TIN TỨC

Vì có em nên đã sinh ra...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-01 10:16:45
mail facebook google pos stwis
677 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG
(Đọc “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026)

Tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về cánh đồng của nhiều nhà thơ, nhưng khi đọc “Những cánh đồng quê hương” của Đinh Nho Tuấn, vẫn cảm thấy có một điều gì đấy khác lạ. Đinh Nho Tuấn phát hiện ra “màu xanh” là “máu của cánh đồng”, còn “màu vàng” là “thịt của cánh đồng”. Hai cái màu căn bản ấy do “Những người nông dân’ ngày lại ngày  đi “gieo màu no ấm” mà có. Nhưng phát hiện lạ hơn là nhìn đất nước qua những cánh đồng và người nông dân thật ấn tượng và thật thuyết phục:

Đất nước tôi

Những cánh đồng

Là tấm áo vá chằng vá đụp

Người nông dân

Khoác tấm áo đó lên người

Mồ hôi thơm mùi đất.

Trong đó,  “tấm áo vá chằng vá đụp” và “mồ hôi thơm mùi đất” là hai chi tiết thơ đắt, đáng lưu ý. Phải là người gắn bó, trải nghiệm với cây lúa, cánh đồng, người nông dân và thân phận nhà nông đến mức nào, mới có thể cất lên những câu thơ như thế! Những câu thơ ấy như được thăng hoa từ sự  giản dị và chân thực rất mực! Và nó quen thuộc đến nỗi ai cũng có thế thấy, nhưng người gọi tên ra nó thì không nhiều và cũng không dễ dàng gì.

Trong mảng thơ viết về tình yêu, tôi tâm đắc với bài “Vì có em nên đã sinh ra” Nguyên văn:

Thời gian chủ động trôi

Tâm hồn ai đôi mươi

 

Khuôn mặt mình dù rơi xuống sau bao lần rửa

Ở những nơi tôi còn thở

Xin hữu hình có em

 

Em chọn sinh vào thuở có ta

Ta có em nên đã sinh ra

Vì em ta siêng sống

Một đời người đi theo màu tím

Một đời người nắm vạt áo tình yêu

 

Nếu hiểu hết về anh thì em sẽ biết một điều

Anh vẫn mãi là như thế

Đau đáu trên trần thế

Vì có em nên đã sinh ra

Bài thơ khẳng định: Tình yêu không chỉ là cảm xúc lứa đôi mà trở thành lý do tồn tại, như một căn nguyên mang ý nghĩa sống. Bài thơ cũng  nêu rõ thân phận và sự hữu hình của tình yêu. Câu “xin hữu hình có em” rất đắt. Ở đây, “em” không chỉ là đối tượng yêu, mà là bằng chứng cho sự hiện hữu, là điểm neo để cái tôi không tan biến. Mặt khác, bài thơ coi tình yêu như nguyên nhân sinh ra tất cả. Hai câu “Em chọn sinh vào thuở có ta/ Ta có em nên đã sinh ra” đảo chiều nhân quả rất thơ: Không phải “ta sinh ra rồi mới có em”, mà “có em nên ta mới thực sự sinh ra”. Đây là một cách nói đậm màu hiện sinh: Con người chỉ thật sự “sinh” khi tìm được ý nghĩa để “sống”. “Em” trở thành điều kiện khai sinh tinh thần. Bài thơ có giọng điệu chân thành, không cầu kỳ nhưng đọc lên là nhớ.

Thơ tình của Đinh Nho Tuấn có lúc rất xác quyết, thiên về phía em một cách cực đoan: “Nếu một ngày em không còn trên trái đất/ Anh sẽ là dấu chấm hết”,  “Đích anh đến chỉ cần em là đủ” (“Nhập vào ta đi hoang”) và em làm anh ngỡ ngàng đến mức trong “Tôi bất ngờ sống”:

Em thực tới mức thành hư ảo...

Tôi bất ngờ sống

Và bất ngờ  hiện diện trong em.

Trong “Khói bụi và cỏ”, có những câu thơ rất đẹp và đẹp đến nao lòng, nên thơ ngay từ cách nói, cách cảm. Đây là 12 câu trích từ “Tháng Giêng”: “Có người con gái đẹp/ Ngày xuân theo chân chồng/ Sao mắt còn rưng lệ/ Vườn quê hạt sương đông”; “Người dắt người yêu tới/ Trong nắng xuân ngập ngừng/ Còn chồi non lộc biết/ Là mắt còn rưng rưng”; “Đất đã tan vào cây/ Nước đã chưng thành rượu/ Đám mây trời trẻ ra/ Tháng Giêng là viên kẹo”. Đó là những câu thơ trong trẻo được sinh thành từ một “cảnh giới’ rất đặc biệt và chúng được tôn cao nhờ “cảnh giới” đặc biệt ấy. Cảm giác sự sống đều đang âm thầm biến đổi để trở nên mềm hơn, ngọt hơn, nhẹ hơn và non trẻ hơn từ “Tháng Giêng” là rất rõ, đặc biệt ở 4 câu kết:

Đất đã tan vào cây

Nước đã chưng thành rượu

Đám mây trời trẻ ra

Tháng Giêng là viên kẹo.

 Còn bài “Nếu” như những lời tự nguyện mong muốn trong đời của một con người đích thực nếu phải chọn một bài hát duy nhất, một quê hương duy nhất, một người yêu duy nhất, một bài thơ duy nhất:

Nếu chỉ hát một lần duy nhất trong đời

Con xin được hát bài ca về cha mẹ

Nếu phải chọn một nơi đi về

Tôi sẽ chọn quê hương, đúng thế!

 

Nếu chỉ một lần nói về người mình yêu

Câu chuyện về em tôi sẽ kể

Nếu chỉ được viết một bài thơ

Bài thơ về tự do, chắc chắn thế!

 Trong “Khói bụi và cỏ”, có những câu thơ hay đủ sức đứng một mình, được viết một cách trực giác đầy ám gợi: “”Bầy thạch sùng ăn không hết đêm đen” (“Sài Gòn mùa yên lặng”), “Bài thơ là vết rách thời gian” (“Dưới chân em vùi lấp ngàn chân lý”), “Đau khổ nhất là phải giấu đi đau khổ” (“Em hay thu”), “Tình yêu không chọn những con đường thẳng” (“Đàn ông và đàn bà”)...

 Đọc những bài thơ tình trong “Khói bụi và cỏ”, tôi ngộ ra rằng: Đinh Nho Tuấn không phải là người đi tìm tình yêu mà Đinh Nho Tuấn là nơi tình yêu đang tìm cách tự nhận ra nó.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm