- Lý luận - Phê bình
- Niềm tin nẩy mầm
Niềm tin nẩy mầm
ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002, hiện là Chi hội trưởng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tỉnh Phú Thọ, chị có nhiều đóng góp tích cực cho đời sống văn học nghệ thuật. Hiện chị đã xuất bản 15 tác phẩm, gồm 11 tập thơ, một tập trường ca, một tập tiểu luận và một tập truyện ký. Lời Giêng là một trong ba bài thơ được dịch và phát hành tại Bỉ tháng giêng năm 2026 (Tháng một năm Bính Ngọ).

Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà
Lời Giêng
Hoa đào cả tin biết mấy
E ấp mơn làn gió qua
Khe khẽ mở từng cánh mỏng
Má hồng phơn phớt nắng xa
Rồi đóa xuân rơi từng giọt
Vắt kiệt nỗi niềm đam mê
Cánh thắm từng ngày phai nhạt
Nẻo mây thăm thẳm đường về
Âm âm lá cành gom nhựa
Vật vã kết thành quả non
Ngày xanh đã thành quá vãng
Hình như ngày ấy tươi son
Hoa đào cả tin thế đấy
Ôm một khối tình lặng câm
Không chút giận hờn trách móc
Niềm tin biết có nảy mầm?
Là hữu duyên chăng khi bài thơ Lời Giêng của chị xuất hiện đúng tháng giêng. Nhan đề bài thơ là Lời Giêng được hiểu là lời của mùa xuân, lời của tháng thứ nhất trong hành trình theo trật tư tuyến tính của thời gian 12 tháng trong một năm, khởi đầu một năm mới. Tuy nhiên, khi đọc xong bài thơ người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận chữ Giêng cũng có thể hiểu theo nghĩa Lời riêng tức là lời nói riêng biệt của một cái tôi trữ tình, lời nói đã hiện thực hóa, vắt kiệt nỗi niềm của một trái tim mang nặng tình yêu với con người, với cuộc sống, với thiên nhiên

Tác giả và nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa
Nông Thị Ngọc Hòa là như thế, nhà thơ luôn say đắm một tình yêu với cuộc đời, với con người và cảnh sắc thiên nhiên. Có phải thế chăng mà hoa đào mùa xuân cũng mang nặng nỗi niềm tâm tư của chủ thể trữ tình? khởi đầu là
Hoa đào cả tin biết mấy
E ấp mơn làn gió qua
Khe khẽ mở từng cánh mỏng
Má hồng phơn phớt nắng xa
Cả tin bốn là một niềm tin chân thật, không tính toán, không so đo, không vụ lợi, là một niềm tin nguyên sơ, nguyên bản, trong sáng, thậm chí trong veo như giọt nước dưới ánh ánh sáng mặt trời. Vì sao nhà thơ lại viết hoa đào cả tin và niềm tin ấy đặt vào nơi nao? niềm tin ấy trước hết đặt vào làn gió, khi làn gió nhẹ thoáng qua khiến hoa đào khe khẽ mở từng cánh mỏng và ánh sắc hoa đào được so sánh, nhân hóa như má hồng của thiếu nữ!
Cả tin vào gió đâu chỉ riêng hoa đào, hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh cũng có một niềm tin vào gió Sóng bắt đầu từ gió/ gió bắt đầu từ đâu/ em cũng không biết nữa/ khi nào yêu nhau
Đặt niềm tin vào gió, tâm sự với gió hay nói cách khác gió chính là biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu trong những trường hợp cụ thể như lời riêng của từng chủ thể trữ tình muốn cất lời mỗi khi mùa xuân đến.
Tin vào gió nên hoa đào như thiếu nữ, thích nói ngược theo motif “Em bảo anh đi đi/ Sao anh không dừng lại”. Câu thơ của Nông Thị Ngọc Hòa không chỉ nói dáng vẻ, còn hàm chứa cảm xúc, dẫu muốn cố giấu đi vẫn cứ hiện diện E ấp mơn làn gió qua. Và rồi, má hồng phơn phớt nắng xa khẽ từng cánh mỏng của hoa đào lộ diện dưới nắng ban mai; theo với thời gian, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê nở, đam mê tỏa sáng dưới ánh nắng mặt trời, tỏa sắc hồng ấm áp, rạng rỡ bức tranh cuộc sống mùa xuân. Cái hay ở đây là thi sĩ đã dùng những ngôn từ thật đẹp, mỗi bông hoa đào như một đóa xuân và từng đóa xuân ấy đam mê đến tận cùng, cháy đến tận cùng từng giọt sự sống để làm đẹp cho đời. Rồi đóa xuân rơi từng giọt, vắt kiệt nỗi niềm đam mê/ cánh thắm từng ngày phai nhạt/ nẻo mây thăm thẳm đường về
Tin vào gió rồi từng cánh mỏng lật mở, hoa nở ra dần dần thành đóa tức là sự trưởng thành cũng lớn lên. Tuy nhiên cũng theo với thời gian từ hoa đào chớm nở đến hoa đào rực rỡ rồi hoa đào tàn phai, lúc đó nẻo mây thăm thẳm đường về, lúc đó biết gió ở nơi nao?
Không còn là tình hoa và gió nữa? không còn là khách quan nữa, đã là nỗi niềm riêng, đã là tình yêu đôi lứa!
Và rồi hoa đào kết trái, nhìn qua cứ ngỡ bình thường, nhìn sâu mới thấy trải theo thời gian năm tháng, để có được quả non hoa đào đã trải qua một hành trình vật vã và ngày xanh đã thành quá vãng, ngày tươi son cũng đã lùi xa. Khổ kết của bài thơ lặp lại ý thơ của khổ thơ thứ nhất. Hay còn gọi là kết cấu hô ứng giữa mở và kết hoa đào cả tin thế đấy/ ôm một khối tình lặng câm/ không trút giận hờn trách móc/ niềm tin biết có nảy mầm
Đây chính là cái nhìn riêng, rất riêng của nữ thi sỹ dân tộc Tày. Chị nhìn hoa đào, quan sát hoa đào từ khi mới chớm nở đến khi hình thành trái đào; từ khi đào như một thiếu nữ đến khi đào giống như một người đàn bà trưởng thành giấu kín nỗi niềm riêng, không giận hờn, không trách móc ôm một khối tình lặng câm . Rồi mùa xuân sẽ qua, năm sau sẽ có mùa xuân mới, hoa đào sẽ lại nở. Không nói ngày xuân lộc sẽ nảy mầm mà nói niềm tin biết có nảy mầm, thật sự rất logic, nhẹ nhàng thôi nhưng sâu sắc và thấm thía; hoa đào như người con gái cả tin vào chàng trai là gió. Hoa đào là bến đỗ, vẫn lặng yên ở một vị trí sẵn có, còn gió như một chàng trai phong tình, nay phương trời này, mai phương trời khác. Dễ hiểu, vậy mối tình của gió với hoa đào liệu có là mối tình chung thủy?
Không biết niềm tin liệu có nảy mầm hay không nhưng tôi tin chắc một điều với cái nhìn sâu sắc ấy thi sĩ đã gieo vào lòng độc giả một niềm tin chắc chắn vào quy luật muôn đời mỗi năm đều bắt đầu từ mùa xuân, mỗi năm đều có hoa đào nở và hoa đào chính là sự hiện diện của cái đẹp giống như phụ nữ, phái đẹp luôn làm đẹp cho đời
Có thể hiểu, với thời gian hàng năm, 12 tháng thi sỹ có thể nói 12 lời nhưng Lời Giêng vẫn có nét đẹp và độc đáo riêng bởi Lời Giêng chính là lời khởi đầu cho một mùa xuân mới, cho một năm mới. Đặt câu hỏi niềm tin liệu có nảy mầm nhưng chính câu hỏi tu từ ấy cũng đã là lời khẳng định niềm tin chắc chắn nảy mầm bởi mùa xuân sau, mùa xuân kế tiếp, chắc chắn hoa đào lại nở! Như một quy luật bất biến của thời gian vĩnh hằng, mùa xuân còn hiện diện, hoa đào còn nở và tình yêu mãi mãi còn.
Cảm ơn nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa bởi mỗi câu thơ giá trị, mỗi bài thơ giá trị đều khiến cho vườn thơ xuân thêm phần rực rỡ và cuốn hút. Không chỉ vậy, mỗi hạt cát làm nên phù sa, mỗi hạt thóc làm nên mùa vàng và sự đóng góp của chị cho nền văn học văn học đã được khẳng định. Tôi vẫn tâm đắc lời giới thiệu về chùm thơ của chị trên trang báo ngoại quốc, rằng “Với hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ, chị đã góp phần khẳng định vị trí và sức sống của văn học các dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam”.
Phú Thọ, tháng giêng năm Bính Ngọ.
Đ.N.T