TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-02 10:30:28
mail facebook google pos stwis
792 lượt xem

Từ những ngọn gió vô hình nơi biên giới, biển đảo, Trần Mai Hường đã gọi dậy lịch sử, ký ức và linh hồn người lính. Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/26, là cuộc đối thoại sâu lắng giữa thơ ca hôm nay và hào khí tiền nhân. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu dưới đây bài báo này, một bài phê bình – cảm thụ thơ công phu, có chiều sâu, không thuộc kiểu điểm sách minh họa vẫn thường gặp.

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Khi đọc tập thơ mới nhất “Những ngọn gió biên cương”, tôi nhận ra một Trần Mai Hường có giọng thơ đa phong cách. Đó là khả năng sáng tạo nhiều thể loại, nhiều cung bậc cảm xúc, đặc biệt thơ tình giàu yếu tố mỹ điệu và độc lạ. Đa phong cách còn thể hiện ở chỗ, Trần Mai Hường quả là một thi sĩ khá đa đoan, giàu năng lượng cả trong thơ và cả trong đời. Trần Mai Hường còn là người nhanh nhạy, nhìn trời, nhìn đời, bằng cảm xúc lạc quan trong cả vui, trong cả buồn, bất cứ cái gì hiện ra trước mắt cũng có thể thành thơ. Tư duy của người làm thơ như thế là cái nghiệp, nhưng là cái nghiệp trời cho, hiếm người có được, đời phải thế và nhất định phải thế!

“Những ngọn gió biên cương”, từ “gió” có trong âm hán Việt là “phong” ý chỉ phong cảnh, phong tục, nó còn chỉ cả nguyên nhân của bệnh tật “gió”. Nhưng bản chất thực của “gió” là mạnh, ẩn dụ sâu sắc, chỉ một chữ “phong” cũng thổi bay đầu cả một nền ngôn ngữ. Trong quân sự đôi khi người ta cũng dùng để chỉ sức mạnh, đi đầu, tiên phong, nơi đầu sóng ngọn gió. “Những ngọn gió biên cương” của Trần Mai Hường còn mang bản năng của một kiếm sĩ, giọng điệu đầy chất hoang tàng của một nhân cách đượm chất sử thi. Chính yếu tố này ban đầu làm ta có chút bất ngờ, nhưng rồi cũng không bất ngờ như đã nói ở trên, vì Trần Mai Hương là một thi sĩ mạnh mẽ, có tố chất đa phong cách.

Và đây, để xem nhà thơ Trần Mai Hường viết có đúng như vậy không?

“Những ngọn gió biên cương” chỉ là cái tên của một bài, nhưng đặt cho toàn bộ tập thơ, cũng có thể nói đây là bài ruột, bài chủ đạo, bởi các bài viết khác đều nói về người chiến sĩ mà Trần Mai Hường đã đi, đã tới và đã gặp. Mượn hình tượng ngọn gió vô hình, nhưng thông qua các vật chủ như cái cây, tiếng sóng, để nhận ra gió. Gió vô hồn, nhưng gió có tiếng nói riêng. Để hiện thực hóa ngọn gió, Trần Mai Hường đã đặt chân tới nhiều vùng miền đất nước, như biên giới Tây Nam, gặp các chiến sĩ quân hàm xanh bộ đội Biên phòng. Những ngọn gió ấy, khi Trần Mai Hường đặt chân tới vùng biên xa xôi phên dậu địa đầu Tổ quốc, trùng trùng núi non, bóng sông dáng núi kỳ vĩ, biên cương như bức tường thành vững bền ngàn năm, từ thời các vua hùng dựng nước. Những ngọn gió ấy, Trần Mai Hường về tận chốn xa miền đất mũi, có cột mốc cột cờ chủ quyền, như thanh gươm cắm sâu vào lòng đất, nơi có người lính ngày đêm canh giữ. Những ngọn gió ấy, tận ngoài biển xa vài trăm hải lý, mênh mông gió ào ạt thổi hòa trong tiếng sóng, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, ở đấy có những người chiến sĩ và những con tàu bảo vệ biển trời bao la Tổ quốc. Được chứng kiến tận mắt những người chiến sĩ, gian lao, vất vả, nhưng vững vàng tay súng bảo vệ biên cương từ xa, làm trái tim thi sĩ bổng bật lên tiếng thơ âm vang hào khí: “Những ngọn gió từ thuở hồng hoang/ Thổi suốt chiều dài lịch sử/ Dấu chân Giao Chỉ của ông cha đã in hình lên từng tất đất/ Đánh dấu mốc biên cương”. Đoạn thơ này nghe phảng phất hồn cốt của tiền nhân đã viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”. Áng thơ ấy tôi tin rằng triệu triệu con tim người việt vẫn nhớ, nhớ để làm gì, để mặc định chúng ta là người Việt Nam, ngay từ khi đất đai sông núi mới tỏ hình hài. Và Trần Mai Hường như hạt bụi chỉ là người nhắc lại. “Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ/ Cha Lạc Long Quân/ Thủy tổ của dân tộc Việt Nam/ Kiên cường anh dũng”. Và gì, như một thông điệp sáng quắc, sắc lẻm, kẻ thù nào muốn nhăm nhe chiếm đoạt đất nước này báo cho mà biết: “Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ Giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ Núi che chở cho người từng hơi thở/ Sông dịu dàng ru khúc mẹ à ơi…”. Nhớ lấy, người Việt sẽ chiến đấu đến cùng, không phải vì vàng bạc châu báu, mà đơn giản chỉ là như vậy, nhẹ nhàng như vậy. Và đấy cũng là động lực để người chiến sĩ hôm nay, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”!

“Những ngọn gió biên cương” còn rất nhiều những bài thơ khác không mang chất tráng ca, hay hồn phách ngôn ngữ sử thi, nhưng là cảm xúc chân thực, thơ hay cả về nội dung lẫn nghệ thuật, khi viết về nỗi đau mất chồng của người vợ liệt sĩ: “Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ Đêm đêm gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/Ngõ vắng im chị ôm chặt con mình…” (Vợ liệt sĩ). Bài khác: “Ngày trở về/ Không còn vòng tay để ôm em/Anh ôm em bằng bầu ngực nóng/Em ôm anh bằng tháng năm đằng đẵng…” (Ngày sau chiến tranh). Một bài nữa xúc động, tinh tế, và lạ khi dùng con chữ thế này là đắt lắm. Còn bài thơ này, Trần Mai Hường viết sau một lần ra Trường Sa: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Se sắt lòng đại dương…” (Những ngọn sóng tỏa hương). Những cảnh ấy hiện ở đất nước này không hiếm, đọc xong mà ta khó cầm được nước mắt.

Bàn sâu thêm một chút về nghệ thuật, nhà thơ Trần Mai Hường đã làm tốt được hai yếu tố căn bản đối với người làm thơ. Thứ nhất, tác giả làm chủ được nội dung. Thứ hai, làm chủ được nghệ thuật, từ đó để mạc định thể loại. Lấy chủ đề “Những ngọn gió biên cương”, chính là Trần Mai Hường đã chọn nội dung viết về người lính (chiến sĩ). Rõ ràng đề tài có trước, tức nội dung đã định. Đã có đề tai, có nội dung, nên ắt làm chủ được hình thức nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật là gì? Là phù hợp với nội dung, chính là thể loại. Còn cảm xúc nghệ thuật, chính là thủ pháp hay phương pháp sáng tạo. Trong hai yếu tố trên, yếu tố thứ hai là quan trọng bậc nhất.

Nghệ thuật làm thơ đòi hỏi sức sáng tạo không ngừng, mà mỗi nhà thơ cần phải luôn làm mới chính mình, đấy là sự độc lạ hay cũng có thể gọi là mới lạ. Nhà thơ viết càng độc lạ càng hay, làm được như vậy mới tạo ra sự khác biệt, mới định danh được tên tuổi. Trong “Những ngọn gió biên cương”, nhà thơ Trần Mai Hường có nhiều bài thơ hay và sáng tạo độc lạ như: “Núi ấp ôm rừng/Biển sâu ôm đảo…” (Những ngọn gió biên cương”). Mới nghe nó có gì hơi nghịch, vì rừng ôm núi mới phải, tương tự biển sâu ôm đảo? Hay đảo ôm biển? Phi lý không? Không, vì đấy mới là nghệ thuật! Lấy cái vững chắc, che chở cái mong manh thật tài: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từng sâu thẳm/Se thắt lòng đại dương…”. Tôi cho rằng những câu thơ ấy đã vượt qua hiện thực, nhân cách hóa tài tình, nỗi đau thắt lại, đặc quánh tầng buồn, giỏi giỏi quá, trong bài (Những ngọn sóng tỏa hương). Viết về thơ tình, dùng thể loại 5 chữ, khổ 4 câu do hạn chế về lượng ngôn từ, nên thơ hay là rất khó. Nhưng đây, Trần Mai Hường viết vẫn hút: “Pha mịn thêm vào sóng/Đón mặt trời trổ bông/ Thôi miên chùm hoa nắng/ Gió mây như lên đồng…”, tuyệt phải không? . Một đoạn khác nữa: “Hơn nhiều lần em hiểu/ Đò dọc đợi đò ngang/Chỉ phút giây khoảnh khắc/Mà biết mình đa đoan…”. Bạn đọc có nhận ra nó lạ ở những câu thơ này chưa? “đò dọc đợi đò ngang”. Hai con đò đi hai chiều, chẳng thực tế chút nào? Nhưng lại hợp với tình tiết. Rồi nữa: “Vẫn nhắm hờ mắt đợi/Dù biết rằng chân mây/Là nơi trời gặp biển/Giới hạn ơi đọa đày” trong (giới hạn). Đúng là yêu phải như thế, dù có thể được, có thể không, nhưng ngôn ngữ yêu đâu cần nhiều lời, tinh tế, đôi khi đọa đầy nhau mới đã.

Ở loại thể thơ tự do, tạm gọi là thơ ít vần, nhiều chữ, Trần Mai Hương cũng khá thành công, bởi nó cho phép nhà thơ diễn tả được hết cảm xúc, “Con ơi đất nước hòa bình, máu đã xanh cây/nhưng đau mẹ còn nguyên, nỗi đau mất con thắt ruột/ Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió/Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu…”, (Ước mong của mẹ). Bài khác: “Không biết nói gì trước cỏ xanh thành cổ - tôi lặng tìm trong thương tiếc tiếng bom xưa – trận chiến kéo dài 81 ngày đêm – bao khốc liệt còn nằm sâu lòng đất…” (Cỏ xanh Thành Cổ).

Viết về người lính phần nhiều các nhà thơ, đặc biệt các nhà thơ nữ dễ mềm lòng xót xa trước những đau thương, mất mát, do chiến tranh gây ra, nên phương pháp nghệ thuật ký ức, hồi tưởng là hiệu quả nhất. Trần Mai Hường cũng vậy, thế nhưng tinh ý một chút, trong tập thơ mới này gần như nhà thơ không dùng thể loại thơ lục bát, dù lục bát dễ làm, điều ấy cũng là lạ? Tuy nhiên làm thơ lục bát dễ, nhưng hay thật là rất khó! Có lẽ thế nhà thơ Trần Mai Hường đã né? Dù vậy, “Những ngọn gió biên cương” vẫn đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Tập thơ ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm, giải phóng miền Nam thông nhất đất nước. Nhà thơ Trần Mai Hương xem như một món qùa đẹp, nhân văn, lấy ngôn ngữ tiền nhân làm điểm nhấn, gửi tặng những người chiến sĩ QĐNDVN anh hùng thật vô cùng ý nghĩa.

TP. HCM, tháng 12/2025

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số 195, ra ngày 29/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm