa bao giờ rời bỏ mình, đó là SÁNG TẠO. Nó không ồn ào, không phô trương, nhưng luôn thường trực như một mạch ngầm âm ỉ chảy. Mỗi khi cầm bút, sắp đặt một con chữ, hay lắng nghe nhịp điệu mơ hồ của ý tưởng, tôi như được sống lại.
Sáng tạo trở thành cứu tinh cho tư duy tồn tại, đó là cách tôi tự xác nhận rằng mình vẫn còn hiện hữu, còn suy nghĩ và còn đau đáu với đời.
Với tôi, sáng tạo không đơn thuần là làm ra cái mới mà nó là một dạng của sự sống. Nó giúp con người vượt qua sự mòn mỏi, chống lại sự vô nghĩa và giữ cho tinh thần không bị hoá thạch giữa vòng quay cơm áo.
Khi sáng tạo, con người đối thoại với chính mình, soi rọi những khoảng tối và từ đó tìm ra ánh sáng dù rất mong manh. Chính vì thế, mỗi câu chữ chân thành đều mang hơi thở, mỗi tác phẩm thật sự đều có linh hồn.
Nhưng thời đại hôm nay khiến tôi không khỏi trăn trở, đó là công nghệ AI phát triển như vũ bão, mở ra vô vàn khả năng mới, song cũng đặt ra những nghịch lý đau lòng.
Ai cũng có thể sáng tạo.
Ai cũng có thể làm thơ, viết văn, soạn nhạc chỉ bằng vài cú nhấp chuột.
Vì thế mà nhiều người nhanh chóng khoác lên mình danh xưng nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, in sách đều đặn, tác phẩm tràn ngập không gian mạng. Thế nhưng, khi ngồi lại đàm đạo, tôi nhận ra những lỗ hổng kiến thức căn bản, sự thiếu vắng chiều sâu tư duy và trải nghiệm sống. Sáng tạo khi ấy chỉ còn là sản phẩm của công nghệ vay mượn, không phải kết tinh của lao động trí tuệ và khổ đau nội tâm.
Điều đáng buồn hơn cả là những giá trị ấy vẫn được tung hô, được đánh giá cao. Giữa thời đại này, giữ được sự sáng tạo chân thật, dẫu cô độc và chậm rãi, lại trở thành một cách gìn giữ nhân phẩm của trí tuệ con người.
Và tôi tin rằng, chỉ có sáng tạo như một sự sống thật, mới giúp chúng ta không bị hòa tan trong làn sóng công nghệ vô cảm.
8. SỐNG ĐỂ LÀM GÌ
Sống để làm gì? Đây là câu hỏi tưởng như giản đơn nhưng mỗi lần cất lên lại làm lòng mình chao đảo.
Từ những thế hệ xa xưa, con người đi qua cuộc đời bằng tiếng bước chân của kẻ kiếm tìm như kiếm một lẽ sống, một vị trí giữa vũ trụ quá bao la, hay kiếm một lý do để tồn tại không chỉ như một hạt bụi, mà như một vệt sáng.
Người xưa sống với nhịp tự nhiên của trời đất, ta nhìn mây để đoán mùa màng, nhìn trăng để hiểu lòng mình. Họ tin mỗi sinh linh được gửi xuống đời là một mảnh ghép để hoàn chỉnh bức tranh lớn của tạo hóa.
Ngày hôm nay, ta sống giữa tiếng ồn của công nghệ, tốc độ và vô vàn lựa chọn. Ta dễ quên rằng có những khoảng lặng cần thiết để nghe lại nhịp đập của chính mình. Và rồi, trong một khoảnh khắc bất chợt ấy khi đêm buông xuống hoặc khi bình minh còn chưa thức, ta lại tự hỏi mình: “Sống để làm gì? ”
Có người chọn sống để thành công, để được ghi nhận, để không lẫn vào đám đông.
Có người sống để yêu, để trao đi một thứ ấm áp khiến sự tồn tại trở nên có nghĩa.
Và có những người sống để tìm lại chính bản thân, đó chính là kẻ đã bị bỏ quên giữa những đòi hỏi của đời sống thực dụng.
Mai sau, khi nhân loại bước đến một kỷ nguyên khác, có thể trí tuệ nhân tạo sẽ làm thay những việc từng khiến con người bận rộn hàng thế kỷ. Nhưng câu hỏi “Sống để làm gì?” sẽ vẫn không ai trả lời thay ta được. Nó là ngọn lửa nhỏ mà mỗi người phải tự giữ, tự thắp lại khi cuộc đời mờ mịt.
Có câu chuyện kể về một người dành nửa đời để leo lên ngọn núi cao nhất, chỉ mong tìm được một bậc hiền triết có thể giải đáp nỗi băn khoăn về mục đích sống. Khi đến nơi, ông chỉ nhận được một câu trả lời: “Ta sống để học cách yêu cuộc đời vốn không dễ yêu này.” Người ấy xuống núi, không mang theo lời giải nhưng mang theo một trái tim khác, đó là sự lắng hơn, sâu hơn, đủ để biết rằng đôi khi ta sống không phải để đi tìm ý nghĩa mà để chính mình tạo ra nó.
Vậy sống để làm gì? Có lẽ là để không ngừng soi lại lòng mình từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, để biết ta từng là ai, đang trở thành ai, và muốn gửi lại điều gì cho thời đại sau, dù chỉ là một suy nghĩ, một hành động tử tế, hay một nỗi day dứt đẹp đẽ. Bởi chính những day dứt ấy mới làm nên phận người, thứ mà thời đại nào cũng cần, và thời đại nào cũng không thể thay thế.
L.H.T