TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-02 10:30:28
mail facebook google pos stwis
472 lượt xem

Từ những ngọn gió vô hình nơi biên giới, biển đảo, Trần Mai Hường đã gọi dậy lịch sử, ký ức và linh hồn người lính. Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/26, là cuộc đối thoại sâu lắng giữa thơ ca hôm nay và hào khí tiền nhân. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu dưới đây bài báo này, một bài phê bình – cảm thụ thơ công phu, có chiều sâu, không thuộc kiểu điểm sách minh họa vẫn thường gặp.

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Khi đọc tập thơ mới nhất “Những ngọn gió biên cương”, tôi nhận ra một Trần Mai Hường có giọng thơ đa phong cách. Đó là khả năng sáng tạo nhiều thể loại, nhiều cung bậc cảm xúc, đặc biệt thơ tình giàu yếu tố mỹ điệu và độc lạ. Đa phong cách còn thể hiện ở chỗ, Trần Mai Hường quả là một thi sĩ khá đa đoan, giàu năng lượng cả trong thơ và cả trong đời. Trần Mai Hường còn là người nhanh nhạy, nhìn trời, nhìn đời, bằng cảm xúc lạc quan trong cả vui, trong cả buồn, bất cứ cái gì hiện ra trước mắt cũng có thể thành thơ. Tư duy của người làm thơ như thế là cái nghiệp, nhưng là cái nghiệp trời cho, hiếm người có được, đời phải thế và nhất định phải thế!

“Những ngọn gió biên cương”, từ “gió” có trong âm hán Việt là “phong” ý chỉ phong cảnh, phong tục, nó còn chỉ cả nguyên nhân của bệnh tật “gió”. Nhưng bản chất thực của “gió” là mạnh, ẩn dụ sâu sắc, chỉ một chữ “phong” cũng thổi bay đầu cả một nền ngôn ngữ. Trong quân sự đôi khi người ta cũng dùng để chỉ sức mạnh, đi đầu, tiên phong, nơi đầu sóng ngọn gió. “Những ngọn gió biên cương” của Trần Mai Hường còn mang bản năng của một kiếm sĩ, giọng điệu đầy chất hoang tàng của một nhân cách đượm chất sử thi. Chính yếu tố này ban đầu làm ta có chút bất ngờ, nhưng rồi cũng không bất ngờ như đã nói ở trên, vì Trần Mai Hương là một thi sĩ mạnh mẽ, có tố chất đa phong cách.

Và đây, để xem nhà thơ Trần Mai Hường viết có đúng như vậy không?

“Những ngọn gió biên cương” chỉ là cái tên của một bài, nhưng đặt cho toàn bộ tập thơ, cũng có thể nói đây là bài ruột, bài chủ đạo, bởi các bài viết khác đều nói về người chiến sĩ mà Trần Mai Hường đã đi, đã tới và đã gặp. Mượn hình tượng ngọn gió vô hình, nhưng thông qua các vật chủ như cái cây, tiếng sóng, để nhận ra gió. Gió vô hồn, nhưng gió có tiếng nói riêng. Để hiện thực hóa ngọn gió, Trần Mai Hường đã đặt chân tới nhiều vùng miền đất nước, như biên giới Tây Nam, gặp các chiến sĩ quân hàm xanh bộ đội Biên phòng. Những ngọn gió ấy, khi Trần Mai Hường đặt chân tới vùng biên xa xôi phên dậu địa đầu Tổ quốc, trùng trùng núi non, bóng sông dáng núi kỳ vĩ, biên cương như bức tường thành vững bền ngàn năm, từ thời các vua hùng dựng nước. Những ngọn gió ấy, Trần Mai Hường về tận chốn xa miền đất mũi, có cột mốc cột cờ chủ quyền, như thanh gươm cắm sâu vào lòng đất, nơi có người lính ngày đêm canh giữ. Những ngọn gió ấy, tận ngoài biển xa vài trăm hải lý, mênh mông gió ào ạt thổi hòa trong tiếng sóng, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, ở đấy có những người chiến sĩ và những con tàu bảo vệ biển trời bao la Tổ quốc. Được chứng kiến tận mắt những người chiến sĩ, gian lao, vất vả, nhưng vững vàng tay súng bảo vệ biên cương từ xa, làm trái tim thi sĩ bổng bật lên tiếng thơ âm vang hào khí: “Những ngọn gió từ thuở hồng hoang/ Thổi suốt chiều dài lịch sử/ Dấu chân Giao Chỉ của ông cha đã in hình lên từng tất đất/ Đánh dấu mốc biên cương”. Đoạn thơ này nghe phảng phất hồn cốt của tiền nhân đã viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”. Áng thơ ấy tôi tin rằng triệu triệu con tim người việt vẫn nhớ, nhớ để làm gì, để mặc định chúng ta là người Việt Nam, ngay từ khi đất đai sông núi mới tỏ hình hài. Và Trần Mai Hường như hạt bụi chỉ là người nhắc lại. “Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ/ Cha Lạc Long Quân/ Thủy tổ của dân tộc Việt Nam/ Kiên cường anh dũng”. Và gì, như một thông điệp sáng quắc, sắc lẻm, kẻ thù nào muốn nhăm nhe chiếm đoạt đất nước này báo cho mà biết: “Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ Giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ Núi che chở cho người từng hơi thở/ Sông dịu dàng ru khúc mẹ à ơi…”. Nhớ lấy, người Việt sẽ chiến đấu đến cùng, không phải vì vàng bạc châu báu, mà đơn giản chỉ là như vậy, nhẹ nhàng như vậy. Và đấy cũng là động lực để người chiến sĩ hôm nay, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”!

“Những ngọn gió biên cương” còn rất nhiều những bài thơ khác không mang chất tráng ca, hay hồn phách ngôn ngữ sử thi, nhưng là cảm xúc chân thực, thơ hay cả về nội dung lẫn nghệ thuật, khi viết về nỗi đau mất chồng của người vợ liệt sĩ: “Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ Đêm đêm gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/Ngõ vắng im chị ôm chặt con mình…” (Vợ liệt sĩ). Bài khác: “Ngày trở về/ Không còn vòng tay để ôm em/Anh ôm em bằng bầu ngực nóng/Em ôm anh bằng tháng năm đằng đẵng…” (Ngày sau chiến tranh). Một bài nữa xúc động, tinh tế, và lạ khi dùng con chữ thế này là đắt lắm. Còn bài thơ này, Trần Mai Hường viết sau một lần ra Trường Sa: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Se sắt lòng đại dương…” (Những ngọn sóng tỏa hương). Những cảnh ấy hiện ở đất nước này không hiếm, đọc xong mà ta khó cầm được nước mắt.

Bàn sâu thêm một chút về nghệ thuật, nhà thơ Trần Mai Hường đã làm tốt được hai yếu tố căn bản đối với người làm thơ. Thứ nhất, tác giả làm chủ được nội dung. Thứ hai, làm chủ được nghệ thuật, từ đó để mạc định thể loại. Lấy chủ đề “Những ngọn gió biên cương”, chính là Trần Mai Hường đã chọn nội dung viết về người lính (chiến sĩ). Rõ ràng đề tài có trước, tức nội dung đã định. Đã có đề tai, có nội dung, nên ắt làm chủ được hình thức nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật là gì? Là phù hợp với nội dung, chính là thể loại. Còn cảm xúc nghệ thuật, chính là thủ pháp hay phương pháp sáng tạo. Trong hai yếu tố trên, yếu tố thứ hai là quan trọng bậc nhất.

Nghệ thuật làm thơ đòi hỏi sức sáng tạo không ngừng, mà mỗi nhà thơ cần phải luôn làm mới chính mình, đấy là sự độc lạ hay cũng có thể gọi là mới lạ. Nhà thơ viết càng độc lạ càng hay, làm được như vậy mới tạo ra sự khác biệt, mới định danh được tên tuổi. Trong “Những ngọn gió biên cương”, nhà thơ Trần Mai Hường có nhiều bài thơ hay và sáng tạo độc lạ như: “Núi ấp ôm rừng/Biển sâu ôm đảo…” (Những ngọn gió biên cương”). Mới nghe nó có gì hơi nghịch, vì rừng ôm núi mới phải, tương tự biển sâu ôm đảo? Hay đảo ôm biển? Phi lý không? Không, vì đấy mới là nghệ thuật! Lấy cái vững chắc, che chở cái mong manh thật tài: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từng sâu thẳm/Se thắt lòng đại dương…”. Tôi cho rằng những câu thơ ấy đã vượt qua hiện thực, nhân cách hóa tài tình, nỗi đau thắt lại, đặc quánh tầng buồn, giỏi giỏi quá, trong bài (Những ngọn sóng tỏa hương). Viết về thơ tình, dùng thể loại 5 chữ, khổ 4 câu do hạn chế về lượng ngôn từ, nên thơ hay là rất khó. Nhưng đây, Trần Mai Hường viết vẫn hút: “Pha mịn thêm vào sóng/Đón mặt trời trổ bông/ Thôi miên chùm hoa nắng/ Gió mây như lên đồng…”, tuyệt phải không? . Một đoạn khác nữa: “Hơn nhiều lần em hiểu/ Đò dọc đợi đò ngang/Chỉ phút giây khoảnh khắc/Mà biết mình đa đoan…”. Bạn đọc có nhận ra nó lạ ở những câu thơ này chưa? “đò dọc đợi đò ngang”. Hai con đò đi hai chiều, chẳng thực tế chút nào? Nhưng lại hợp với tình tiết. Rồi nữa: “Vẫn nhắm hờ mắt đợi/Dù biết rằng chân mây/Là nơi trời gặp biển/Giới hạn ơi đọa đày” trong (giới hạn). Đúng là yêu phải như thế, dù có thể được, có thể không, nhưng ngôn ngữ yêu đâu cần nhiều lời, tinh tế, đôi khi đọa đầy nhau mới đã.

Ở loại thể thơ tự do, tạm gọi là thơ ít vần, nhiều chữ, Trần Mai Hương cũng khá thành công, bởi nó cho phép nhà thơ diễn tả được hết cảm xúc, “Con ơi đất nước hòa bình, máu đã xanh cây/nhưng đau mẹ còn nguyên, nỗi đau mất con thắt ruột/ Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió/Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu…”, (Ước mong của mẹ). Bài khác: “Không biết nói gì trước cỏ xanh thành cổ - tôi lặng tìm trong thương tiếc tiếng bom xưa – trận chiến kéo dài 81 ngày đêm – bao khốc liệt còn nằm sâu lòng đất…” (Cỏ xanh Thành Cổ).

Viết về người lính phần nhiều các nhà thơ, đặc biệt các nhà thơ nữ dễ mềm lòng xót xa trước những đau thương, mất mát, do chiến tranh gây ra, nên phương pháp nghệ thuật ký ức, hồi tưởng là hiệu quả nhất. Trần Mai Hường cũng vậy, thế nhưng tinh ý một chút, trong tập thơ mới này gần như nhà thơ không dùng thể loại thơ lục bát, dù lục bát dễ làm, điều ấy cũng là lạ? Tuy nhiên làm thơ lục bát dễ, nhưng hay thật là rất khó! Có lẽ thế nhà thơ Trần Mai Hường đã né? Dù vậy, “Những ngọn gió biên cương” vẫn đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Tập thơ ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm, giải phóng miền Nam thông nhất đất nước. Nhà thơ Trần Mai Hương xem như một món qùa đẹp, nhân văn, lấy ngôn ngữ tiền nhân làm điểm nhấn, gửi tặng những người chiến sĩ QĐNDVN anh hùng thật vô cùng ý nghĩa.

TP. HCM, tháng 12/2025

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số 195, ra ngày 29/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm