TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-02 10:30:28
mail facebook google pos stwis
72 lượt xem

Từ những ngọn gió vô hình nơi biên giới, biển đảo, Trần Mai Hường đã gọi dậy lịch sử, ký ức và linh hồn người lính. Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/26, là cuộc đối thoại sâu lắng giữa thơ ca hôm nay và hào khí tiền nhân. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu dưới đây bài báo này, một bài phê bình – cảm thụ thơ công phu, có chiều sâu, không thuộc kiểu điểm sách minh họa vẫn thường gặp.

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Khi đọc tập thơ mới nhất “Những ngọn gió biên cương”, tôi nhận ra một Trần Mai Hường có giọng thơ đa phong cách. Đó là khả năng sáng tạo nhiều thể loại, nhiều cung bậc cảm xúc, đặc biệt thơ tình giàu yếu tố mỹ điệu và độc lạ. Đa phong cách còn thể hiện ở chỗ, Trần Mai Hường quả là một thi sĩ khá đa đoan, giàu năng lượng cả trong thơ và cả trong đời. Trần Mai Hường còn là người nhanh nhạy, nhìn trời, nhìn đời, bằng cảm xúc lạc quan trong cả vui, trong cả buồn, bất cứ cái gì hiện ra trước mắt cũng có thể thành thơ. Tư duy của người làm thơ như thế là cái nghiệp, nhưng là cái nghiệp trời cho, hiếm người có được, đời phải thế và nhất định phải thế!

“Những ngọn gió biên cương”, từ “gió” có trong âm hán Việt là “phong” ý chỉ phong cảnh, phong tục, nó còn chỉ cả nguyên nhân của bệnh tật “gió”. Nhưng bản chất thực của “gió” là mạnh, ẩn dụ sâu sắc, chỉ một chữ “phong” cũng thổi bay đầu cả một nền ngôn ngữ. Trong quân sự đôi khi người ta cũng dùng để chỉ sức mạnh, đi đầu, tiên phong, nơi đầu sóng ngọn gió. “Những ngọn gió biên cương” của Trần Mai Hường còn mang bản năng của một kiếm sĩ, giọng điệu đầy chất hoang tàng của một nhân cách đượm chất sử thi. Chính yếu tố này ban đầu làm ta có chút bất ngờ, nhưng rồi cũng không bất ngờ như đã nói ở trên, vì Trần Mai Hương là một thi sĩ mạnh mẽ, có tố chất đa phong cách.

Và đây, để xem nhà thơ Trần Mai Hường viết có đúng như vậy không?

“Những ngọn gió biên cương” chỉ là cái tên của một bài, nhưng đặt cho toàn bộ tập thơ, cũng có thể nói đây là bài ruột, bài chủ đạo, bởi các bài viết khác đều nói về người chiến sĩ mà Trần Mai Hường đã đi, đã tới và đã gặp. Mượn hình tượng ngọn gió vô hình, nhưng thông qua các vật chủ như cái cây, tiếng sóng, để nhận ra gió. Gió vô hồn, nhưng gió có tiếng nói riêng. Để hiện thực hóa ngọn gió, Trần Mai Hường đã đặt chân tới nhiều vùng miền đất nước, như biên giới Tây Nam, gặp các chiến sĩ quân hàm xanh bộ đội Biên phòng. Những ngọn gió ấy, khi Trần Mai Hường đặt chân tới vùng biên xa xôi phên dậu địa đầu Tổ quốc, trùng trùng núi non, bóng sông dáng núi kỳ vĩ, biên cương như bức tường thành vững bền ngàn năm, từ thời các vua hùng dựng nước. Những ngọn gió ấy, Trần Mai Hường về tận chốn xa miền đất mũi, có cột mốc cột cờ chủ quyền, như thanh gươm cắm sâu vào lòng đất, nơi có người lính ngày đêm canh giữ. Những ngọn gió ấy, tận ngoài biển xa vài trăm hải lý, mênh mông gió ào ạt thổi hòa trong tiếng sóng, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, ở đấy có những người chiến sĩ và những con tàu bảo vệ biển trời bao la Tổ quốc. Được chứng kiến tận mắt những người chiến sĩ, gian lao, vất vả, nhưng vững vàng tay súng bảo vệ biên cương từ xa, làm trái tim thi sĩ bổng bật lên tiếng thơ âm vang hào khí: “Những ngọn gió từ thuở hồng hoang/ Thổi suốt chiều dài lịch sử/ Dấu chân Giao Chỉ của ông cha đã in hình lên từng tất đất/ Đánh dấu mốc biên cương”. Đoạn thơ này nghe phảng phất hồn cốt của tiền nhân đã viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”. Áng thơ ấy tôi tin rằng triệu triệu con tim người việt vẫn nhớ, nhớ để làm gì, để mặc định chúng ta là người Việt Nam, ngay từ khi đất đai sông núi mới tỏ hình hài. Và Trần Mai Hường như hạt bụi chỉ là người nhắc lại. “Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ/ Cha Lạc Long Quân/ Thủy tổ của dân tộc Việt Nam/ Kiên cường anh dũng”. Và gì, như một thông điệp sáng quắc, sắc lẻm, kẻ thù nào muốn nhăm nhe chiếm đoạt đất nước này báo cho mà biết: “Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ Giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ Núi che chở cho người từng hơi thở/ Sông dịu dàng ru khúc mẹ à ơi…”. Nhớ lấy, người Việt sẽ chiến đấu đến cùng, không phải vì vàng bạc châu báu, mà đơn giản chỉ là như vậy, nhẹ nhàng như vậy. Và đấy cũng là động lực để người chiến sĩ hôm nay, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”!

“Những ngọn gió biên cương” còn rất nhiều những bài thơ khác không mang chất tráng ca, hay hồn phách ngôn ngữ sử thi, nhưng là cảm xúc chân thực, thơ hay cả về nội dung lẫn nghệ thuật, khi viết về nỗi đau mất chồng của người vợ liệt sĩ: “Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ Đêm đêm gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/Ngõ vắng im chị ôm chặt con mình…” (Vợ liệt sĩ). Bài khác: “Ngày trở về/ Không còn vòng tay để ôm em/Anh ôm em bằng bầu ngực nóng/Em ôm anh bằng tháng năm đằng đẵng…” (Ngày sau chiến tranh). Một bài nữa xúc động, tinh tế, và lạ khi dùng con chữ thế này là đắt lắm. Còn bài thơ này, Trần Mai Hường viết sau một lần ra Trường Sa: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Se sắt lòng đại dương…” (Những ngọn sóng tỏa hương). Những cảnh ấy hiện ở đất nước này không hiếm, đọc xong mà ta khó cầm được nước mắt.

Bàn sâu thêm một chút về nghệ thuật, nhà thơ Trần Mai Hường đã làm tốt được hai yếu tố căn bản đối với người làm thơ. Thứ nhất, tác giả làm chủ được nội dung. Thứ hai, làm chủ được nghệ thuật, từ đó để mạc định thể loại. Lấy chủ đề “Những ngọn gió biên cương”, chính là Trần Mai Hường đã chọn nội dung viết về người lính (chiến sĩ). Rõ ràng đề tài có trước, tức nội dung đã định. Đã có đề tai, có nội dung, nên ắt làm chủ được hình thức nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật là gì? Là phù hợp với nội dung, chính là thể loại. Còn cảm xúc nghệ thuật, chính là thủ pháp hay phương pháp sáng tạo. Trong hai yếu tố trên, yếu tố thứ hai là quan trọng bậc nhất.

Nghệ thuật làm thơ đòi hỏi sức sáng tạo không ngừng, mà mỗi nhà thơ cần phải luôn làm mới chính mình, đấy là sự độc lạ hay cũng có thể gọi là mới lạ. Nhà thơ viết càng độc lạ càng hay, làm được như vậy mới tạo ra sự khác biệt, mới định danh được tên tuổi. Trong “Những ngọn gió biên cương”, nhà thơ Trần Mai Hường có nhiều bài thơ hay và sáng tạo độc lạ như: “Núi ấp ôm rừng/Biển sâu ôm đảo…” (Những ngọn gió biên cương”). Mới nghe nó có gì hơi nghịch, vì rừng ôm núi mới phải, tương tự biển sâu ôm đảo? Hay đảo ôm biển? Phi lý không? Không, vì đấy mới là nghệ thuật! Lấy cái vững chắc, che chở cái mong manh thật tài: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từng sâu thẳm/Se thắt lòng đại dương…”. Tôi cho rằng những câu thơ ấy đã vượt qua hiện thực, nhân cách hóa tài tình, nỗi đau thắt lại, đặc quánh tầng buồn, giỏi giỏi quá, trong bài (Những ngọn sóng tỏa hương). Viết về thơ tình, dùng thể loại 5 chữ, khổ 4 câu do hạn chế về lượng ngôn từ, nên thơ hay là rất khó. Nhưng đây, Trần Mai Hường viết vẫn hút: “Pha mịn thêm vào sóng/Đón mặt trời trổ bông/ Thôi miên chùm hoa nắng/ Gió mây như lên đồng…”, tuyệt phải không? . Một đoạn khác nữa: “Hơn nhiều lần em hiểu/ Đò dọc đợi đò ngang/Chỉ phút giây khoảnh khắc/Mà biết mình đa đoan…”. Bạn đọc có nhận ra nó lạ ở những câu thơ này chưa? “đò dọc đợi đò ngang”. Hai con đò đi hai chiều, chẳng thực tế chút nào? Nhưng lại hợp với tình tiết. Rồi nữa: “Vẫn nhắm hờ mắt đợi/Dù biết rằng chân mây/Là nơi trời gặp biển/Giới hạn ơi đọa đày” trong (giới hạn). Đúng là yêu phải như thế, dù có thể được, có thể không, nhưng ngôn ngữ yêu đâu cần nhiều lời, tinh tế, đôi khi đọa đầy nhau mới đã.

Ở loại thể thơ tự do, tạm gọi là thơ ít vần, nhiều chữ, Trần Mai Hương cũng khá thành công, bởi nó cho phép nhà thơ diễn tả được hết cảm xúc, “Con ơi đất nước hòa bình, máu đã xanh cây/nhưng đau mẹ còn nguyên, nỗi đau mất con thắt ruột/ Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió/Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu…”, (Ước mong của mẹ). Bài khác: “Không biết nói gì trước cỏ xanh thành cổ - tôi lặng tìm trong thương tiếc tiếng bom xưa – trận chiến kéo dài 81 ngày đêm – bao khốc liệt còn nằm sâu lòng đất…” (Cỏ xanh Thành Cổ).

Viết về người lính phần nhiều các nhà thơ, đặc biệt các nhà thơ nữ dễ mềm lòng xót xa trước những đau thương, mất mát, do chiến tranh gây ra, nên phương pháp nghệ thuật ký ức, hồi tưởng là hiệu quả nhất. Trần Mai Hường cũng vậy, thế nhưng tinh ý một chút, trong tập thơ mới này gần như nhà thơ không dùng thể loại thơ lục bát, dù lục bát dễ làm, điều ấy cũng là lạ? Tuy nhiên làm thơ lục bát dễ, nhưng hay thật là rất khó! Có lẽ thế nhà thơ Trần Mai Hường đã né? Dù vậy, “Những ngọn gió biên cương” vẫn đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Tập thơ ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm, giải phóng miền Nam thông nhất đất nước. Nhà thơ Trần Mai Hương xem như một món qùa đẹp, nhân văn, lấy ngôn ngữ tiền nhân làm điểm nhấn, gửi tặng những người chiến sĩ QĐNDVN anh hùng thật vô cùng ý nghĩa.

TP. HCM, tháng 12/2025

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số 195, ra ngày 29/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm