TIN TỨC

Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-02 13:27:20
mail facebook google pos stwis
290 lượt xem

Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.

Phải chăng đó là một trong những thông điệp mà nhà văn Vũ Quốc Khánh muốn gửi đến bạn đọc qua tiểu thuyết Seo Sơn.

Seo Sơn là một xã miền núi có thảm thực vật phong phú và cảnh sắc tươi đẹp từ ngàn đời. Thiên nhiên trù phú và bản tính con người chất phác từ ngàn xưa bắt đầu bị biến dạng khi Triệu Văn Cưởi nắm quyền ở Seo Sơn.
Triệu Văn Cưởi, nó là ai?
Đó là đứa trẻ mồ côi cha từ nhỏ, bị đem bán làm con nuôi họ Trần. Được nuôi dạy tử tế. Có thầy dậy chữ. Đến hồi cải cách, họ Trần bị bắn, Cưởi bị trả về nhà, rồi theo mẹ lên Hà Nội, sống côi cút dưới gầm cầu đường sắt. Nó không chịu học, lại mắc nhiều tội, mẹ nó không cho đi học nữa. Nó trở thành kẻ lang bạt, từ kiếm ăn bằng việc mang vác hành lý cho khách hàng ở ga Hàng Cỏ, dần dần trở thành một kẻ trôm trỉa, ăn cắp vặt. Lúc đầu nó ở nhóm Hai Cọp, sau vì bị ăn hiếp quá, nên xin chuyển sang nhóm Ba Tòng.
Chiến tranh phá hoại của Mỹ nổ ra, nó theo mẹ sơ tán lên Seo Sơn. Trong điều kiện ở một xã vùng cao, người biết chữ không nhiều, mẹ nó được cử làm Thư ký hợp tác xã. Với chân ấy, mẹ nó xin cho nó đi học.
Vốn là kẻ chán chữ, nên nó cáo ốm. Mẹ nó cõng nó về nhà và xin làm con nuôi ông Trưởng bản họ Triệu. Thế nó từ họ Nguyễn chuyển sang họ Trần, giờ nó mang họ Triệu. Ông Triệu Văn Thân có con trai hy sinh ở chiến trường. Với tiêu chuẩn gia đình liệt sĩ, Triệu Văn Cưởi được cử đi học một trường nội trú của huyện. Sau một năm, nó tốt nghiệp cấp 2 và được cử đi học Trung cấp Nông nghiệp. Tại đây, một lần nó được uống rượu ngô của bạn, vì quá chén, nó ngủ li bì. Sáng ra đoàn khám nghĩa vụ quân sự về trường, nó bị để lại vì huyết áp cao. Từ đó, cứ thấy có dịp tuyển quân là nó tìm cách uống rượu bét nhè để khỏi phải nhập ngũ.

 

Nhà văn Vũ Quốc Khánh

 

Nó học kém, nhưng người ta vẫn cho nó tốt nghiệp vì là con gia đình liệt sĩ
Với tấm bằng ấy, nó trở thành Thư ký Ủy ban phụ trách nông nghiệp.
Một con thú dữ xuất hiện ở Seo Sơn.
Từ bài học của hai nhóm lưu manh Hai Cọp và Ba Tòng hồi nào, việc đầu tiên của viên Thư ký Ủy ban họ Triệu là tập hợp vây cánh.
Tập hợp bằng cách nào? Ai nghe nó?
“Hãy cứ âm thầm, thậm chí còn giả ngây giả ngô như con mèo rình chuột cái đã. Rồi sau đó lựa thời cơ. Phải biết chia cắt đối phương ra, chọn đối thủ tinh quái đánh phủ đầu, hạ gục, sau đó mới nhanh chóng bức hàng các đối tượng khác?” Với phương châm đó, nó chọn đội trưởng Triệu Văn Nga, người Dao ở bản Cọ Sơn để ra đòn đầu tiên. Qua sổ sách, nó biết Nga khống điểm, công năm nào cũng cao nhất đội. Nó chỉ cho Nga biết. Nga sợ. Nó cho qua. Nga sợ và phục lắm, sau đó nó cho họp các đội trưởng lại, vừa đe doạ vừa lấy lòng. Thế là từ Nga, loang ra các đội trưởng đều nghe theo nó răm rắp. Lại còn quà cáp cho nó nữa.
Lợi dụng Cọ Sơn là bản heo hút, cán bộ xã ít ai vào, nó vượt quyền cho các đội phá rừng làm nương. Làm lúa nương để lo cho dân ư? Không, đó chỉ là tấm màn thưa che cho nó cùng với Trần Văn Lầu tiến vào khai thác gỗ nguyên sinh ở khu rừng đại ngàn. Cả một khu rừng cổ thụ 20 héc ta ở Khe Cát bị xẻ thịt, chỉ một thời gian ngắn đã biến thành khu đồi trọc. Tất cả đã biến thành tiền và vàng của Triệu Văn Cưởi. Nó mang số của ấy mua một căn nhà 100m2 hai tầng ở Hà Nội, khoá cửa để đấy.
Để phi tang khu rừng nguyên sinh đặc biệt quý hiếm này, Cưởi lập dự án trồng rừng. Trên chỉ đọc dự án rồi phê duyệt ngay.
Bước một thành công. Để yên tâm bước tiếp, Cưởi phải lo dứt điểm cái “hiểm hoạ” bị gọi đi bộ đội. Nó bày ra bữa giỗ bố, chỉ mời ông Chủ tịch Hà Đình Đống, nó chỉ uống qua loa rồi lấy lý do đi họp rồi bỏ đi. Tan rượu, ông Đống kéo mẹ nó vào buồng. Trong lúc hai người đang say sưa thì nó trèo tường vào nhà, bắt quả tang ông Chủ tịch xã ngủ với mẹ nó. Nó bắt ông viết cam đoan không tái phạm. Trong tình thế đó, Ông Chủ tịch oai phong buộc phải làm theo lệnh của thằng Thư ký lưu manh.
Từ ngày mắc bẫy, Chủ tịch Hà Đình Đống chẳng những không bao giờ ghi tên Triệu Văn Cưởi vào danh sách tuyển quân, mà còn tích cực giúp nó vào Đảng, làm nhà. Ông còn nhiều lần đưa nó lên gặp Chủ tịch huyện Nguyễn Tiến Khuông, ngầm tạo thuận lợi cho nó bước lên bậc cao danh vọng.
Được kết nạp Đảng, Cưởi được bầu làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã. Cùng lúc đó ở Seo Sơn xuất hiện một nhân vật bổ sung vào nguồn cán bộ trẻ. Đó là Hoàng Thị Dung.
Hoàng Thị Dung là con gái Bí thư Huyện uỷ Hoàng Văn Hội, vừa tốt nghiệp trung cấp thương nghiệp Bắc Thái, được cử làm cửa hàng phó của hợp tác xã. Dung có nhan sắc, lọt vào mắt Cưởi. Để lấy lòng Dung, Cưởi ép Chủ tịch Hà Đình Đống chuyển số vật liệu xây dựng trường học để xây cửa hàng hợp tác xã. Trong buổi khánh thành, có một đối thủ không ngờ của Cưởi. Đó là Hà Trí Lâm, người Mường, con trai một đại tá quân đội, vừa tốt nghiệp đại học, được cử làm chuyên viên kỹ thuật vật liệu của Phòng Tiểu thư công của Huyện. Lâm hơn hẳn Cưởi về mọi mặt. Để nó chiếm mất Dung ư? đời nào Cưởi chịu. Sau một đêm thức trắng, một mưu mô quỷ quyệt đã được vạch ra.
Theo gợi ý của Cưởi, đại diện hợp tác xã cùng Dung lên huyện xin dầu dọc về làm ngói và cố mời bằng được chuyên viên Hà Trí Lâm vào giúp đỡ pha chế. Đêm đó, theo lệnh Cưởi, đội trưởng An rút một can dầu dọc để ra ngoài, còn một can trộn dầu ma dút và luyn, trông giống như dầu dọc. Đồng thời rắc thuốc ngủ do Cưởi đưa cho vào hai bát cháo ăn đêm của Lâm và Bầu. Sáng ra, mọi người thấy Lâm và Bầu trần truồng ôm nhau nằm ngủ. Lâm không biết chuyện gì xảy ra, đành ký vào biên bản. Chưa hết, mấy hôm sau đó ngói dỡ ra chỉ đạt loại C. An đem can dầu dọc rút ra hôm trước lại được mẻ ngói loại A.
Tình ngay lý gian, Hà Trí Lâm bị đình chỉ công tác làm kiểm điểm. Kiểm điểm xong, anh xin đi bộ đội mặc dù anh thuộc diện miễn nhập ngũ vì là con một, có bố đang chiến đấu ở chiến trường.
Hạ gục đối thủ Hà Trí Lâm, Cưởi ung dung dắt tay Dung vào phòng cưới.
Theo nghị quyết của Ban chủ nhiệm, Đá Vách được mở rộng thành vườn chè công nghiệp do Hà Trọng Căn làm đội trưởng. Để kèm chân Hà Trọng Căn, Cưởi về Hà Nội tìm Ba Tòng trưởng nhóm lưu manh ngày xưa lên Seo Sơn làm thư ký đội chè. Trong khi Ba Tòng tiến sát tán tỉnh Bầu thì chị được Tùng kể hết mưu mô của An định hại Hà Trí Lâm. Bầu lên huyện báo cáo hết sự việc. sau thời gian điều tra, huyện ra quyết định minh oan cho Hà Trí Lâm, rút Bầu lên Hội phụ nữ Huyện. An bị đình chỉ công tác và phải đền bù số tiền mẻ ngói loại C. Cưởi cho tiền An để An dấu kín mọi chuyện. Lấy được Dung rồi, Cưởi tìm cách kiếm tiền hơn nữa.
Đó là việc chiếm dụng tiền lao động công ích của xã viên ở công trình Khe Măng. Đó là việc biển thủ tiền cám ơn của công ty Sóng Thần cho hợp tác xã.
Trong lúc tiền chảy vào túi Cưởi như nước thì một thảm hoạ kinh hoàng đổ ập xuống Seo Sơn.
Sau trận mưa bão kéo dài ba ngày liền, một dòng thác bùn từ các khu đồi trọc đổ xuống làm chết 12 người và vùi dập biết bao nhà cửa, đồng ruộng, hoa mầu. Trong lúc cán bộ và nhân dân trần mình ra cứu nạn, Cưởi cáo ốm nằm ì ở nhà rồi lên bệnh viện huyện, tỉnh. Từ bệnh viện, Cưởi nhắn Ba Tòng ra gặp nhờ bán căn nhà gỗ cho Phan Văn Trị. Công việc xong xuôi, Cưởi ôm tiền đào tẩu về Hà Nội. Về đến Hà Nội, việc đầu tiên của Cưởi là tìm cách bán mẹ con Ngát sang Trung Quốc. Ngát vốn là nhân viên cửa hàng hợp tác xã, bị Cưởi quyến rũ, có thai, được Cưởi đưa về giữ nhà cho hắn ở Hà Nội. Ở nơi đất khách quê người, đau đớn đến cùng cực, Ngát tìm dao tự sát. Trong khi đó, Cưởi nhờ Tòng bán nốt căn nhà mặt phố được mua từ tiền bán gỗ mấy năm trước, rồi thu vén trốn vào Sài Gòn.
Một không khí tang thương bao trùm lên Seo Sơn. Được tin Cưởi bỏ trốn, Dung – vợ hắn đau đớn phát điên, xé quần áo chạy ra đường như một kẻ vô thức.
Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng nguyên nhân phá rừng ở Seo Sơn, Huyện uỷ ra nghị quyết cách thức Bí thư, Chủ tịch xã Seo Sơn. Viện kiểm sát ra lệnh truy tố Triệu Văn Cưởi.
Huyện uỷ viên, Phó Phòng nông nghiệp Triệu Thị Bầu được cử về làm Bí Thư kiêm Chủ tịch xã Seo Sơn.
Trong lúc thiếu người, Nguyễn Uyên được cử về Seo Sơn làm Trưởng Công an xã.
Uyên là ai?
Hắn vốn là một công nhân của một nhà máy giấy. Do nhập nhèm về việc nhập nguyên liệu, hắn tham ô được một món tiền kha khá. Có tiền, hắn tập họp vây cánh hòng đánh đổ quản đốc phân xưởng. Đồng thời, Uyên thông đồng với nhân viên sở điện thay đổi chỉ số công tơ, bỏ túi khá nhiều tiền. Việc bị phát giác, hắn bị vào nhà đá bóc lịch. May được chú họ là Chủ tịch huyện Nguyễn Tiến Khuông bảo lãnh, nên được tha về, làm hợp đồng ở Ủy ban huyện. Sau vẫn nhờ chiếc ô Nguyễn Tiến Khuông, hắn được cử về Seo Sơn, cùng với Chủ tịch xã Khuất Tấn Phong.
Vừa ấm chỗ, với sự thính nhạy của một con thú, Uyên sớm nhận ra muốn tiến thân phải đánh gục ba đối thủ là Bí thư Triệu Thị Bầu, Chủ tịch Khuất Tấn Phong, Phó Chủ tịch Hà Trọng Căn.
Sau đây là hồ sơ thống kê tội ác của Nguyễn Uyên ở Seo Sơn.
- Phao tin Triệu Thị Bầu và Hà Trọng Căn có quan hệ bất chính.
- Bỏ thuốc kích thích vào hai chén rượu của Tư Phây và Vân Thục, đưa Vân Thục – vợ Chủ tịch Khuất Tấn Phong vào tròng.
- Chụp ảnh trộm Tư Phây và Vân Thục đang làm tình, qua Đỗ Pháp chuyển đến tay Sán Lùng.
- Qua Đỗ Pháp, chân tay của Sán Lùng kéo Khuất Tấn Phong vào nghiện ma tuý, mất hết cả nhân cách đến mức phải nghe theo Uyên, viết đơn từ chức, nhường quyền Chủ tịch xã cho Uyên. Thế là Uyên chiếm được ghế Chủ tịch xã Seo Sơn.
- Sai tay chân đốt trại lợn của Hà Trọng Căn
- Vận động nhân dân không bán lợn cho Hà Trọng Căn. Ai bán lợn cho Căn thì cho tay chân thả thuốc trừ sâu xuống ao cá và giếng nước ăn.
- Thiết lập đường dây bán thuốc lá ma tuý giữa Đỗ Pháp, Vân Thục và Sán Lùng.
- Cho tay chân thả thuốc độc xuống nguồn nước để diệt đàn lợn của Hà Trọng Căn.
Nhờ sự giúp đỡ của Vân Thục, Công an huyện đã vây bắt quả tang ba tên chân tay của Uyên đang thả thuốc độc vào dòng nước nuôi lợn của Hà Trọng Căn. Khám nhà Tôn Phong có kho thuốc lá có chứa thuốc phiện, kho của Uyên còn to hơn.
Trong lúc Uyên bước ra toà thì Sán Lùng hấp hối sắp chết vì căn bệnh xã hội. Đến lúc ấy hắn lộ mặt là Triệu Văn Cưởi.


***

Đối mặt với hai tên lưu manh, cơ hội kể trên là một đội ngũ những người lương thiện. Vũ Quốc Khánh không chỉ thành công trong xây dựng nhân vật phản diện mà còn rất thành công trong việc xây dựng các nhân vật chính diện. Đó là Bí thư Huyện uỷ Hà Trí Lâm, Bí thư kiêm Chủ tịch xã Triệu Thị Bầu, Phó Chủ tịch Hà Trọng Văn, Hoàng Thị Dung, Đinh Công Tấn...
Hà Trí Lâm sau vụ bị Triệu Văn Cưởi gài bẫy anh xin đi bộ đội, trực tiếp chiến đấu từ chiến dịch Đường 9 Nam Lào, vào Tây Nguyên, tham gia đánh chiếm Ban Mê Thuật, đuổi giặc tháo chạy trên đường 7. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh bị thương nát một cánh tay, phải phẫu thuật cắt bỏ. Là một người trí thức, anh mau chóng nhập vai người lính, chiến đấu vừa mưu trí vừa dũng cảm, được kết nạp Đảng tại mặt trận. Từ một chiến sĩ binh nhì, trải qua gian khổ trong chiến đấu, anh trở thành Phó Chính uỷ trung đoàn. Kết thúc chiến tranh, sau kỳ nghỉ dưỡng, anh xin được giải ngũ, trở thành Bí thư Huyện uỷ thay ông Hoàng Văn Hội.
Trở về quê hương, gặp lại Triệu Thị Bầu, anh biết rõ mình bị oan và kẻ bày mưu là Triệu Văn Cưởi, nhưng tuyệt nhiên anh không tìm cách trả thù. Công việc choán hết tâm trí anh là xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, đưa Nghị quyết khoán 10 của Ban bí thư khoá VI vào đời sống, cố gắng để dân thoát khỏi đói nghèo. Anh đặc biệt tạo điều kiện cho những đảng viên có trí làm giàu như Hà Trọng Căn. Chính nhờ có sự tác động của anh mà dự án xây dựng kinh tế trên diện tích 6000 héc ta của Hà Trọng Căn mới sớm được phê duyệt. Anh theo dõi từng bước đi của dự án này, kịp thời động viên và tạo điều kiện để Hà Trọng Căn vượt qua những khó khăn, rủi ro ban đầu.
Triệu Thị Bầu là một cán bộ nữ miền núi tiêu biểu. Sinh trưởng trong một gia đình người Dao có nề nếp. Bầu tham gia công tác đoàn thể tích cực, được cử đi học lớp kế toán, rồi được cử làm Thư ký đội chuyên canh sản xuất chè. Sau khi được minh oan trong vụ quan hệ bất chính với Lâm do Cưởi chủ mưu, Chị được rút lên làm cán bộ Hội phụ nữ huyện. Do tích cực công tác và rèn luyện, Bầu được kết nạp Đảng, rồi trở thành Huyện uỷ viên. Sau thảm hoạ lũ quét, chị được cử làm Bí thư kiêm Chủ tịch Seo Sơn. Với bản tính trung thực, chất phác và gương mẫu, chị nhanh chóng được toàn Đảng bộ và nhân dân tin tưởng, coi như linh hồn của xã. Chị kiên trì thực hiện chỉ thị khoán của Ban Bí thư, giao đất đến tận tay từng hộ lao động, vượt mọi khó khăn, xây dựng các đội chuyên canh sản xuất hàng hoá có thương hiệu cao như gạo nếp, chè, gạch, ngói. Trong công tác Đảng, chị kiên quyết bảo vệ những đảng viên tâm huyết, trong sáng như Hà Trọng Căn, dũng cảm vạch mặt những kẻ cơ hội như Nguyễn Uyên. Mỗi khi ai gặp khó khăn, chị đều đến thăm động viên và tình cách giúp đỡ.
Trong cuộc sống riêng tư, Chị một lòng một dạ chung thuỷ chờ đợi Lâm. Sau hoà bình, chị chủ động tìm mọi cách đến thăm Lâm ở khu an dưỡng, vừa kín đáo vừa mạnh dạn bộc lộ tình cảm với Lâm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc.
Bên cạnh Bí thư kiêm Chủ tịch xã Triệu Thị Bầu là cán bộ đoàn Triệu Thị Hân. Hân tiêu biểu cho lớp cán bộ trẻ năng động, dám nghĩ dám làm, quyết tâm đổi mới. Sau lần cứu Triệu Thị Mẩy khỏi căn bệnh hiểm nghèo, Hân cùng với chi đoàn tích cực vận động dân bản xoá bỏ nạn tảo hôn, làm nhà tắm, xây dựng hố xí hai ngăn, cho các em học theo nhóm. Cô chủ động xây dựng hương ước, thông qua bà con và được huyện chấp nhận. Hân đề xuất với Hoàng Công Trường xây dựng đề án khôi phục rừng Đại Ngàn. Với những cống hiến của Hân, Cọ Sơn trở thành lá cờ đầu xây dựng nếp sống mới của toàn xã.
Trong các nhân vật chính diện, Vũ Quốc Khánh dành sự chăm chút sâu nặng nhất đối với Hà Trọng Căn. Đây là một kiểu nhân vật đặc trưng, tiêu biểu cho thời kỳ đổi mới. Vừa lạ vừa quen.
Hà Trọng Căn là thương binh xuất ngũ, được trở về xây dựng quê hương với hai mảnh đạn còn ở trong người, thường làm khổ anh mỗi khi thay đổi thời tiết. Anh vốn là Đại đội phó được thưởng nhiều huân chương, bằng dũng sĩ diệt Mỹ, về địa phương được dân tin bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban xã. Anh rất cảm động vì điều đó, nhưng cái khao khát nhất của anh không phải ở sự thăng tiến quyền lực mà ở chỗ làm được điều thiết thực cho gia đình và dân bản đỡ nghèo khổ. Chính vì vậy sau nhiều đêm suy nghĩ anh quyết định viết đơn xin từ chức để làm kinh tế. Lá đơn thứ nhất Triệu Thị Bầu cất vào cặp, không nói với ai. Đến khi Nguyễn Uyên tung tin anh và Triệu Thị Bầu có quan hệ bất chính, anh lại viết đơn lần thứ hai. Triệu Thị Bầu bảo anh làm thế là gián tiếp thú nhận mình có khuyết điểm à. Anh thuyết phục không phải mình thú nhận mà đây là tâm huyết, là nguyện vọng từ lâu của tôi. Còn sự đồn thổi, thời gian sẽ làm sáng tỏ, trước sự kiên quyết của anh, Triệu Thị Bầu đành phải đồng ý.
Căn bắt đầu ước nguyện của mình với hai bàn tay trắng. Anh phải vất vả biết bao nhiêu mới được cấp phép cho thuê 6.000m² đồi trọc hoang hoá. Mục tiêu là xây dựng một vùng chuyên canh chè. Muốn trồng chè phải có máy cày làm đất, lại còn phải dọn những tảng đá xen kẽ lổn nhổn. Cày đất rồi, phải lo nước, lo phân bón. Thế là phải nghĩ đến đắp đập, khơi mương, chăm lo đàn lợn. Muốn có lợn, phải có chuồng trại sạch sẽ, có thức ăn gia súc. Cứ thế việc nọ đẻ việc kia, cả một núi khó khăn trồng chất. Cái gì cũng cần tiền, việc nào cũng cần vốn. Mặc dù vợ chồng Hà Trí Lâm – Triệu Thị Bầu rất nhiệt tình giúp đỡ anh, nhưng ra đến ngân hàng thì tắc. Anh có gì để thế chấp? Anh có gì để chứng minh rằng anh sẽ thu hồi được vốn?
Là kỹ sư nông nghiệp lại kinh qua nhiều năm làm Đội trưởng trồng lúa và trồng chè, Hà Trọng Văn tập trung giải quyết khâu làm đất. May mắn anh được Giám đốc Trần Vũ cử giúp một công nhân lái máy cày giỏi đó là Tấn. Tấn có kỹ thuật cày không lấp đất mùn. Khâu đất rất tốt nhưng 4 héc ta chè đầu tiên đều héo rụi. Căn buồn lắm. Nguyễn Uyên mừng múa dao trong bị. Bí thư huyện uỷ Hà Trí Lâm đến thăm và động viên Căn không nản trí, quyết tìm ra nguyên nhân. Hoá ra là nước. Thiếu nước tưới ngay từ những ngày đầu, chè giống không sống được. Tấn phát huy sáng kiến lắp hai bộ lưỡi cày mới, xẻ được hai ngòi nước về cho vườn chè. Lần trồng chè thứ hai thắng lợi. Qua những ngày đầu bị Nguyễn Uyên cho tay chân đốt phá, khu trại lợn cũng cho 20 tấn xuất chuồng. Từ sản xuất nhỏ lẻ, Hà Trọng Căn mạnh dạn tiến lên sản xuất lớn. Khu trồng chè được mở rộng. Trại nuôi lợn có phân làm bình bioga, đủ điện quạt mát mùa hè và sưởi ấm cho lợn suốt mùa đông. Hà Trọng Căn về Hà Nội ký hợp đồng cung cấp thịt với nhà máy thực phẩm thịt hộp mở rộng đàn lợn thịt xuất khẩu và mở rộng trại nuôi lợn giống. Công việc nhiều, Căn cho Dung vào làm việc. Sau những ngày điên dại vì bị Cưởi bỏ rơi, Dung hồi tỉnh dần, được làm đội trưởng đội lợn chị vui lắm.
Thấm thoát, những héc ta chè đầu tiên đã cho búp. Mùa thu hoạch thật vui. Chè của Hà Trọng Căn, chất lượng tốt, thu không đủ bán. Diện tích chè lại được mở rộng hơn nữa. Với tính năng động và tầm nhìn xa, Hà Trọng Căn tìm được nhiều đối tác tin cậy: xây nghiệp dựng xí nghiệp chế biến chè tại chỗ. Xây dựng xí nghiệp thức ăn gia súc tại chỗ. Tăng sản lượng chế biến thực hộp.
Ngoài nguồn lợn tại chỗ của xí nghiệp, anh còn mở rộng thu mua lợn cho bà con xã viên trong toàn xã.
Ngoài công việc kinh doanh, Hà Trọng Căn còn tìm mọi cách tạo công ăn việc làm cho con em xã viên đến tuổi lao động. Anh dành đất để xây dựng khu nhà cho công nhân viên. Anh tác thành hạnh phúc cho Tấn và Dung.
Bộ mặt Seo Sơn thay đổi hẳn.
Để viết Seo Sơn, Vũ Quốc Khánh đã phải chuẩn bị cho mình một vốn sống phong phú, nhiều mặt. Anh gửi ký thác biết bao tình cảm vào đồng bào các dân tộc miền núi, vào những người lao động chân chính. Anh vui mừng với từng bước đi trong làm ăn, trong xây dựng đời sống mới của Seo Sơn. Anh đặt biết bao hy vọng vào lớp cán bộ trẻ. Góc nhìn của anh là góc nhìn của người trong cuộc, thể hiện rất rõ tính tích cực xã hội của nhà văn.
Vũ Quốc Khánh kết hợp nhuần nhị lối văn kể chuyện mạch lạc, khúc triết với bút pháp xây dựng nhân vật sắc sảo, đầy ấn tượng. Anh thể nghiệm lối văn lồng ghép trong chuyện lớn có chuyện nhỏ, trong chuyện nhỏ có chuyện lớn, làm cho trữ lượng thông tin của tác phẩm tăng lên rất nhiều.
Seo Sơn là câu chuyện đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, là sự vạch lối tìm đường trong làm ăn của những người lương thiện. Đó là quá trình giằng xé, đau đớn để đi lên của một xã vùng núi, nhưng ý nghĩa xã hội của cuốn tiểu thuyết này không dừng lại ở đó. Lấy Seo Sơn là bối cảnh, là đề tài, Vũ Quốc Khánh muốn gửi tới người đọc những triết lý nhân văn sâu sắc về cuộc sống, về con người, về thời cuộc. Chính điều đó đã làm nên tầm cao tư tưởng của tác phẩm rất đáng tìm đọc này. Đó là một trong những tác phẩm thành công nhất viết về các dân tộc miền núi trong mấy chục năm gần đây, xứng đáng với giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam

Hà Nội, ngày 5/3/2025

Hữu Thỉnh/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm