TIN TỨC

Tôi lại thở dài ngó xa xăm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-22 02:42:35
mail facebook google pos stwis
1809 lượt xem

ĐỖ ANH TUYẾN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM

 

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm

Cái tuổi xúi người say má thắm

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm

 

Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.

 

Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm

Người ta lại giỏi cam chịu lắm

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.

 

Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...

Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

Sức hấp dẫn đầu tiên của tác phẩm nằm ở nghệ thuật kiến tạo hình ảnh và xây dựng tứ thơ độc đáo. Đặng Xuân Xuyến đã khéo léo khai thác tứ "Vọng phu" nhưng đặt trong bối cảnh đời thường, không mở ra theo chiều rộng của không gian mà xoáy sâu vào chiều âm của số phận, khiến nó trở nên gần gũi mà buốt nhói. "Làng Đá" – từ một địa danh hành chính cụ thể – qua dòng thời gian đã biến chuyển thành một biểu tượng nghệ thuật: sự hóa thạch của nỗi đau. Hình ảnh "Người hóa đá giữa đêm Rằm" là một nhãn tự đắt giá, lột tả sự tàn nhẫn của thời gian. Ở đó, người phụ nữ không hóa đá trên đỉnh núi cao để thiên hạ chiêm bái, mà họ "tự lấp sâu vạn dặm" tuổi xuân của mình ngay giữa lòng làng quê, trong sự im lặng của lòng thủy chung lầm lạc. Đây là một bước chuyển mình về tư duy nghệ thuật. Sự "hóa đá" ở đây không phải là sự thăng hoa thành huyền thoại, mà là một sự "tự lấp sâu vạn dặm" của tuổi xuân. Tác giả đã nhìn ra một bi kịch hiện đại: con người ta không chết đi, nhưng họ tự đóng băng đời mình trong sự cam chịu và những giá trị đã lỗi thời.

Để chuyển tải tứ thơ ấy, Đặng Xuân Xuyến đã xây dựng được những cặp hình ảnh đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh "má thắm" của tuổi trăng tròn đối diện với cái "ngó xa xăm" vô định ngay từ khổ đầu đã dự báo về một sự lệch pha giữa sức sống thanh xuân và định mệnh u buồn. Đặc biệt, chi tiết "thảng thốt tay chặt nắm" trong chiều mưa "rét căm căm" là một nhãn tự đắt giá. Chữ "thảng thốt" ở đây không chỉ là trạng thái tâm lý mà là một hành động vật lý mang tính biểu đạt cao; nó cho thấy sự chới với của một người đang cố níu giữ cái thực tại đang tan rã. Đối lập với sự "thảng thốt" ấy là cái "nhẹ lắc đầu" – một hình ảnh tĩnh lặng nhưng có sức công phá mạnh mẽ hơn mọi lời cự tuyệt. Đặng Xuân Xuyến đã dùng cái "tĩnh" để chế ngự cái "động", dùng sự im lặng để biểu đạt sự tuyệt vọng cùng cực. Chính sự "giỏi cam chịu" mà nhà thơ nhắc đến không đơn thuần là lời ngợi ca phẩm hạnh, mà là một tiếng thở dài phê phán những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình giam cầm biết bao kiếp người.

Cái hay của tứ thơ còn nằm ở sự dịch chuyển điểm nhìn. Từ cái nhìn khách thể của người đi xa trở về, tác giả chuyển dần sang sự đồng cảm và cuối cùng là sự đồng điệu trong nỗi đau. Câu kết "Tôi lại thở dài, ngó xa xăm" là một sự lặp lại có chủ đích, hoàn tất vòng lặp của bi kịch. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ mong kẻ biệt tăm, thì cái "xa xăm" của thi sĩ là sự bất lực trước sự tàn nhẫn của thời gian và lòng người.

Trong chỉnh thể của bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến không cầu kỳ trong việc dụng chữ bằng những thuật ngữ tân kỳ, nhưng lại đặc biệt thành công trong việc kiến tạo một hệ thống ngôn ngữ giàu tính gợi hình và một tứ thơ mang đậm hơi thở của bi kịch nhân sinh. Ngôn ngữ và hình ảnh trong tác phẩm này không tồn tại độc lập mà đan cài chặt chẽ để phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật nhất quán: sự hóa thạch của nỗi đau.

Khổ thơ cuối là một sự thăng hoa của cảm xúc nhưng lại hạ cánh trong một hiện thực tàn khốc. Hình ảnh "Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm" là một ẩn dụ đầy sức nặng. Làng Đá không còn là tên gọi hành chính, nó đã thấm vào máu thịt, vào số phận của con người. Người phụ nữ ấy, sau bao năm tháng đợi chờ, đã tự hóa thạch chính tuổi xuân của mình. Cụm từ "Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm" gợi lên một sự hy sinh tự nguyện nhưng vô vọng, một sự tự chôn vùi cái tôi cá nhân vào hố sâu của định kiến và lòng thủy chung lầm lạc.

Điểm đáng chú ý nhất về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ là hệ thống vần "ăm" (năm, Rằm, thắm, xăm, căm, nắm, Chằm, tăm, dặm) được gieo xuyên suốt tác phẩm. Trong ngữ âm tiếng Việt, vần "ăm" là một âm đóng, tạo cảm giác tù túng, quẩn quanh và bế tắc. Việc lặp lại âm hưởng này không chỉ tạo nên tính nhạc cho bài thơ mà còn tạo ra một không gian tâm lý chật hẹp, nơi nhân vật trữ tình và cả người phụ nữ kia đều bị giam cầm trong những ký ức không lối thoát. Bên cạnh đó, cách sử dụng các từ láy như "căm căm", "thảng thốt", "biệt biệt tăm" đã đẩy cao tính biểu cảm, làm đậm thêm cái lạnh lẽo của không gian và cái dài dặc của thời gian.

Kết thúc bài thơ, tác giả lặp lại hành động "ngó xa xăm" nhưng lần này là cái nhìn của chính chủ thể trữ tình. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ đợi vô định, thì cái "xa xăm" của nhà thơ là sự bất lực trước vòng xoáy của nhân duyên và số phận. Tiếng thở dài của Đặng Xuân Xuyến không chỉ dành cho một mối tình đơn phương, mà là tiếng thở dài cho những kiếp người tự buộc mình vào những giá trị xưa cũ để rồi tàn héo trong thầm lặng.

Bằng việc sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc tính và xây dựng những hình ảnh có sức nặng biểu tượng, Đặng Xuân Xuyến đã nâng một câu chuyện tình lỡ dở lên thành một suy tưởng về thân phận. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà là bản cáo trạng nhẹ nhàng nhưng buốt nhói về những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình chôn vùi biết bao kiếp người trong sự tĩnh lặng đáng sợ.

Có thể nói, với "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến đã thành công trong việc nâng một câu chuyện riêng tư lên thành một suy tưởng mang tính nhân văn sâu sắc. Bài thơ không chỉ chạm đến trái tim độc giả bằng sự chân thành, mà còn khẳng định bản sắc của một cây bút biết cách dùng những ngôn từ giản dị để chạm tới những vỉa tầng sâu kín nhất của tâm hồn con người.

Đ.A.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm