TIN TỨC

Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-16 02:09:16
mail facebook google pos stwis
195 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN 

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

 

Tập thơ "Bàn tay Châu thổ"

Hoa vàng

(Trần Văn Lợi)

 

Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?
Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói
Đôi mắt u buồn và dáng đi mệt mỏi
Hành khất niềm vui
Đến một hôm sức lực không còn nữa
Bà co ro nằm lại bên đường

Trông thấy đầu tiên là những người đàn ông lực điền
Khi đang đào mương trong buổi sáng mùa đông rét mướt
Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc
Khoác cho bà cụ già
Rồi đào vuông ruộng nhỏ
Dâng bà cho cánh đồng
Đặt lên mộ nắm cơm (khẩu phần ăn giữa buổi)
Và khấn
Dù chẳng kịp mua hương và hoa…

Những thợ cấy đi qua
Ngày lại ngày
Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm
Mồng một ngày rằm
Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…

Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương
Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại
Đem phủ đầy trên mộ
Rồi dây hoa bén rễ
Thành tấm chăn rực rỡ hoa vàng
Trên cánh đồng lúa bắt đầu xanh…

Và từ đó, mỗi độ đông sang
Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…

(Rút từ tập thơ “Bàn tay châu thổ”, NXB Hội Nhà văn, 2010)

Lời bình: “Hoa vàng” (Trần Văn Lợi) - Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn

Thơ ca, xét đến cùng, là tiếng vọng của đời sống, là nơi neo đậu của những phận người. Có những bài thơ đọc lên thấy choáng ngợp bởi ngôn từ lạ lẫm, nhưng cũng có những bài thơ đi thẳng vào tim ta bằng sự giản dị đến nao lòng. "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi là một bài thơ như thế. Một câu chuyện buồn nhưng kết thúc lại đẹp như một cổ tích giữa đời thường, một bài ca ấm áp về tình người.

Bài thơ mở ra bằng hình ảnh một bà lão ăn mày. Cái hay của Trần Văn Lợi là không tô vẽ sự bi ai bằng những từ ngữ đao to búa lớn, mà bằng sự "vô danh" đến xót xa:

"Bà lão ăn mày không rõ tuổi tên, quê quán ở đâu?

Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói"

Cả cuộc đời bà gói gọn trong sự không rõ ràng: không tên, không tuổi, không quê. Bà là hiện thân của những gì mong manh, trôi nổi nhất. Nhưng câu thơ thứ hai mới thật sự ám ảnh: "Đựng lòng hảo tâm của thế gian trong bị cói". Cái bị cói ấy không chỉ đựng cơm thừa, canh cặn, mà đựng cả chút tình thương rơi vãi của người đời. Cách nói ấy vừa hiện thực, vừa nâng niu, cho thấy cái nhìn đầy trân trọng của nhà thơ.

Và rồi, sự ra đi của bà cũng lặng lẽ như cách bà tồn tại:"Đến một hôm sức lực không còn nữa/ Bà co ro nằm lại bên đường." Chữ "co ro" gợi cái lạnh của thể xác và cả cái lạnh của sự cô độc. Nỗi buồn dường như đã chạm đáy.

Nếu khổ thơ đầu là gam màu xám lạnh của cái chết và sự cô đơn, thì từ khổ thứ hai, hơi ấm bắt đầu lan tỏa. Không phải hơi ấm của mặt trời, mà là hơi ấm từ những bàn tay lao động thô ráp. Đầu tiên là những người đàn ông lực điền:

"Họ vội cởi tấm áo mưa đang mặc

Khoác cho bà cụ già

Rồi đào vuông ruộng nhỏ

Dâng bà cho cánh đồng"

Hãy chú ý đến chữ "vội". Cái vội vàng ấy không phải là sự cẩu thả, mà là sự thôi thúc của lòng trắc ẩn. Họ sợ bà lạnh. Hành động nhường áo mưa, nhường nắm cơm, đào huyệt mộ ngay trên cánh đồng họ đang làm việc là những hành xử đầy tính "người". Câu thơ "Dâng bà cho cánh đồng" nghe sao mà thiêng liêng. Bà trở về với đất mẹ, được đất đai và những người nông dân bao bọc. Dù "chẳng kịp mua hương và hoa", nhưng tấm lòng của họ còn thơm thảo hơn mọi lễ nghi.

Tiếp đến là những người thợ cấy, những người phụ nữ tần tảo: "Nhặt nắm đất đắp dần lên thành nấm/Mồng một ngày rằm/ Dâng cho bà nải chuối, thẻ hương…" Nếu những người đàn ông lo việc an táng, thì những người phụ nữ lo việc hương khói, vun đắp. Nấm mộ vô danh ven đường không bị bỏ hoang, mà ngày càng cao lên nhờ những "nắm đất" của người qua đường. Sự quan tâm ấy bền bỉ, "ngày lại ngày", biến người dưng thành người thân.

Đỉnh điểm của bài thơ, và cũng là nơi nhan đề "Hoa vàng" tỏa sáng, nằm ở khổ thơ viết về những đứa trẻ:

"Những đứa trẻ chăn trâu quen nhặt cỏ gà dọc bờ mương

Chúng rủ nhau dứt dây hoa cúc dại

Đem phủ đầy trên mộ"

Trẻ thơ với tâm hồn trong trẻo đã làm một việc mà người lớn có khi không nghĩ tới: làm đẹp cho nấm mộ. Chúng không có hương hoa đắt tiền, chúng chỉ có hoa cúc dại, loài hoa của đồng nội, bền bỉ và kiên cường. Hình ảnh "tấm chăn rực rỡ hoa vàng" là một sự chuyển đổi cảm giác tuyệt vời. Từ chiếc áo mưa của những người đàn ông, đến những nắm đất của người thợ cấy, và giờ đây là tấm chăn hoa của lũ trẻ. Bà lão ăn mày, người từng "co ro" vì rét mướt, nay đã được ủ ấm vĩnh viễn trong màu vàng rực rỡ của hoa và tình người.

"Và từ đó, mỗi độ đông sang

Hoa cúc lại bừng nắng vàng trên mộ…"

Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc "bừng nắng". Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.

Đọc "Hoa vàng" của Trần Văn Lợi, tôi không chỉ thấy một câu chuyện thương tâm, mà thấy lấp lánh vẻ đẹp của văn hóa làng quê Việt Nam. Ở đó, người với người sống bằng cái tình, cái nghĩa. Cái chết của bà lão ăn mày không rơi vào hư không, mà trở thành cái cớ để lòng tốt được đánh thức và kết nối. Bài thơ, tiếng lòng riêng của Trần Văn Lợi, trở thành lời nhắn nhủ với bao người: Lòng hảo tâm có thể biến nấm mồ lạnh lẽo thành một vườn hoa rực rỡ, và tình người chính là ngọn lửa sưởi ấm thế gian.

N.V.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm