TIN TỨC

Niềm tin nẩy mầm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-27 18:15:10
mail facebook google pos stwis
179 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.

Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002, hiện là Chi hội trưởng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tỉnh Phú Thọ, chị có nhiều đóng góp tích cực cho đời sống văn học nghệ thuật. Hiện chị đã xuất bản 15 tác phẩm, gồm 11 tập thơ, một tập trường ca, một tập tiểu luận và một tập truyện ký. Lời Giêng là một trong ba bài thơ được dịch và phát hành tại Bỉ tháng giêng năm 2026 (Tháng một năm Bính Ngọ).

 

Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà 

Lời Giêng


Hoa đào cả tin biết mấy

E ấp mơn làn gió qua

Khe khẽ mở từng cánh mỏng

Má hồng phơn phớt nắng xa


Rồi đóa xuân rơi từng giọt

Vắt kiệt nỗi niềm đam mê

Cánh thắm từng ngày phai nhạt

Nẻo mây thăm thẳm đường về


Âm âm lá cành gom nhựa

Vật vã kết thành quả non

Ngày xanh đã thành quá vãng

Hình như ngày ấy tươi son


Hoa đào cả tin thế đấy

Ôm một khối tình lặng câm

Không chút giận hờn trách móc

Niềm tin biết có nảy mầm?

Là hữu duyên chăng khi bài thơ Lời Giêng của chị xuất hiện đúng tháng giêng. Nhan đề bài thơ là Lời Giêng được hiểu là lời của mùa xuân, lời của tháng thứ nhất trong hành trình theo trật tư tuyến tính của thời gian 12 tháng trong một năm, khởi đầu một năm mới. Tuy nhiên, khi đọc xong bài thơ người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận chữ Giêng cũng có thể hiểu theo nghĩa Lời riêng tức là lời nói riêng biệt của một cái tôi trữ tình, lời nói đã hiện thực hóa, vắt kiệt nỗi niềm của một trái tim mang nặng tình yêu với con người, với cuộc sống, với thiên nhiên

 

Tác giả và nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa

 

Nông Thị Ngọc Hòa là như thế, nhà thơ luôn say đắm một tình yêu với cuộc đời, với con người và cảnh sắc thiên nhiên. Có phải thế chăng mà hoa đào mùa xuân cũng mang nặng nỗi niềm tâm tư của chủ thể trữ tình?  khởi đầu là

 Hoa đào cả tin biết mấy

E ấp mơn làn gió qua

Khe khẽ mở từng cánh mỏng

Má hồng phơn phớt nắng xa

Cả tin bốn là một niềm tin chân thật, không tính toán, không so đo, không vụ lợi, là một niềm tin nguyên sơ, nguyên bản, trong sáng, thậm chí trong veo như giọt nước dưới ánh ánh sáng mặt trời. Vì sao nhà thơ lại viết hoa đào cả tin và niềm tin ấy đặt vào nơi nao? niềm tin ấy trước hết đặt vào làn gió, khi làn gió nhẹ thoáng qua khiến hoa đào khe khẽ mở từng cánh mỏng và ánh sắc hoa đào được so sánh, nhân hóa như má hồng của thiếu nữ!

Cả tin vào gió đâu chỉ riêng hoa đào, hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh cũng có một niềm tin vào gió Sóng bắt đầu từ gió/ gió bắt đầu từ đâu/ em cũng không biết nữa/ khi nào yêu nhau

Đặt niềm tin vào gió, tâm sự với gió hay nói cách khác gió chính là biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu trong những trường hợp cụ thể như lời riêng của từng chủ thể trữ tình muốn cất lời mỗi khi mùa xuân đến.

Tin vào gió nên hoa đào như thiếu nữ, thích nói ngược theo motif “Em bảo anh đi đi/ Sao anh không dừng lại”. Câu thơ của Nông Thị Ngọc Hòa không chỉ nói  dáng vẻ, còn hàm chứa cảm xúc, dẫu muốn cố giấu đi vẫn cứ hiện diện  E ấp mơn làn gió qua. Và rồi, má hồng phơn phớt nắng xa khẽ từng cánh mỏng của hoa đào lộ diện dưới nắng ban mai; theo với thời gian, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê nở, đam mê tỏa sáng dưới ánh nắng mặt trời, tỏa sắc hồng ấm áp, rạng rỡ bức tranh cuộc sống mùa xuân. Cái hay ở đây là thi sĩ đã dùng những ngôn từ thật đẹp, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê đến tận cùng, cháy đến tận cùng từng giọt sự sống để làm đẹp cho đời. Rồi đóa xuân rơi từng giọt, vắt kiệt nỗi niềm đam mê/ cánh thắm từng ngày phai nhạt/ nẻo mây thăm thẳm đường về

Tin vào gió rồi từng cánh mỏng lật mở, hoa nở ra dần dần thành đóa tức là sự trưởng thành cũng lớn lên. Tuy nhiên cũng theo với thời gian từ hoa đào chớm nở đến hoa đào rực rỡ rồi hoa đào tàn phai, lúc đó nẻo mây thăm thẳm đường về, lúc đó biết gió ở nơi nao?

Không còn là tình hoa và gió nữa? không còn là khách quan nữa, đã là nỗi niềm riêng, đã là tình yêu đôi lứa!

Và rồi hoa đào kết trái, nhìn qua cứ ngỡ bình thường, nhìn sâu mới thấy trải theo thời gian năm tháng, để có được quả non hoa đào đã trải qua một hành trình vật vã và ngày xanh đã thành quá vãng, ngày tươi son cũng đã lùi xa. Khổ kết của bài thơ lặp lại ý thơ của khổ thơ thứ nhất. Hay còn gọi là kết cấu hô ứng giữa mở và kết hoa đào cả tin thế đấy/ ôm một khối tình lặng câm/ không trút giận hờn trách móc/ niềm tin biết có nảy mầm

Đây chính là cái nhìn riêng, rất riêng của nữ thi sỹ dân tộc Tày. Chị nhìn hoa đào, quan sát hoa đào từ khi mới chớm nở đến khi hình thành trái đào; từ khi đào như một thiếu nữ đến khi đào giống như một người đàn bà trưởng thành giấu kín nỗi niềm riêng, không giận hờn, không trách móc ôm một khối tình lặng câm . Rồi mùa xuân sẽ qua, năm sau sẽ có mùa xuân mới, hoa đào sẽ lại nở. Không nói ngày xuân lộc sẽ nảy mầm mà nói niềm tin biết có nảy mầm, thật sự rất logic, nhẹ nhàng thôi nhưng sâu sắc và thấm thía; hoa đào như người con gái cả tin vào chàng trai là gió. Hoa đào là bến đỗ, vẫn lặng yên ở một vị trí sẵn có, còn gió như một chàng trai phong tình, nay phương trời này, mai phương trời khác. Dễ hiểu, vậy mối tình của gió với hoa đào liệu có là mối tình chung thủy?

Không biết niềm tin liệu có nảy mầm hay không nhưng tôi tin chắc một điều với cái nhìn sâu sắc ấy thi sĩ đã gieo vào lòng độc giả một niềm tin chắc chắn vào quy luật muôn đời mỗi năm đều bắt đầu từ mùa xuân, mỗi năm đều có hoa đào nở và hoa đào chính là sự hiện diện của cái đẹp giống như phụ nữ, phái đẹp luôn làm đẹp cho đời 

Có thể hiểu, với thời gian hàng năm, 12 tháng thi sỹ có thể nói 12 lời nhưng Lời Giêng vẫn có nét đẹp và độc đáo riêng bởi Lời Giêng chính là lời khởi đầu cho một mùa xuân mới, cho một năm mới. Đặt câu hỏi niềm tin liệu có nảy mầm nhưng chính câu hỏi tu từ ấy cũng đã là lời khẳng định niềm tin chắc chắn nảy mầm bởi mùa xuân sau, mùa xuân kế tiếp, chắc chắn hoa đào lại nở! Như một quy luật bất biến của thời gian vĩnh hằng, mùa xuân còn hiện diện, hoa đào còn nở và tình yêu mãi mãi còn.

Cảm ơn nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa bởi mỗi câu thơ giá trị, mỗi bài thơ giá trị đều khiến cho vườn thơ xuân thêm phần rực rỡ và cuốn hút. Không chỉ vậy, mỗi hạt cát làm nên phù sa, mỗi hạt thóc làm nên mùa vàng và sự đóng góp của chị cho nền văn học văn học đã được khẳng định. Tôi vẫn tâm đắc lời giới thiệu về chùm thơ của chị trên trang báo ngoại quốc, rằng “Với hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ, chị đã góp phần khẳng định vị trí và sức sống của văn học các dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam”.

Phú Thọ, tháng giêng năm Bính Ngọ.

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm