TIN TỨC

Niềm tin nẩy mầm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-27 18:15:10
mail facebook google pos stwis
313 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.

Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002, hiện là Chi hội trưởng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tỉnh Phú Thọ, chị có nhiều đóng góp tích cực cho đời sống văn học nghệ thuật. Hiện chị đã xuất bản 15 tác phẩm, gồm 11 tập thơ, một tập trường ca, một tập tiểu luận và một tập truyện ký. Lời Giêng là một trong ba bài thơ được dịch và phát hành tại Bỉ tháng giêng năm 2026 (Tháng một năm Bính Ngọ).

 

Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà 

Lời Giêng


Hoa đào cả tin biết mấy

E ấp mơn làn gió qua

Khe khẽ mở từng cánh mỏng

Má hồng phơn phớt nắng xa


Rồi đóa xuân rơi từng giọt

Vắt kiệt nỗi niềm đam mê

Cánh thắm từng ngày phai nhạt

Nẻo mây thăm thẳm đường về


Âm âm lá cành gom nhựa

Vật vã kết thành quả non

Ngày xanh đã thành quá vãng

Hình như ngày ấy tươi son


Hoa đào cả tin thế đấy

Ôm một khối tình lặng câm

Không chút giận hờn trách móc

Niềm tin biết có nảy mầm?

Là hữu duyên chăng khi bài thơ Lời Giêng của chị xuất hiện đúng tháng giêng. Nhan đề bài thơ là Lời Giêng được hiểu là lời của mùa xuân, lời của tháng thứ nhất trong hành trình theo trật tư tuyến tính của thời gian 12 tháng trong một năm, khởi đầu một năm mới. Tuy nhiên, khi đọc xong bài thơ người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận chữ Giêng cũng có thể hiểu theo nghĩa Lời riêng tức là lời nói riêng biệt của một cái tôi trữ tình, lời nói đã hiện thực hóa, vắt kiệt nỗi niềm của một trái tim mang nặng tình yêu với con người, với cuộc sống, với thiên nhiên

 

Tác giả và nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa

 

Nông Thị Ngọc Hòa là như thế, nhà thơ luôn say đắm một tình yêu với cuộc đời, với con người và cảnh sắc thiên nhiên. Có phải thế chăng mà hoa đào mùa xuân cũng mang nặng nỗi niềm tâm tư của chủ thể trữ tình?  khởi đầu là

 Hoa đào cả tin biết mấy

E ấp mơn làn gió qua

Khe khẽ mở từng cánh mỏng

Má hồng phơn phớt nắng xa

Cả tin bốn là một niềm tin chân thật, không tính toán, không so đo, không vụ lợi, là một niềm tin nguyên sơ, nguyên bản, trong sáng, thậm chí trong veo như giọt nước dưới ánh ánh sáng mặt trời. Vì sao nhà thơ lại viết hoa đào cả tin và niềm tin ấy đặt vào nơi nao? niềm tin ấy trước hết đặt vào làn gió, khi làn gió nhẹ thoáng qua khiến hoa đào khe khẽ mở từng cánh mỏng và ánh sắc hoa đào được so sánh, nhân hóa như má hồng của thiếu nữ!

Cả tin vào gió đâu chỉ riêng hoa đào, hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh cũng có một niềm tin vào gió Sóng bắt đầu từ gió/ gió bắt đầu từ đâu/ em cũng không biết nữa/ khi nào yêu nhau

Đặt niềm tin vào gió, tâm sự với gió hay nói cách khác gió chính là biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu trong những trường hợp cụ thể như lời riêng của từng chủ thể trữ tình muốn cất lời mỗi khi mùa xuân đến.

Tin vào gió nên hoa đào như thiếu nữ, thích nói ngược theo motif “Em bảo anh đi đi/ Sao anh không dừng lại”. Câu thơ của Nông Thị Ngọc Hòa không chỉ nói  dáng vẻ, còn hàm chứa cảm xúc, dẫu muốn cố giấu đi vẫn cứ hiện diện  E ấp mơn làn gió qua. Và rồi, má hồng phơn phớt nắng xa khẽ từng cánh mỏng của hoa đào lộ diện dưới nắng ban mai; theo với thời gian, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê nở, đam mê tỏa sáng dưới ánh nắng mặt trời, tỏa sắc hồng ấm áp, rạng rỡ bức tranh cuộc sống mùa xuân. Cái hay ở đây là thi sĩ đã dùng những ngôn từ thật đẹp, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê đến tận cùng, cháy đến tận cùng từng giọt sự sống để làm đẹp cho đời. Rồi đóa xuân rơi từng giọt, vắt kiệt nỗi niềm đam mê/ cánh thắm từng ngày phai nhạt/ nẻo mây thăm thẳm đường về

Tin vào gió rồi từng cánh mỏng lật mở, hoa nở ra dần dần thành đóa tức là sự trưởng thành cũng lớn lên. Tuy nhiên cũng theo với thời gian từ hoa đào chớm nở đến hoa đào rực rỡ rồi hoa đào tàn phai, lúc đó nẻo mây thăm thẳm đường về, lúc đó biết gió ở nơi nao?

Không còn là tình hoa và gió nữa? không còn là khách quan nữa, đã là nỗi niềm riêng, đã là tình yêu đôi lứa!

Và rồi hoa đào kết trái, nhìn qua cứ ngỡ bình thường, nhìn sâu mới thấy trải theo thời gian năm tháng, để có được quả non hoa đào đã trải qua một hành trình vật vã và ngày xanh đã thành quá vãng, ngày tươi son cũng đã lùi xa. Khổ kết của bài thơ lặp lại ý thơ của khổ thơ thứ nhất. Hay còn gọi là kết cấu hô ứng giữa mở và kết hoa đào cả tin thế đấy/ ôm một khối tình lặng câm/ không trút giận hờn trách móc/ niềm tin biết có nảy mầm

Đây chính là cái nhìn riêng, rất riêng của nữ thi sỹ dân tộc Tày. Chị nhìn hoa đào, quan sát hoa đào từ khi mới chớm nở đến khi hình thành trái đào; từ khi đào như một thiếu nữ đến khi đào giống như một người đàn bà trưởng thành giấu kín nỗi niềm riêng, không giận hờn, không trách móc ôm một khối tình lặng câm . Rồi mùa xuân sẽ qua, năm sau sẽ có mùa xuân mới, hoa đào sẽ lại nở. Không nói ngày xuân lộc sẽ nảy mầm mà nói niềm tin biết có nảy mầm, thật sự rất logic, nhẹ nhàng thôi nhưng sâu sắc và thấm thía; hoa đào như người con gái cả tin vào chàng trai là gió. Hoa đào là bến đỗ, vẫn lặng yên ở một vị trí sẵn có, còn gió như một chàng trai phong tình, nay phương trời này, mai phương trời khác. Dễ hiểu, vậy mối tình của gió với hoa đào liệu có là mối tình chung thủy?

Không biết niềm tin liệu có nảy mầm hay không nhưng tôi tin chắc một điều với cái nhìn sâu sắc ấy thi sĩ đã gieo vào lòng độc giả một niềm tin chắc chắn vào quy luật muôn đời mỗi năm đều bắt đầu từ mùa xuân, mỗi năm đều có hoa đào nở và hoa đào chính là sự hiện diện của cái đẹp giống như phụ nữ, phái đẹp luôn làm đẹp cho đời 

Có thể hiểu, với thời gian hàng năm, 12 tháng thi sỹ có thể nói 12 lời nhưng Lời Giêng vẫn có nét đẹp và độc đáo riêng bởi Lời Giêng chính là lời khởi đầu cho một mùa xuân mới, cho một năm mới. Đặt câu hỏi niềm tin liệu có nảy mầm nhưng chính câu hỏi tu từ ấy cũng đã là lời khẳng định niềm tin chắc chắn nảy mầm bởi mùa xuân sau, mùa xuân kế tiếp, chắc chắn hoa đào lại nở! Như một quy luật bất biến của thời gian vĩnh hằng, mùa xuân còn hiện diện, hoa đào còn nở và tình yêu mãi mãi còn.

Cảm ơn nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa bởi mỗi câu thơ giá trị, mỗi bài thơ giá trị đều khiến cho vườn thơ xuân thêm phần rực rỡ và cuốn hút. Không chỉ vậy, mỗi hạt cát làm nên phù sa, mỗi hạt thóc làm nên mùa vàng và sự đóng góp của chị cho nền văn học văn học đã được khẳng định. Tôi vẫn tâm đắc lời giới thiệu về chùm thơ của chị trên trang báo ngoại quốc, rằng “Với hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ, chị đã góp phần khẳng định vị trí và sức sống của văn học các dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam”.

Phú Thọ, tháng giêng năm Bính Ngọ.

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm