TIN TỨC

Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-16 02:09:16
mail facebook google pos stwis
307 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

 

Tập thơ "Bàn tay Châu thổ"

Hoa vàng

(Trần Văn Lợi)

 

Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói
Đôi mắt u buồn và dáng đi mệt mỏi
Hành khất niềm vui
Đến một hôm sức lực không còn nữa
Bà co ro nằm lại bên đường

Trông thấy đầu tiên là những người đàn ông lực điền
Khi đang đào mương trong buổi sáng mùa đông rét mướt
Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng
Đặt lên mộ nắm cơm (khẩu phần ăn giữa buổi)
Và khấn
Dù chẳng kịp mua hương và hoa…

Những thợ cấy đi qua
Ngày lại ngày
Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm
Mồng một ngày rằm
Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…

Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ
Rồi dây hoa bén rễ
Thành tấm chăn rực rỡ hoa vàng
Trên cánh đồng lúa bắt đầu xanh…

Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…

(Rút từ tập thơ “Bàn tay châu thổ”, NXB Hội Nhà văn, 2010)

Lời bình: “Hoa vàng” (Trần Văn Lợi) - Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Thơ ca, xét đến cùng, là tiếng vọng của đời sống, là nơi neo đậu của những phận người. Có những bài thơ đọc lên thấy choáng ngợp bởi ngôn từ lạ lẫm, nhưng cũng có những bài thơ đi thẳng vào tim ta bằng sự giản dị đến nao lòng. "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi là một bài thơ như thế. Một câu chuyện buồn nhưng kết thúc lại đẹp như một cổ tích giữa đời thường, một bài ca ấm áp về tình người.

Bài thơ mở ra bằng hình ảnh một bà lão ăn mày. Cái hay của Trần Văn Lợi là không tô vẽ sự bi ai bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà bằng sự "vô danh" đến xót xa:

"Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?

Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói"

Cả cuộc đời bà gói gọn trong sự không rõ ràng: không tên, không tuổi, không quê. Bà là hiện thân của những gì mong manh, trôi nổi nhất. Nhưng câu thơ thứ hai mới thật sự ám ảnh: "Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói". Cái bị cói ấy không chỉ đựng cơm thừa, canh cặn, mà đựng cả chút tình thương rơi vãi của người đời. Cách nói ấy vừa hiện thực, vừa nâng niu, cho thấy cái nhìn đầy trân trọng của nhà thơ.

Và rồi, sự ra đi của bà cũng lặng lẽ như cách bà tồn tại:"Đến một hôm sức lực không còn nữa/ Bà co ro nằm lại bên đường." Chữ "co ro" gợi cái lạnh của thể xác và cả cái lạnh của sự cô độc. Nỗi buồn dường như đã chạm đáy.

Nếu khổ thơ đầu là gam màu xám lạnh của cái chết và sự cô đơn, thì từ khổ thứ hai, hơi ấm bắt đầu lan tỏa. Không phải hơi ấm của mặt trời, mà là hơi ấm từ những bàn tay lao động thô ráp. Đầu tiên là những người đàn ông lực điền:

"Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc

Khoác cho bà cụ già

Rồi đào vuông ruộng nhỏ

Dâng bà cho cánh đồng"

Hãy chú ý đến chữ "vội". Cái vội vàng ấy không phải là sự cẩu thả, mà là sự thôi thúc của lòng trắc ẩn. Họ sợ bà lạnh. Hành động nhường áo mưa, nhường nắm cơm, đào huyệt mộ ngay trên cánh đồng họ đang làm việc là những hành xử đầy tính "người". Câu thơ "Dâng bà cho cánh đồng" nghe sao mà thiêng liêng. Bà trở về với đất mẹ, được đất đai và những người nông dân bao bọc. Dù "chẳng kịp mua hương và hoa", nhưng tấm lòng của họ còn thơm thảo hơn mọi lễ nghi.

Tiếp đến là những người thợ cấy, những người phụ nữ tần tảo: "Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm/Mồng một ngày rằm/ Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…" Nếu những người đàn ông lo việc an táng, thì những người phụ nữ lo việc hương khói, vun đắp. Nấm mộ vô danh ven đường không bị bỏ hoang, mà ngày càng cao lên nhờ những "nắm đất" của người qua đường. Sự quan tâm ấy bền bỉ, "ngày lại ngày", biến người dưng thành người thân.

Đỉnh điểm của bài thơ, và cũng là nơi nhan đề "Hoa vàng" tỏa sáng, nằm ở khổ thơ viết về những đứa trẻ:

"Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương

Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại

Đem phủ đầy trên mộ"

Trẻ thơ với tâm hồn trong trẻo đã làm một việc mà người lớn có khi không nghĩ tới: làm đẹp cho nấm mộ. Chúng không có hương hoa đắt tiền, chúng chỉ có hoa cúc dại, loài hoa của đồng nội, bền bỉ và kiên cường. Hình ảnh "tấm chăn rực rỡ hoa vàng" là một sự chuyển đổi cảm giác tuyệt vời. Từ chiếc áo mưa của những người đàn ông, đến những nắm đất của người thợ cấy, và giờ đây là tấm chăn hoa của lũ trẻ. Bà lão ăn mày, người từng "co ro" vì rét mướt, nay đã được ủ ấm vĩnh viễn trong màu vàng rực rỡ của hoa và tình người.

"Và từ đó, mỗi độ đông sang

Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…"

Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

Đọc "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi, tôi không chỉ thấy một câu chuyện thương tâm, mà thấy lấp lánh vẻ đẹp của văn hóa làng quê Việt Nam. Ở đó, người với người sống bằng cái tình, cái nghĩa. Cái chết của bà lão ăn mày không rơi vào hư không, mà trở thành cái cớ để lòng tốt được đánh thức và kết nối. Bài thơ, tiếng lòng riêng của Trần Văn Lợi, trở thành lời nhắn nhủ với bao người: Lòng hảo tâm có thể biến nấm mồ lạnh lẽo thành một vườn hoa rực rỡ, và tình người chính là ngọn lửa sưởi ấm thế gian.

N.V.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm