TIN TỨC

Bùi Phan Thảo khắc họa niềm tin trên dặm đường đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-13 12:36:42
mail facebook google pos stwis
481 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

Đọc tập bút ký "Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân" của nhà thơ Bùi Phan Thảo, tôi như được trở lại những ngày sống và chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên năm xưa. Được trở lại với Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió hôm nao và đến thăm biên cương Tây Bắc nơi phên dậu của tổ quốc hôm nay mà thấm thía nghĩa tình.

Văng vẳng đâu đây bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” của nhạc sĩ Trọng Loan như đưa tôi về thấm đẫm thời mưa đỏ. Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị/ Vẫn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta/ Rộn rã nơi đây vang tiếng quân ca/ Đánh giặc kiên cường báo tin mừng thắng trận…hò ớ ơ…ơ hò ớ ơ”… Bùi Phan Thảo như đưa tôi trở lại chiến trường xưa, nơi tôi từng đọ sức với khốc liệt của chiến tranh.  Rồi tôi lại được tới Trường Sa, được nghe bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long: “Không xa đâu Trường Sa ơi/ Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh”như tôi đang ở giữa Trường Sa. Nơi này tôi đã đến và viết bài thơ “Mai em về Trường Sa” mà nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng đã phổ nhạc: “Ở đảo Sinh Tồn khi bình minh lên/ Là nỗi nhớ hòa vào với biển/ Nghe Hương Thầm tiếng hát giữa trùng khơi”. Và lại được ngược lên miền Tây Tiến cùng với “Tình ca Tây Bắc”- nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh phỏng thơ Cẩm Giang: “Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về/ Vui trong  nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa” vọng về hình ảnh đất nước muôn vàn yêu quý, hòa quyện tình tứ vào nhau như được vui cùng Tây Bắc…

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh – tác giả bài viết

Hai mươi bài bút ký về những nẻo đường đất nước, Bùi Phan Thảo đã ký họa lại những kỷ niệm không thể nào quên trên các cuộc hành trình. Trong tập bút ký văn học này, tôi tạm chia thành cung đoạn mà anh đã gói ghém niềm vui: Miền quê anh Quảng Trị, rồi Trường Sa, Tây Bắc, cao nguyên Đà Lạt, miệt Thứ xa xôi hẻo lánh một thời với chuyến tàu đò về Cà Mau; những vùng miền quê khác anh đặt chân đến và thành phố phương Nam, TP HCM sâu nặng nghĩa tình, nơi anh sống gần 50 năm qua – nơi anh dành nhiều trang viết sâu sắc và đầy yêu thương về đất và người thành phố, về những đổi thay diện mạo đô thị cùng cuộc sống cư dân…

Ở đây điểm nhấn đầu tiên là “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” cũng là tên của tác phẩm bút ký này. Tôi xin lướt qua những chi tiết đặc biệt để hiểu thêm nhân thân của người con gái Triệu Phong lấy chồng về làng Mai Xá, Gio Linh là bà ngoại cùng chị Giao là dì ruột nhà thơ Bùi Phan Thảo. “Ngoại sinh được 7 người con 4 trai, 3 gái. Dì là con đầu, mẹ tôi thứ hai. Hai cậu đều đi tập kết, cậu út ở lại đi làm du kích và hy sinh. Ông ngoại tôi mất sau một thời gian chính quyền Sài Gòn bắt giam, tra tấn, ngoại cùng các dì và mẹ tôi chèo chống gia đình đi qua những ngày buồn đau”…

Rồi câu chuyện bắt đầu: “Từ một đêm trời tối, những chiến sĩ đặc công tấn công tàu Mỹ ở Cửa Việt. Tàu Mỹ cháy, quân Mỹ điên cuồng truy đuổi. Hai chiến sĩ đặc công men theo bờ sông Thạch Hãn lần vào làng tôi trong bóng đêm. Phát hiện ra hai người khi họ bước vào nhà, rất nhanh chóng biết họ là ai bởi tiếng nổ long trời từ Cửa Việt vọng về đã khiến ngoai và dì hiểu được tất cả. Ngoại cùng dì đã nhanh tay ấn hai người xuống hầm bí mật, bắt đầu những này nuôi giấu cán bộ cách mạng trong vùng địch tạm chiếm”…

“Những lần giặc lùng sục, ngoại và dì khéo léo che giấu căn hầm. Không ai hay nơi đó có hai ông đặc công Việt cộng nằm chờ cơ hội trở về căn cứ ở miền Bắc. Rồi đến một đêm sau khi bắt được liên lạc, men theo bóng tối và dòng nước, hai người trở về căn cứ an toàn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp diễn, một người trong họ trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thành cán bộ cấp cao lãnh đạo quân chủng Hải quân sau này”.

Và rồi gần 30 năm sau, một ngày có một chiếc xe con mang biển số quân sự chạy từ thị xã Đông Hà về làng. Trên xe bước xuống một người đàn ông có dáng dấp oai vệ hỏi thăm nhà chị Giao… Ông đứng bên bờ sông, nhắm mắt lại hồi tưởng rồi xăm xăm đi về đúng hướng nhà ngoại. Dì tôi đang làm cỏ trong vườn, ngỡ ngàng nhìn khách. “Chị có nhớ ai không?”. Sau giây phút định thần, dì nói: “Thằng Tình chứ ai”. Dì ơi người ta là tướng, răng dì gọi bằng thằng. Và: “Em đây chị”.

Xin dẫn hai câu này: “Nói thật lòng chắc khi ngoại tôi còn sống (ngoại mất năm 1985) và dì tôi chẳng nghĩ đến chuyện công lao, bởi hai người chẳng nói với ai về điều đó. Sau nay tôi hỏi dì, dì trả lời rất khẽ: “Chiến tranh biết ai mất ai còn, dì chỉ mong cho hai cậu em sống sót trở về đời thường thôi con ạ”. Đó là tấm lòng trung hậu của người phụ nữ là bà ngoại và dì ruột của nhà thơ Bùi Phan Thảo trong chiến tranh và hòa bình.

Bìa tập bút ký “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” của nhà thơ Bùi Phan Thảo

Bạn đọc hãy đọc bút ký này để nhớ về một thời “Mưa đỏ” trên quê hương Quảng Trị. Cùng xem dì Giao gặp Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình và Quân chủng Hải quân chăm sóc cho dì ra sao? Từ đó càng thấy thêm ý nghĩa bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” còn âm vang trong lòng người lính một thời ra trận của chúng tôi, được nhân dân nuôi dưỡng che giấu và bảo vệ giữa sống chết mong manh.

Bây giờ xin mời các bạn: “Đi về phía trái tim mình – Kiên cường vững chãi giữa trùng khơi – Nặng tình Tổ quốc nghĩa đồng bào – Gặp con giữa Trường Sa – Nụ cười trẻ thơ trên đảo Trường Sa”, đó là những ký họa ngôn ngữ, đưa ta đến được Tổ quốc giữa trùng khơi nơi đầu sóng ngọn gió. Nơi ngày đêm đang giáp mặt với nhiều thử thách của tự nhiên và cả những thế lực nhăm nhe tới lãnh hải Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

Bùi Phan Thảo đã đưa ta tới  đảo Gạc Ma- Len Đao- Cô Lin nơi sự kiện tháng 3 – 1988, nơi 64 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh giữ biển trời Tổ quốc. Các bạn sẽ được thăm nhà giàn DKI Phúc Tần và đến với các đảo Sinh Tồn- Cô Lin- Núi Le B -Tốc Tan C – Đá Tây B – Trường Sa lớn…. Nơi đây cuộc sống mới trên đảo chìm, đảo nổi đang ngày càng khởi sắc, tươi vui. Trường học cho các cháu, bệnh viện quân dân y, được nghe tiếng chuông chùa trên các đảo vang lên giữa trùng khơi mênh mông xa xôi mà như ở giữa quê nhà. Các bạn sẽ gặp tình quân dân trên đảo, sẽ thấy các chiến sĩ hải quân gửi gắm những nụ hôn thân thương với đất liền qua những chiến sĩ văn công… Trường Sa hôm nay đang bừng lên sức sống mới, đang thay da đổi thịt thấm đẫm tình người khắp mọi miền Tổ quốc, nhất là thành phố mang tên Bác. Quả thực không xa đâu Trường Sa ơi, với bút ký của Bùi Phan Thảo, ta sẽ được gần lắm Trường Sa và nhận diện tình yêu với quân và dân Trường Sa.

Trên muôn dặm hành trình, Bùi Phan Thảo lại đưa ta lên vùng Tây Bắc, nơi đây ta sẽ  được gặp nhà thơ Quang Dũng và đoàn quân Tây Tiến năm xưa, một thời những chàng trai lên đường dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Bây giờ đất nước thanh bình: “Trên những nẻo đường Tây Bắc màu hoa lau bàng bạc chiều hôm… Mộc Châu hôm nay vẫn màu hoa lau ẩn hiện, mùa Đông sắp qua, mùa xuân sắp về. Mùa xuân xưa, có người lên Tây Tiến cùng câu thơ thảng thốt: “Ai lên Tây Tiến chiều xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Xuân nay những người lính: “Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi” đã trở về trong vô vàn thương nhớ của đồng bào. Đường lên Tây Bắc bây giờ đẹp lắm, khác xưa nhiều lắm bởi nơi đây đã hơn 70 năm hòa bình. Ta sẽ gặp “Rồng bay trên những ngả đường Tây Bắc”, cuộc sống của cư dân ngày càng khá lên, bớt đi những vất vả đeo đẳng một thời.

Tại nhà lưu niệm đoàn quân Tây Tiến, ta sẽ gặp không gian Đại tướng Võ Nguyên Giáp với “Tây Tiến một thời và mãi mãi” giới thiệu hình ảnh và kỷ vật của Trung đoàn Tây Tiến. “Tây Tiến hào hùng và tài hoa”, tái hiện hình ảnh người lính Tây Tiến năm xưa. Rất nhiều những tranh ảnh, hình tượng được tái hiện như: Bức tranh “Nuôi giấu thương binh” của họa sĩ Quang Thọ, chân dung nhạc sĩ Doãn Quang Khải, tác giả ca khúc “Vì nhân dân quên mình”, tượng bán thân của nhà thơ Quang Dũng cùng bài thơ “Tây Tiến”. Ra ngoài không gian nhà lưu niệm chúng ta sẽ được Bùi Phan Thảo khắc họa: “Ngày nay, đất nước thanh bình, cao nguyên Sơn La trải một màu xanh, đời sống nhân dân dân an hòa sung túc. Trên đài cao tôi nhìn về phía Pha Luông, có lẽ nơi xa nào đó đang có cơn mưa ngàn về, làm dịu lòng người Tây Tiến năm xưa, để người hôm nay rưng rưng những câu thơ cồn cào, cháy bỏng, bi hùng. Câu thơ nâng bóng người lính lên cao vời, đẹp hơn tất cả”…

Rời miền Tây Bắc nơi ngút ngàn màu xanh biếc của lá, màu ngói đỏ tươi của những căn nhà mới, những con đường Tây Tiến xưa mở rộng, ta sẽ trở lại với Cần Giờ của thành phố mang tên Bác. Bùi Phan Thảo không phác họa một Cần Giờ tương lai mà khẳng định Cần Giờ đang phát huy lợi thế, là cửa ngõ ra biển Đông, là đô thị biển cùng với tài nguyên quý giá là khu dự trữ sinh quyển được thế giới công nhận,  ngày nay mỗi vùng đất của Cần Giờ chọn lối đi lợi thế riêng để phát triển.

Bùi Phan Thảo lại đưa ta về Côn Đảo, nơi bàn thờ Tổ quốc, mảnh đất anh hùng thiêng liêng, địa ngục trần gian của một thời. “Bước chân lên Côn Đảo hôm nay lòng chúng tôi dậy lên những cảm xúc bồi hồi. Dường như chạm vào đâu cũng nghe thời gian lên tiếng những dấu tích xưa. Nghĩa trang Hàng Dương, cầu tàu 914, nơi chôn vùi tuổi thanh xuân của bao thế hệ người Việt Nam yêu nước”. Để khuya khoắt ta vẳng nghe lời hát “Về đây các anh ơi” và “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”. Côn Đảo linh thiêng bất tử, đang hồi sinh, người về đất thiêng Côn Đảo hãy dọn lòng thanh sạch và nhè nhẹ bước chân…

Tập bút ký này là những áng văn chân thực trên muôn nẻo hành trình của Bùi Phan Thảo đã gieo vào tâm tư tôi những dòng sâu sắc, những trang thấm đượm tình người, dẫn tôi đến những nẻo đường đất nước quả là đẹp, vui và hấp dẫn xôn xao trên những lưng đèo, trên sóng biển… Anh viết về Đà Lạt với nỗi buồn đô thị này bị bê tông hóa, bị ngập lụt, song vẫn đầy ắp cảm nhận tinh tế về cảnh và người Đà Lạt qua câu chữ mềm mại, tâm ý nặng lòng…Anh viết về những người xưa sống và yêu với nghĩa tình trọn vẹn, hoài vọng vườn xưa và những ngày trẻ dại được trở về dưới mái nhà xưa, đêm ngắm trăng thanh, nghe gió vỗ về. Đặc biệt, Bùi Phan Thảo dành nhiều tâm huyết, yêu thương cho Sài Gòn – TP HCM, nơi những con người hào sảng, nghĩa tình, đùm bọc nhau, giúp nhau vươn lên mà sống; nơi hồn phố hồn người váng vất sau từng trang viết và những góc nhìn riêng anh từ sân thượng, từ những màu hoa, từ những ngả đường phố thị…

Mời bạn đọc hãy chiêm nghiệm Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân để thưởng ngoạn đầy đủ 20 tác phẩm bút ký văn học của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Đây là món quà dành cho bạn đọc. Cảm ơn nhà thơ Bùi Phan Thảo cho tôi đến với những miền quê tình đất, tình người non nước Việt Nam tươi đẹp nghĩa tình.

Thành phố Hồ Chí Minh, cuối tháng 9.2025

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm