TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-02 10:30:28
mail facebook google pos stwis
340 lượt xem

Từ những ngọn gió vô hình nơi biên giới, biển đảo, Trần Mai Hường đã gọi dậy lịch sử, ký ức và linh hồn người lính. Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/26, là cuộc đối thoại sâu lắng giữa thơ ca hôm nay và hào khí tiền nhân. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu dưới đây bài báo này, một bài phê bình – cảm thụ thơ công phu, có chiều sâu, không thuộc kiểu điểm sách minh họa vẫn thường gặp.

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Khi đọc tập thơ mới nhất “Những ngọn gió biên cương”, tôi nhận ra một Trần Mai Hường có giọng thơ đa phong cách. Đó là khả năng sáng tạo nhiều thể loại, nhiều cung bậc cảm xúc, đặc biệt thơ tình giàu yếu tố mỹ điệu và độc lạ. Đa phong cách còn thể hiện ở chỗ, Trần Mai Hường quả là một thi sĩ khá đa đoan, giàu năng lượng cả trong thơ và cả trong đời. Trần Mai Hường còn là người nhanh nhạy, nhìn trời, nhìn đời, bằng cảm xúc lạc quan trong cả vui, trong cả buồn, bất cứ cái gì hiện ra trước mắt cũng có thể thành thơ. Tư duy của người làm thơ như thế là cái nghiệp, nhưng là cái nghiệp trời cho, hiếm người có được, đời phải thế và nhất định phải thế!

“Những ngọn gió biên cương”, từ “gió” có trong âm hán Việt là “phong” ý chỉ phong cảnh, phong tục, nó còn chỉ cả nguyên nhân của bệnh tật “gió”. Nhưng bản chất thực của “gió” là mạnh, ẩn dụ sâu sắc, chỉ một chữ “phong” cũng thổi bay đầu cả một nền ngôn ngữ. Trong quân sự đôi khi người ta cũng dùng để chỉ sức mạnh, đi đầu, tiên phong, nơi đầu sóng ngọn gió. “Những ngọn gió biên cương” của Trần Mai Hường còn mang bản năng của một kiếm sĩ, giọng điệu đầy chất hoang tàng của một nhân cách đượm chất sử thi. Chính yếu tố này ban đầu làm ta có chút bất ngờ, nhưng rồi cũng không bất ngờ như đã nói ở trên, vì Trần Mai Hương là một thi sĩ mạnh mẽ, có tố chất đa phong cách.

Và đây, để xem nhà thơ Trần Mai Hường viết có đúng như vậy không?

“Những ngọn gió biên cương” chỉ là cái tên của một bài, nhưng đặt cho toàn bộ tập thơ, cũng có thể nói đây là bài ruột, bài chủ đạo, bởi các bài viết khác đều nói về người chiến sĩ mà Trần Mai Hường đã đi, đã tới và đã gặp. Mượn hình tượng ngọn gió vô hình, nhưng thông qua các vật chủ như cái cây, tiếng sóng, để nhận ra gió. Gió vô hồn, nhưng gió có tiếng nói riêng. Để hiện thực hóa ngọn gió, Trần Mai Hường đã đặt chân tới nhiều vùng miền đất nước, như biên giới Tây Nam, gặp các chiến sĩ quân hàm xanh bộ đội Biên phòng. Những ngọn gió ấy, khi Trần Mai Hường đặt chân tới vùng biên xa xôi phên dậu địa đầu Tổ quốc, trùng trùng núi non, bóng sông dáng núi kỳ vĩ, biên cương như bức tường thành vững bền ngàn năm, từ thời các vua hùng dựng nước. Những ngọn gió ấy, Trần Mai Hường về tận chốn xa miền đất mũi, có cột mốc cột cờ chủ quyền, như thanh gươm cắm sâu vào lòng đất, nơi có người lính ngày đêm canh giữ. Những ngọn gió ấy, tận ngoài biển xa vài trăm hải lý, mênh mông gió ào ạt thổi hòa trong tiếng sóng, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, ở đấy có những người chiến sĩ và những con tàu bảo vệ biển trời bao la Tổ quốc. Được chứng kiến tận mắt những người chiến sĩ, gian lao, vất vả, nhưng vững vàng tay súng bảo vệ biên cương từ xa, làm trái tim thi sĩ bổng bật lên tiếng thơ âm vang hào khí: “Những ngọn gió từ thuở hồng hoang/ Thổi suốt chiều dài lịch sử/ Dấu chân Giao Chỉ của ông cha đã in hình lên từng tất đất/ Đánh dấu mốc biên cương”. Đoạn thơ này nghe phảng phất hồn cốt của tiền nhân đã viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”. Áng thơ ấy tôi tin rằng triệu triệu con tim người việt vẫn nhớ, nhớ để làm gì, để mặc định chúng ta là người Việt Nam, ngay từ khi đất đai sông núi mới tỏ hình hài. Và Trần Mai Hường như hạt bụi chỉ là người nhắc lại. “Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ/ Cha Lạc Long Quân/ Thủy tổ của dân tộc Việt Nam/ Kiên cường anh dũng”. Và gì, như một thông điệp sáng quắc, sắc lẻm, kẻ thù nào muốn nhăm nhe chiếm đoạt đất nước này báo cho mà biết: “Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ Giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ Núi che chở cho người từng hơi thở/ Sông dịu dàng ru khúc mẹ à ơi…”. Nhớ lấy, người Việt sẽ chiến đấu đến cùng, không phải vì vàng bạc châu báu, mà đơn giản chỉ là như vậy, nhẹ nhàng như vậy. Và đấy cũng là động lực để người chiến sĩ hôm nay, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”!

“Những ngọn gió biên cương” còn rất nhiều những bài thơ khác không mang chất tráng ca, hay hồn phách ngôn ngữ sử thi, nhưng là cảm xúc chân thực, thơ hay cả về nội dung lẫn nghệ thuật, khi viết về nỗi đau mất chồng của người vợ liệt sĩ: “Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ Đêm đêm gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/Ngõ vắng im chị ôm chặt con mình…” (Vợ liệt sĩ). Bài khác: “Ngày trở về/ Không còn vòng tay để ôm em/Anh ôm em bằng bầu ngực nóng/Em ôm anh bằng tháng năm đằng đẵng…” (Ngày sau chiến tranh). Một bài nữa xúc động, tinh tế, và lạ khi dùng con chữ thế này là đắt lắm. Còn bài thơ này, Trần Mai Hường viết sau một lần ra Trường Sa: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Se sắt lòng đại dương…” (Những ngọn sóng tỏa hương). Những cảnh ấy hiện ở đất nước này không hiếm, đọc xong mà ta khó cầm được nước mắt.

Bàn sâu thêm một chút về nghệ thuật, nhà thơ Trần Mai Hường đã làm tốt được hai yếu tố căn bản đối với người làm thơ. Thứ nhất, tác giả làm chủ được nội dung. Thứ hai, làm chủ được nghệ thuật, từ đó để mạc định thể loại. Lấy chủ đề “Những ngọn gió biên cương”, chính là Trần Mai Hường đã chọn nội dung viết về người lính (chiến sĩ). Rõ ràng đề tài có trước, tức nội dung đã định. Đã có đề tai, có nội dung, nên ắt làm chủ được hình thức nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật là gì? Là phù hợp với nội dung, chính là thể loại. Còn cảm xúc nghệ thuật, chính là thủ pháp hay phương pháp sáng tạo. Trong hai yếu tố trên, yếu tố thứ hai là quan trọng bậc nhất.

Nghệ thuật làm thơ đòi hỏi sức sáng tạo không ngừng, mà mỗi nhà thơ cần phải luôn làm mới chính mình, đấy là sự độc lạ hay cũng có thể gọi là mới lạ. Nhà thơ viết càng độc lạ càng hay, làm được như vậy mới tạo ra sự khác biệt, mới định danh được tên tuổi. Trong “Những ngọn gió biên cương”, nhà thơ Trần Mai Hường có nhiều bài thơ hay và sáng tạo độc lạ như: “Núi ấp ôm rừng/Biển sâu ôm đảo…” (Những ngọn gió biên cương”). Mới nghe nó có gì hơi nghịch, vì rừng ôm núi mới phải, tương tự biển sâu ôm đảo? Hay đảo ôm biển? Phi lý không? Không, vì đấy mới là nghệ thuật! Lấy cái vững chắc, che chở cái mong manh thật tài: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từng sâu thẳm/Se thắt lòng đại dương…”. Tôi cho rằng những câu thơ ấy đã vượt qua hiện thực, nhân cách hóa tài tình, nỗi đau thắt lại, đặc quánh tầng buồn, giỏi giỏi quá, trong bài (Những ngọn sóng tỏa hương). Viết về thơ tình, dùng thể loại 5 chữ, khổ 4 câu do hạn chế về lượng ngôn từ, nên thơ hay là rất khó. Nhưng đây, Trần Mai Hường viết vẫn hút: “Pha mịn thêm vào sóng/Đón mặt trời trổ bông/ Thôi miên chùm hoa nắng/ Gió mây như lên đồng…”, tuyệt phải không? . Một đoạn khác nữa: “Hơn nhiều lần em hiểu/ Đò dọc đợi đò ngang/Chỉ phút giây khoảnh khắc/Mà biết mình đa đoan…”. Bạn đọc có nhận ra nó lạ ở những câu thơ này chưa? “đò dọc đợi đò ngang”. Hai con đò đi hai chiều, chẳng thực tế chút nào? Nhưng lại hợp với tình tiết. Rồi nữa: “Vẫn nhắm hờ mắt đợi/Dù biết rằng chân mây/Là nơi trời gặp biển/Giới hạn ơi đọa đày” trong (giới hạn). Đúng là yêu phải như thế, dù có thể được, có thể không, nhưng ngôn ngữ yêu đâu cần nhiều lời, tinh tế, đôi khi đọa đầy nhau mới đã.

Ở loại thể thơ tự do, tạm gọi là thơ ít vần, nhiều chữ, Trần Mai Hương cũng khá thành công, bởi nó cho phép nhà thơ diễn tả được hết cảm xúc, “Con ơi đất nước hòa bình, máu đã xanh cây/nhưng đau mẹ còn nguyên, nỗi đau mất con thắt ruột/ Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió/Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu…”, (Ước mong của mẹ). Bài khác: “Không biết nói gì trước cỏ xanh thành cổ - tôi lặng tìm trong thương tiếc tiếng bom xưa – trận chiến kéo dài 81 ngày đêm – bao khốc liệt còn nằm sâu lòng đất…” (Cỏ xanh Thành Cổ).

Viết về người lính phần nhiều các nhà thơ, đặc biệt các nhà thơ nữ dễ mềm lòng xót xa trước những đau thương, mất mát, do chiến tranh gây ra, nên phương pháp nghệ thuật ký ức, hồi tưởng là hiệu quả nhất. Trần Mai Hường cũng vậy, thế nhưng tinh ý một chút, trong tập thơ mới này gần như nhà thơ không dùng thể loại thơ lục bát, dù lục bát dễ làm, điều ấy cũng là lạ? Tuy nhiên làm thơ lục bát dễ, nhưng hay thật là rất khó! Có lẽ thế nhà thơ Trần Mai Hường đã né? Dù vậy, “Những ngọn gió biên cương” vẫn đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Tập thơ ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm, giải phóng miền Nam thông nhất đất nước. Nhà thơ Trần Mai Hương xem như một món qùa đẹp, nhân văn, lấy ngôn ngữ tiền nhân làm điểm nhấn, gửi tặng những người chiến sĩ QĐNDVN anh hùng thật vô cùng ý nghĩa.

TP. HCM, tháng 12/2025

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số 195, ra ngày 29/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm