TIN TỨC

Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-05 03:17:12
mail facebook google pos stwis
178 lượt xem

Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.

Tôi xin phép được bắt đầu tiểu luận này từ một điều rất nhỏ. Một câu thơ, khi được viết ra, không hề biết nó sẽ đi đâu. Nó có thể nằm im trong cuốn sổ tay, lạc giữa một tập bản thảo chưa kịp in, hoặc bất ngờ được ai đó đọc lên trong một buổi chiều nhiều gió. Nhưng có lẽ, điều kỳ lạ nhất là: nó vẫn tìm được cách để tồn tại, như hạt bụi nhỏ trong trí nhớ của người khác. Và có lẽ, chỉ vì vậy mà chúng ta vẫn còn ở đây - để nói về thơ, giữa một thế giới đang cuộn tròn trong dữ liệu, nhanh hơn cảm xúc và ngắn hơn một câu lục bát.

Thơ hôm nay cần phải như thế nào?

Đó là một câu hỏi vẫn vọng lên giữa thời đại của công nghệ. Thơ hôm nay cần hiện đại hơn, dữ dội hơn, hay... bán chạy hơn? Ta không có câu trả lời. Ta chỉ nghĩ rằng, thơ - giống như hơi thở - không có nhiệm vụ trở nên hợp thời, mà chỉ cần trung thực với nhịp sống của con người. Thơ không chỉ là cách ta diễn đạt thế giới, mà còn là cách thế giới tự hé lộ qua một con người đang run lên trước nó. Đó là khoảnh khắc lý trí cúi đầu trước một cảm xúc chưa gọi được tên. Người viết không đi tìm chân lý, chỉ tìm một rung động chưa kịp thành lời.

Tôi tin, dù thời đại có thay đổi, con người vẫn sẽ cần đến thơ - không phải để trang trí cho đời sống, mà để giữ cho đời sống còn một vùng sáng bên trong. Khi ngôn ngữ trở nên mệt mỏi vì phải phục vụ, thì thơ chính là nơi nó được nghỉ ngơi.

 

Thơ khiến ta nhận ra trong cuộc sống vốn đầy biến động và dữ liệu này, vẫn còn có chỗ cho cái đẹp, cho sự im lặng, cho một nỗi xúc động vô cớ... - Ảnh minh họa: Pexels

 

Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.

Tôi luôn thấy thú vị ở chỗ: mỗi thời đại lại đòi hỏi thơ trả lời một câu hỏi khác. Thế hệ trước hỏi: “Thơ để làm gì?” Thế hệ sau hỏi: “Thơ còn ai đọc không?” Còn bây giờ, tôi nghĩ chúng ta chỉ nên hỏi: “Thơ còn khiến ta dừng lại không?” Bởi đôi khi, chỉ một nhịp dừng của con người cũng đủ để thơ làm được điều mà những diễn ngôn nhân văn dài rộng chưa chắc chạm tới.

Nhiều khi tôi tự hỏi: vì sao con người vẫn còn cần đến thơ, giữa vô số phương tiện biểu đạt khác - ảnh, video, podcast, mạng xã hội...? Có lẽ vì thơ vẫn giữ được sự bí ẩn. Mỗi câu thơ là một khoảng trống, và trong khoảng trống ấy, người đọc có thể tự nghe chính mình. Thơ không cố nói hết, vì nó biết: những gì không nói được mới là thứ ở lại lâu nhất.

Nếu ai đó cho rằng thơ là một thứ xa xỉ, tôi nghĩ họ đúng - nhưng là một thứ xa xỉ cần thiết. Như khi ta đi dưới trời mưa, biết là sẽ ướt, nhưng vẫn không mở ô, chỉ vì muốn nghe mùi đất thật hơn. Thơ khiến ta dám chậm lại, dám cảm, dám vụng về giữa một thế giới đang tự động hóa mọi thứ, kể cả cảm xúc.

Có người nói thơ bây giờ phải gắn với công nghệ, với dữ liệu, với trí tuệ nhân tạo. Tôi không phản đối. Nhưng tôi nghĩ, ở bất cứ nơi đâu, thơ vẫn cần một thứ không thay đổi: sự rung động của con người.

Tôi tin, thơ đương đại Việt Nam đang đứng ở một giao lộ rất thú vị: vừa có ký ức, vừa có công nghệ; vừa mang tinh thần dân tộc, vừa đối thoại được với thế giới. Mỗi nhà thơ là một kênh tần số riêng - người thì truyền sóng bằng hoài niệm, người bằng khát vọng, người bằng giễu nhại, người bằng im lặng. Và nhờ thế, diện mạo thơ Việt hôm nay trở nên đa thanh, không cần một “chủ lưu” nào vẫn có thể cùng tạo ra dòng chảy.

Tôi không nghĩ thơ cần một tấm bản đồ mới. Thơ chỉ cần một người dám “lạc đường” theo nghĩa một cú ngoặt của cảm xúc, một bước chệch khỏi khuôn thước, và một chút can đảm để thử một hướng đi chưa quen thuộc. Thơ, trong phần việc âm thầm của mình, không chỉ dẫn đường, mà còn mở cửa sổ cho gió vào.

Nhà thơ, trong sáng tạo của mình không chỉ bảo tồn di sản chữ nghĩa, mà còn đang thử thách chính giới hạn của ngôn ngữ ấy bằng cách đặt câu hỏi: liệu thơ có thể đi xa hơn nghĩa của từ không?

Và nếu có ai hỏi tôi, thơ trong thế kỷ này nên đi đâu, tôi sẽ nói: thơ không đi đâu cả - thơ chỉ ngồi lại, giữa muôn tiếng bước chân, để lắng nghe thế giới đang tự kể chuyện bằng vô số ngôn ngữ. Khi ai đó ngừng nói, thơ bắt đầu cất tiếng.

Mọi diễn ngôn trong xã hội hiện đại đều cần tương tác và có dữ liệu đo lường. Thơ không cần điều đó. Nó không sống nhờ hồi âm.

Nó lặng lẽ nằm trong ngăn bàn ai đó, trong hộp thư chưa mở, trên một mảnh giấy bay qua cánh đồng hoang và vẫn sống. Không vì được nhớ. Mà vì có mặt đúng lúc ai đó cần thấy rằng mình chưa bị chai sạn bởi cuộc sống hiện đại thực dụng.

Thơ là ánh sáng phát ra từ một căn phòng không có ai ngoài chính nó. Và trong ánh sáng ấy có thể ai đó đi qua, không nói, không gõ cửa, chỉ lặng lẽ đứng lại một giây. Một giây thôi đủ để không đi tiếp như một kẻ đã mất hết khả năng cảm nhận. Bởi vì trong thế giới này, mọi thứ đang bị tính bằng phản ứng: bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu người “thả tim”, bao nhiêu phần trăm tương tác mỗi phút. Ngôn ngữ bị đẩy vào dây chuyền phản xạ. Lời nói trở thành công cụ. Câu chữ trở thành sản phẩm. Nhưng thơ là thứ từ chối bị đo đạc. Nó không phát sáng theo thuật toán. Nó không lan truyền vì phù hợp. Nó chỉ hiện ra như một vệt sáng nhỏ lướt qua giấc mơ ai đó, rồi biến mất. Khi người ta mệt vì sống giữa quá nhiều tiếng nói, thơ là vệt lặng còn sót lại trong tâm trí, nơi không ai chen vào được.

Thơ không cần phải là cái đẹp. Nó chỉ cần còn hơi ấm. Nó chỉ cần giữ một nhịp lặng như tim đập dưới tầng ngôn ngữ. Và nếu không ai đọc, không ai giữ, không ai gọi tên... Nó vẫn ở đó như người gác cổng cuối cùng cho cảm xúc chưa thành hình.

Có thể một người sẽ đi qua, nhìn thấy một câu thơ viết dở trên vách cũ, và không hiểu.

Thơ không cần phải là cái đẹp. Nó chỉ cần còn hơi ấm. Nó chỉ cần giữ một nhịp lặng như tim đập dưới tầng ngôn ngữ.

Nhưng lòng họ sẽ bất chợt dội lên một điều gì mơ hồ như ánh mắt người thân đã mất. Và họ không đi tiếp như cũ nữa. Vì thơ - ngay cả khi không ai đáp lại - vẫn là cách một con người giữ cho mình không bị xóa hoàn toàn khỏi cảm giác rằng đã từng yêu. Đã từng run rẩy. Đã từng cần một câu để giữ mình lại trong đời sống.

Người viết không biết điều ấy. Họ không đứng đó. Họ đã đi, đã tan, đã quên. Nhưng một phần của họ, phần từng run rẩy mà đặt bút, đã ở lại. Trong tờ giấy bay. Trong dòng chữ nghiêng. Trong ánh sáng không cần người nhìn.

Thơ, vì thế, không chỉ là thông điệp. Nó giống như tiếng thở dài của một bài hát không có người hát, chỉ còn dư âm của một ai đã sống. Trong một thế giới của tốc độ, của tối ưu hóa, của công cụ, của đo lường, thơ trở nên vô dụng. Nhưng chính sự vô dụng đó là dấu hiệu rằng: cái sống động vẫn chưa bị biến thành cơ chế. Cái run rẩy vẫn chưa bị bọc trong nhựa. Cái đau đớn vẫn chưa bị chỉnh sửa bằng các bộ lọc. Đó là phẩm giá cuối cùng của cái đẹp không cần in, không cần hiểu, chỉ cần được viết đúng lúc - trước khi người viết mất đi khả năng cảm thấy mình còn tồn tại.

Điều mong manh được giữ lại

Người ta thường tưởng: làm thơ là để nói ra điều mình nghĩ. Nhưng không. Làm thơ là để nói ra điều không thể nghĩ được bằng cách nào khác. Một câu thơ đôi khi là chỗ cuối cùng mà một con người còn giữ lại để không biến mất khỏi chính mình.

Trong một thế giới của công nghệ mà mà ở đó ngôn ngữ trở thành công cụ thao túng, thơ là nơi con chữ không bị sai khiến. Không bị bán. Không bị dựng thành ý đồ. Chỉ là một thứ cần hiện ra như người ta cần rưng rưng. Và vì vậy, nó yếu ớt. Nó không giành được sân khấu. Nó không có hàng trăm lượt chia sẻ. Nó không được ai dẫn lại như châm ngôn. Nhưng nó tồn tại như một vệt máu khô trong lòng áo cũ.

Không kêu đau. Không chứng minh. Không cần chữa. Chỉ để nhắc: đã từng có một vết thương không được chặn đỡ. Câu thơ là vết lặng không có tay ai chìa ra. Không có tiếng “ừ” đáp lại. Không có vai để tựa vào. Nó là sự đơn độc tuyệt đối nhưng không đầu hàng. Là nơi cảm xúc bị dồn đến tận cùng không thể gào, không thể khóc, không thể kể, chỉ còn bật ra trong hình hài lặng lẽ của một hình ảnh chưa ai hiểu. Ta viết không phải để được hiểu. Ta viết vì nếu không viết thì sẽ không còn gì để giữ lại phần biết đau trong ta.

Người ta vẫn sống được mà không cần thơ. Nhưng những người từng suýt biến mất mới biết một câu thơ không phải là nghệ thuật mà là lối thoát thầm lặng khỏi vực sâu.

Một câu thơ, đôi khi, không sinh ra để ai đó hiểu. Mà để một ai đó, ở đâu đó, không tan hoàn toàn trong cái không thể hiểu nổi là đời sống. Có thể không ai đọc. Có thể không ai nghe. Nhưng giữa một thế giới bão hòa tín hiệu, thơ là một cử chỉ nguyên thủy - như vết rạch đầu tiên của con người lên vách đá - không để lưu danh, mà để khẳng định: ta đã hiện diện ở đây, trong nỗi cô đơn này, và ta đã không im lặng. Câu thơ không chỉ là biểu tượng của cái đẹp mà còn là tàn tích cuối cùng của cảm xúc chưa bị làm phẳng.

Và chính điều đó là lý do để thơ còn được viết ra. Không phải vì thế giới còn cần đến thơ. Mà vì chính khi tất cả lý do đã tan rã, một câu thơ vẫn tiếp tục thở như một khe sáng giữa hai mảng đời đã đóng băng.

Thơ không chỉ đánh thức, không chỉ cứu rỗi, mà trong một thế giới nơi cảm xúc bị thu nhỏ thành biểu tượng, nơi đau đớn được mô tả bằng sticker, nơi cái chết cũng bị livestream, thì một câu thơ được viết chỉ để không bị xóa là chứng tích của việc khước từ sự câm lặng.

Có thể rồi mọi câu chữ sẽ tan. Có thể rồi chính người viết cũng không còn nhớ vì sao mình viết. Có thể trang giấy ấy sẽ mục nát trong một ngăn kéo cũ, hoặc bay đi giữa một trận gió không ai gọi tên. Nhưng cái còn lại không phải là bài thơ mà là khoảnh khắc người viết đã ngồi xuống chỉ để giữ cho điều mong manh nhất trong mình không tan hoàn toàn vào thế giới đang dày đặc những thứ “cần thiết”.

Đó là phần còn lại của cái đẹp. Không vang vọng . Không cần lặp lại. Không cần lưu giữ. Nhưng vẫn lặng lẽ hiện ra, như tàn hương cuối trên bệ cửa, như ánh lân tinh sót lại sau một giấc mơ không ai tin.

Và nếu có ai tình cờ bắt gặp thì nếu có hỏi: “Ai viết?”, hoặc “Viết cho ai?”, có thể sẽ không cần trả lời. Chỉ cần cúi đầu, như một vĩ thanh không dành để khép lại, mà để giữ cho khoảng trống không bị khóa kín.

Cuối cùng, tôi muốn chia sẻ một suy nghĩ giản dị: thơ, suy cho cùng, là một cách để ta nhìn lại thế giới mà không cần nhìn vào màn hình. Nó khiến ta nhận ra rằng trong cuộc sống vốn đầy biến động và dữ liệu này, vẫn còn có chỗ cho điều không thể định nghĩa - cho cái đẹp, cho sự im lặng, cho một nỗi xúc động vô cớ. Nếu thơ có sức mạnh, thì đó là sức mạnh của thứ chẳng mang lại lợi nhuận nào, nhưng lại giúp ta không bị phá sản về cảm xúc. Thơ không giúp ta kiếm tiền, không khiến ta thành công, nhưng khiến ta nhớ mình từng có một trái tim biết lắng nghe. Và có lẽ, chỉ thế thôi cũng đủ lý do để chúng ta vẫn tiếp tục viết, tiếp tục đọc, tiếp tục tin.

Xin cảm ơn tất cả những người vẫn yêu thơ, không phải vì thơ “cần” được yêu, mà vì trong tình yêu ấy, con người được trở lại với chính giọng nói sâu thẳm nhất của mình - giọng nói không cần micro, không cần nền tảng, chỉ cần một trái tim còn biết ngân lên trước một vẻ đẹp chưa kịp được diễn giải.

Xin cảm ơn những người vẫn đọc thơ, không phải vì thơ cần được đọc, mà vì trong hành động ấy, con người được trở lại với phần tinh tế nhất của mình - phần biết im lặng, biết mỉm cười, và biết rằng có những điều đẹp nhất trên đời không sinh ra để phục vụ điều gì, ngoài việc làm trái tim rung động.

Nguyễn Tiến Thanh

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm