TIN TỨC

Bùi Phan Thảo khắc họa niềm tin trên dặm đường đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-13 12:36:42
mail facebook google pos stwis
627 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

Đọc tập bút ký "Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân" của nhà thơ Bùi Phan Thảo, tôi như được trở lại những ngày sống và chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên năm xưa. Được trở lại với Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió hôm nao và đến thăm biên cương Tây Bắc nơi phên dậu của tổ quốc hôm nay mà thấm thía nghĩa tình.

Văng vẳng đâu đây bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” của nhạc sĩ Trọng Loan như đưa tôi về thấm đẫm thời mưa đỏ. Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị/ Vẫn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta/ Rộn rã nơi đây vang tiếng quân ca/ Đánh giặc kiên cường báo tin mừng thắng trận…hò ớ ơ…ơ hò ớ ơ”… Bùi Phan Thảo như đưa tôi trở lại chiến trường xưa, nơi tôi từng đọ sức với khốc liệt của chiến tranh.  Rồi tôi lại được tới Trường Sa, được nghe bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long: “Không xa đâu Trường Sa ơi/ Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh”như tôi đang ở giữa Trường Sa. Nơi này tôi đã đến và viết bài thơ “Mai em về Trường Sa” mà nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng đã phổ nhạc: “Ở đảo Sinh Tồn khi bình minh lên/ Là nỗi nhớ hòa vào với biển/ Nghe Hương Thầm tiếng hát giữa trùng khơi”. Và lại được ngược lên miền Tây Tiến cùng với “Tình ca Tây Bắc”- nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh phỏng thơ Cẩm Giang: “Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về/ Vui trong  nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa” vọng về hình ảnh đất nước muôn vàn yêu quý, hòa quyện tình tứ vào nhau như được vui cùng Tây Bắc…

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh – tác giả bài viết

Hai mươi bài bút ký về những nẻo đường đất nước, Bùi Phan Thảo đã ký họa lại những kỷ niệm không thể nào quên trên các cuộc hành trình. Trong tập bút ký văn học này, tôi tạm chia thành cung đoạn mà anh đã gói ghém niềm vui: Miền quê anh Quảng Trị, rồi Trường Sa, Tây Bắc, cao nguyên Đà Lạt, miệt Thứ xa xôi hẻo lánh một thời với chuyến tàu đò về Cà Mau; những vùng miền quê khác anh đặt chân đến và thành phố phương Nam, TP HCM sâu nặng nghĩa tình, nơi anh sống gần 50 năm qua – nơi anh dành nhiều trang viết sâu sắc và đầy yêu thương về đất và người thành phố, về những đổi thay diện mạo đô thị cùng cuộc sống cư dân…

Ở đây điểm nhấn đầu tiên là “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” cũng là tên của tác phẩm bút ký này. Tôi xin lướt qua những chi tiết đặc biệt để hiểu thêm nhân thân của người con gái Triệu Phong lấy chồng về làng Mai Xá, Gio Linh là bà ngoại cùng chị Giao là dì ruột nhà thơ Bùi Phan Thảo. “Ngoại sinh được 7 người con 4 trai, 3 gái. Dì là con đầu, mẹ tôi thứ hai. Hai cậu đều đi tập kết, cậu út ở lại đi làm du kích và hy sinh. Ông ngoại tôi mất sau một thời gian chính quyền Sài Gòn bắt giam, tra tấn, ngoại cùng các dì và mẹ tôi chèo chống gia đình đi qua những ngày buồn đau”…

Rồi câu chuyện bắt đầu: “Từ một đêm trời tối, những chiến sĩ đặc công tấn công tàu Mỹ ở Cửa Việt. Tàu Mỹ cháy, quân Mỹ điên cuồng truy đuổi. Hai chiến sĩ đặc công men theo bờ sông Thạch Hãn lần vào làng tôi trong bóng đêm. Phát hiện ra hai người khi họ bước vào nhà, rất nhanh chóng biết họ là ai bởi tiếng nổ long trời từ Cửa Việt vọng về đã khiến ngoai và dì hiểu được tất cả. Ngoại cùng dì đã nhanh tay ấn hai người xuống hầm bí mật, bắt đầu những này nuôi giấu cán bộ cách mạng trong vùng địch tạm chiếm”…

“Những lần giặc lùng sục, ngoại và dì khéo léo che giấu căn hầm. Không ai hay nơi đó có hai ông đặc công Việt cộng nằm chờ cơ hội trở về căn cứ ở miền Bắc. Rồi đến một đêm sau khi bắt được liên lạc, men theo bóng tối và dòng nước, hai người trở về căn cứ an toàn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp diễn, một người trong họ trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thành cán bộ cấp cao lãnh đạo quân chủng Hải quân sau này”.

Và rồi gần 30 năm sau, một ngày có một chiếc xe con mang biển số quân sự chạy từ thị xã Đông Hà về làng. Trên xe bước xuống một người đàn ông có dáng dấp oai vệ hỏi thăm nhà chị Giao… Ông đứng bên bờ sông, nhắm mắt lại hồi tưởng rồi xăm xăm đi về đúng hướng nhà ngoại. Dì tôi đang làm cỏ trong vườn, ngỡ ngàng nhìn khách. “Chị có nhớ ai không?”. Sau giây phút định thần, dì nói: “Thằng Tình chứ ai”. Dì ơi người ta là tướng, răng dì gọi bằng thằng. Và: “Em đây chị”.

Xin dẫn hai câu này: “Nói thật lòng chắc khi ngoại tôi còn sống (ngoại mất năm 1985) và dì tôi chẳng nghĩ đến chuyện công lao, bởi hai người chẳng nói với ai về điều đó. Sau nay tôi hỏi dì, dì trả lời rất khẽ: “Chiến tranh biết ai mất ai còn, dì chỉ mong cho hai cậu em sống sót trở về đời thường thôi con ạ”. Đó là tấm lòng trung hậu của người phụ nữ là bà ngoại và dì ruột của nhà thơ Bùi Phan Thảo trong chiến tranh và hòa bình.

Bìa tập bút ký “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” của nhà thơ Bùi Phan Thảo

Bạn đọc hãy đọc bút ký này để nhớ về một thời “Mưa đỏ” trên quê hương Quảng Trị. Cùng xem dì Giao gặp Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình và Quân chủng Hải quân chăm sóc cho dì ra sao? Từ đó càng thấy thêm ý nghĩa bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” còn âm vang trong lòng người lính một thời ra trận của chúng tôi, được nhân dân nuôi dưỡng che giấu và bảo vệ giữa sống chết mong manh.

Bây giờ xin mời các bạn: “Đi về phía trái tim mình – Kiên cường vững chãi giữa trùng khơi – Nặng tình Tổ quốc nghĩa đồng bào – Gặp con giữa Trường Sa – Nụ cười trẻ thơ trên đảo Trường Sa”, đó là những ký họa ngôn ngữ, đưa ta đến được Tổ quốc giữa trùng khơi nơi đầu sóng ngọn gió. Nơi ngày đêm đang giáp mặt với nhiều thử thách của tự nhiên và cả những thế lực nhăm nhe tới lãnh hải Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

Bùi Phan Thảo đã đưa ta tới  đảo Gạc Ma- Len Đao- Cô Lin nơi sự kiện tháng 3 – 1988, nơi 64 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh giữ biển trời Tổ quốc. Các bạn sẽ được thăm nhà giàn DKI Phúc Tần và đến với các đảo Sinh Tồn- Cô Lin- Núi Le B -Tốc Tan C – Đá Tây B – Trường Sa lớn…. Nơi đây cuộc sống mới trên đảo chìm, đảo nổi đang ngày càng khởi sắc, tươi vui. Trường học cho các cháu, bệnh viện quân dân y, được nghe tiếng chuông chùa trên các đảo vang lên giữa trùng khơi mênh mông xa xôi mà như ở giữa quê nhà. Các bạn sẽ gặp tình quân dân trên đảo, sẽ thấy các chiến sĩ hải quân gửi gắm những nụ hôn thân thương với đất liền qua những chiến sĩ văn công… Trường Sa hôm nay đang bừng lên sức sống mới, đang thay da đổi thịt thấm đẫm tình người khắp mọi miền Tổ quốc, nhất là thành phố mang tên Bác. Quả thực không xa đâu Trường Sa ơi, với bút ký của Bùi Phan Thảo, ta sẽ được gần lắm Trường Sa và nhận diện tình yêu với quân và dân Trường Sa.

Trên muôn dặm hành trình, Bùi Phan Thảo lại đưa ta lên vùng Tây Bắc, nơi đây ta sẽ  được gặp nhà thơ Quang Dũng và đoàn quân Tây Tiến năm xưa, một thời những chàng trai lên đường dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Bây giờ đất nước thanh bình: “Trên những nẻo đường Tây Bắc màu hoa lau bàng bạc chiều hôm… Mộc Châu hôm nay vẫn màu hoa lau ẩn hiện, mùa Đông sắp qua, mùa xuân sắp về. Mùa xuân xưa, có người lên Tây Tiến cùng câu thơ thảng thốt: “Ai lên Tây Tiến chiều xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Xuân nay những người lính: “Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi” đã trở về trong vô vàn thương nhớ của đồng bào. Đường lên Tây Bắc bây giờ đẹp lắm, khác xưa nhiều lắm bởi nơi đây đã hơn 70 năm hòa bình. Ta sẽ gặp “Rồng bay trên những ngả đường Tây Bắc”, cuộc sống của cư dân ngày càng khá lên, bớt đi những vất vả đeo đẳng một thời.

Tại nhà lưu niệm đoàn quân Tây Tiến, ta sẽ gặp không gian Đại tướng Võ Nguyên Giáp với “Tây Tiến một thời và mãi mãi” giới thiệu hình ảnh và kỷ vật của Trung đoàn Tây Tiến. “Tây Tiến hào hùng và tài hoa”, tái hiện hình ảnh người lính Tây Tiến năm xưa. Rất nhiều những tranh ảnh, hình tượng được tái hiện như: Bức tranh “Nuôi giấu thương binh” của họa sĩ Quang Thọ, chân dung nhạc sĩ Doãn Quang Khải, tác giả ca khúc “Vì nhân dân quên mình”, tượng bán thân của nhà thơ Quang Dũng cùng bài thơ “Tây Tiến”. Ra ngoài không gian nhà lưu niệm chúng ta sẽ được Bùi Phan Thảo khắc họa: “Ngày nay, đất nước thanh bình, cao nguyên Sơn La trải một màu xanh, đời sống nhân dân dân an hòa sung túc. Trên đài cao tôi nhìn về phía Pha Luông, có lẽ nơi xa nào đó đang có cơn mưa ngàn về, làm dịu lòng người Tây Tiến năm xưa, để người hôm nay rưng rưng những câu thơ cồn cào, cháy bỏng, bi hùng. Câu thơ nâng bóng người lính lên cao vời, đẹp hơn tất cả”…

Rời miền Tây Bắc nơi ngút ngàn màu xanh biếc của lá, màu ngói đỏ tươi của những căn nhà mới, những con đường Tây Tiến xưa mở rộng, ta sẽ trở lại với Cần Giờ của thành phố mang tên Bác. Bùi Phan Thảo không phác họa một Cần Giờ tương lai mà khẳng định Cần Giờ đang phát huy lợi thế, là cửa ngõ ra biển Đông, là đô thị biển cùng với tài nguyên quý giá là khu dự trữ sinh quyển được thế giới công nhận,  ngày nay mỗi vùng đất của Cần Giờ chọn lối đi lợi thế riêng để phát triển.

Bùi Phan Thảo lại đưa ta về Côn Đảo, nơi bàn thờ Tổ quốc, mảnh đất anh hùng thiêng liêng, địa ngục trần gian của một thời. “Bước chân lên Côn Đảo hôm nay lòng chúng tôi dậy lên những cảm xúc bồi hồi. Dường như chạm vào đâu cũng nghe thời gian lên tiếng những dấu tích xưa. Nghĩa trang Hàng Dương, cầu tàu 914, nơi chôn vùi tuổi thanh xuân của bao thế hệ người Việt Nam yêu nước”. Để khuya khoắt ta vẳng nghe lời hát “Về đây các anh ơi” và “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”. Côn Đảo linh thiêng bất tử, đang hồi sinh, người về đất thiêng Côn Đảo hãy dọn lòng thanh sạch và nhè nhẹ bước chân…

Tập bút ký này là những áng văn chân thực trên muôn nẻo hành trình của Bùi Phan Thảo đã gieo vào tâm tư tôi những dòng sâu sắc, những trang thấm đượm tình người, dẫn tôi đến những nẻo đường đất nước quả là đẹp, vui và hấp dẫn xôn xao trên những lưng đèo, trên sóng biển… Anh viết về Đà Lạt với nỗi buồn đô thị này bị bê tông hóa, bị ngập lụt, song vẫn đầy ắp cảm nhận tinh tế về cảnh và người Đà Lạt qua câu chữ mềm mại, tâm ý nặng lòng…Anh viết về những người xưa sống và yêu với nghĩa tình trọn vẹn, hoài vọng vườn xưa và những ngày trẻ dại được trở về dưới mái nhà xưa, đêm ngắm trăng thanh, nghe gió vỗ về. Đặc biệt, Bùi Phan Thảo dành nhiều tâm huyết, yêu thương cho Sài Gòn – TP HCM, nơi những con người hào sảng, nghĩa tình, đùm bọc nhau, giúp nhau vươn lên mà sống; nơi hồn phố hồn người váng vất sau từng trang viết và những góc nhìn riêng anh từ sân thượng, từ những màu hoa, từ những ngả đường phố thị…

Mời bạn đọc hãy chiêm nghiệm Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân để thưởng ngoạn đầy đủ 20 tác phẩm bút ký văn học của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Đây là món quà dành cho bạn đọc. Cảm ơn nhà thơ Bùi Phan Thảo cho tôi đến với những miền quê tình đất, tình người non nước Việt Nam tươi đẹp nghĩa tình.

Thành phố Hồ Chí Minh, cuối tháng 9.2025

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm