TIN TỨC

Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-16 02:09:16
mail facebook google pos stwis
129 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

 

Tập thơ "Bàn tay Châu thổ"

Hoa vàng

(Trần Văn Lợi)

 

Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói
Đôi mắt u buồn và dáng đi mệt mỏi
Hành khất niềm vui
Đến một hôm sức lực không còn nữa
Bà co ro nằm lại bên đường

Trông thấy đầu tiên là những người đàn ông lực điền
Khi đang đào mương trong buổi sáng mùa đông rét mướt
Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng
Đặt lên mộ nắm cơm (khẩu phần ăn giữa buổi)
Và khấn
Dù chẳng kịp mua hương và hoa…

Những thợ cấy đi qua
Ngày lại ngày
Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm
Mồng một ngày rằm
Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…

Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ
Rồi dây hoa bén rễ
Thành tấm chăn rực rỡ hoa vàng
Trên cánh đồng lúa bắt đầu xanh…

Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…

(Rút từ tập thơ “Bàn tay châu thổ”, NXB Hội Nhà văn, 2010)

Lời bình: “Hoa vàng” (Trần Văn Lợi) - Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Thơ ca, xét đến cùng, là tiếng vọng của đời sống, là nơi neo đậu của những phận người. Có những bài thơ đọc lên thấy choáng ngợp bởi ngôn từ lạ lẫm, nhưng cũng có những bài thơ đi thẳng vào tim ta bằng sự giản dị đến nao lòng. "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi là một bài thơ như thế. Một câu chuyện buồn nhưng kết thúc lại đẹp như một cổ tích giữa đời thường, một bài ca ấm áp về tình người.

Bài thơ mở ra bằng hình ảnh một bà lão ăn mày. Cái hay của Trần Văn Lợi là không tô vẽ sự bi ai bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà bằng sự "vô danh" đến xót xa:

"Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?

Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói"

Cả cuộc đời bà gói gọn trong sự không rõ ràng: không tên, không tuổi, không quê. Bà là hiện thân của những gì mong manh, trôi nổi nhất. Nhưng câu thơ thứ hai mới thật sự ám ảnh: "Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói". Cái bị cói ấy không chỉ đựng cơm thừa, canh cặn, mà đựng cả chút tình thương rơi vãi của người đời. Cách nói ấy vừa hiện thực, vừa nâng niu, cho thấy cái nhìn đầy trân trọng của nhà thơ.

Và rồi, sự ra đi của bà cũng lặng lẽ như cách bà tồn tại:"Đến một hôm sức lực không còn nữa/ Bà co ro nằm lại bên đường." Chữ "co ro" gợi cái lạnh của thể xác và cả cái lạnh của sự cô độc. Nỗi buồn dường như đã chạm đáy.

Nếu khổ thơ đầu là gam màu xám lạnh của cái chết và sự cô đơn, thì từ khổ thứ hai, hơi ấm bắt đầu lan tỏa. Không phải hơi ấm của mặt trời, mà là hơi ấm từ những bàn tay lao động thô ráp. Đầu tiên là những người đàn ông lực điền:

"Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc

Khoác cho bà cụ già

Rồi đào vuông ruộng nhỏ

Dâng bà cho cánh đồng"

Hãy chú ý đến chữ "vội". Cái vội vàng ấy không phải là sự cẩu thả, mà là sự thôi thúc của lòng trắc ẩn. Họ sợ bà lạnh. Hành động nhường áo mưa, nhường nắm cơm, đào huyệt mộ ngay trên cánh đồng họ đang làm việc là những hành xử đầy tính "người". Câu thơ "Dâng bà cho cánh đồng" nghe sao mà thiêng liêng. Bà trở về với đất mẹ, được đất đai và những người nông dân bao bọc. Dù "chẳng kịp mua hương và hoa", nhưng tấm lòng của họ còn thơm thảo hơn mọi lễ nghi.

Tiếp đến là những người thợ cấy, những người phụ nữ tần tảo: "Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm/Mồng một ngày rằm/ Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…" Nếu những người đàn ông lo việc an táng, thì những người phụ nữ lo việc hương khói, vun đắp. Nấm mộ vô danh ven đường không bị bỏ hoang, mà ngày càng cao lên nhờ những "nắm đất" của người qua đường. Sự quan tâm ấy bền bỉ, "ngày lại ngày", biến người dưng thành người thân.

Đỉnh điểm của bài thơ, và cũng là nơi nhan đề "Hoa vàng" tỏa sáng, nằm ở khổ thơ viết về những đứa trẻ:

"Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương

Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại

Đem phủ đầy trên mộ"

Trẻ thơ với tâm hồn trong trẻo đã làm một việc mà người lớn có khi không nghĩ tới: làm đẹp cho nấm mộ. Chúng không có hương hoa đắt tiền, chúng chỉ có hoa cúc dại, loài hoa của đồng nội, bền bỉ và kiên cường. Hình ảnh "tấm chăn rực rỡ hoa vàng" là một sự chuyển đổi cảm giác tuyệt vời. Từ chiếc áo mưa của những người đàn ông, đến những nắm đất của người thợ cấy, và giờ đây là tấm chăn hoa của lũ trẻ. Bà lão ăn mày, người từng "co ro" vì rét mướt, nay đã được ủ ấm vĩnh viễn trong màu vàng rực rỡ của hoa và tình người.

"Và từ đó, mỗi độ đông sang

Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…"

Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

Đọc "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi, tôi không chỉ thấy một câu chuyện thương tâm, mà thấy lấp lánh vẻ đẹp của văn hóa làng quê Việt Nam. Ở đó, người với người sống bằng cái tình, cái nghĩa. Cái chết của bà lão ăn mày không rơi vào hư không, mà trở thành cái cớ để lòng tốt được đánh thức và kết nối. Bài thơ, tiếng lòng riêng của Trần Văn Lợi, trở thành lời nhắn nhủ với bao người: Lòng hảo tâm có thể biến nấm mồ lạnh lẽo thành một vườn hoa rực rỡ, và tình người chính là ngọn lửa sưởi ấm thế gian.

N.V.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm