TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-02 10:30:28
mail facebook google pos stwis
650 lượt xem

Từ những ngọn gió vô hình nơi biên giới, biển đảo, Trần Mai Hường đã gọi dậy lịch sử, ký ức và linh hồn người lính. Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/26, là cuộc đối thoại sâu lắng giữa thơ ca hôm nay và hào khí tiền nhân. Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu dưới đây bài báo này, một bài phê bình – cảm thụ thơ công phu, có chiều sâu, không thuộc kiểu điểm sách minh họa vẫn thường gặp.

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Khi đọc tập thơ mới nhất “Những ngọn gió biên cương”, tôi nhận ra một Trần Mai Hường có giọng thơ đa phong cách. Đó là khả năng sáng tạo nhiều thể loại, nhiều cung bậc cảm xúc, đặc biệt thơ tình giàu yếu tố mỹ điệu và độc lạ. Đa phong cách còn thể hiện ở chỗ, Trần Mai Hường quả là một thi sĩ khá đa đoan, giàu năng lượng cả trong thơ và cả trong đời. Trần Mai Hường còn là người nhanh nhạy, nhìn trời, nhìn đời, bằng cảm xúc lạc quan trong cả vui, trong cả buồn, bất cứ cái gì hiện ra trước mắt cũng có thể thành thơ. Tư duy của người làm thơ như thế là cái nghiệp, nhưng là cái nghiệp trời cho, hiếm người có được, đời phải thế và nhất định phải thế!

“Những ngọn gió biên cương”, từ “gió” có trong âm hán Việt là “phong” ý chỉ phong cảnh, phong tục, nó còn chỉ cả nguyên nhân của bệnh tật “gió”. Nhưng bản chất thực của “gió” là mạnh, ẩn dụ sâu sắc, chỉ một chữ “phong” cũng thổi bay đầu cả một nền ngôn ngữ. Trong quân sự đôi khi người ta cũng dùng để chỉ sức mạnh, đi đầu, tiên phong, nơi đầu sóng ngọn gió. “Những ngọn gió biên cương” của Trần Mai Hường còn mang bản năng của một kiếm sĩ, giọng điệu đầy chất hoang tàng của một nhân cách đượm chất sử thi. Chính yếu tố này ban đầu làm ta có chút bất ngờ, nhưng rồi cũng không bất ngờ như đã nói ở trên, vì Trần Mai Hương là một thi sĩ mạnh mẽ, có tố chất đa phong cách.

Và đây, để xem nhà thơ Trần Mai Hường viết có đúng như vậy không?

“Những ngọn gió biên cương” chỉ là cái tên của một bài, nhưng đặt cho toàn bộ tập thơ, cũng có thể nói đây là bài ruột, bài chủ đạo, bởi các bài viết khác đều nói về người chiến sĩ mà Trần Mai Hường đã đi, đã tới và đã gặp. Mượn hình tượng ngọn gió vô hình, nhưng thông qua các vật chủ như cái cây, tiếng sóng, để nhận ra gió. Gió vô hồn, nhưng gió có tiếng nói riêng. Để hiện thực hóa ngọn gió, Trần Mai Hường đã đặt chân tới nhiều vùng miền đất nước, như biên giới Tây Nam, gặp các chiến sĩ quân hàm xanh bộ đội Biên phòng. Những ngọn gió ấy, khi Trần Mai Hường đặt chân tới vùng biên xa xôi phên dậu địa đầu Tổ quốc, trùng trùng núi non, bóng sông dáng núi kỳ vĩ, biên cương như bức tường thành vững bền ngàn năm, từ thời các vua hùng dựng nước. Những ngọn gió ấy, Trần Mai Hường về tận chốn xa miền đất mũi, có cột mốc cột cờ chủ quyền, như thanh gươm cắm sâu vào lòng đất, nơi có người lính ngày đêm canh giữ. Những ngọn gió ấy, tận ngoài biển xa vài trăm hải lý, mênh mông gió ào ạt thổi hòa trong tiếng sóng, nơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, ở đấy có những người chiến sĩ và những con tàu bảo vệ biển trời bao la Tổ quốc. Được chứng kiến tận mắt những người chiến sĩ, gian lao, vất vả, nhưng vững vàng tay súng bảo vệ biên cương từ xa, làm trái tim thi sĩ bổng bật lên tiếng thơ âm vang hào khí: “Những ngọn gió từ thuở hồng hoang/ Thổi suốt chiều dài lịch sử/ Dấu chân Giao Chỉ của ông cha đã in hình lên từng tất đất/ Đánh dấu mốc biên cương”. Đoạn thơ này nghe phảng phất hồn cốt của tiền nhân đã viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…”. Áng thơ ấy tôi tin rằng triệu triệu con tim người việt vẫn nhớ, nhớ để làm gì, để mặc định chúng ta là người Việt Nam, ngay từ khi đất đai sông núi mới tỏ hình hài. Và Trần Mai Hường như hạt bụi chỉ là người nhắc lại. “Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ/ Cha Lạc Long Quân/ Thủy tổ của dân tộc Việt Nam/ Kiên cường anh dũng”. Và gì, như một thông điệp sáng quắc, sắc lẻm, kẻ thù nào muốn nhăm nhe chiếm đoạt đất nước này báo cho mà biết: “Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ Giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ Núi che chở cho người từng hơi thở/ Sông dịu dàng ru khúc mẹ à ơi…”. Nhớ lấy, người Việt sẽ chiến đấu đến cùng, không phải vì vàng bạc châu báu, mà đơn giản chỉ là như vậy, nhẹ nhàng như vậy. Và đấy cũng là động lực để người chiến sĩ hôm nay, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”!

“Những ngọn gió biên cương” còn rất nhiều những bài thơ khác không mang chất tráng ca, hay hồn phách ngôn ngữ sử thi, nhưng là cảm xúc chân thực, thơ hay cả về nội dung lẫn nghệ thuật, khi viết về nỗi đau mất chồng của người vợ liệt sĩ: “Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ Đêm đêm gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/Ngõ vắng im chị ôm chặt con mình…” (Vợ liệt sĩ). Bài khác: “Ngày trở về/ Không còn vòng tay để ôm em/Anh ôm em bằng bầu ngực nóng/Em ôm anh bằng tháng năm đằng đẵng…” (Ngày sau chiến tranh). Một bài nữa xúc động, tinh tế, và lạ khi dùng con chữ thế này là đắt lắm. Còn bài thơ này, Trần Mai Hường viết sau một lần ra Trường Sa: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Se sắt lòng đại dương…” (Những ngọn sóng tỏa hương). Những cảnh ấy hiện ở đất nước này không hiếm, đọc xong mà ta khó cầm được nước mắt.

Bàn sâu thêm một chút về nghệ thuật, nhà thơ Trần Mai Hường đã làm tốt được hai yếu tố căn bản đối với người làm thơ. Thứ nhất, tác giả làm chủ được nội dung. Thứ hai, làm chủ được nghệ thuật, từ đó để mạc định thể loại. Lấy chủ đề “Những ngọn gió biên cương”, chính là Trần Mai Hường đã chọn nội dung viết về người lính (chiến sĩ). Rõ ràng đề tài có trước, tức nội dung đã định. Đã có đề tai, có nội dung, nên ắt làm chủ được hình thức nghệ thuật, cảm xúc nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật là gì? Là phù hợp với nội dung, chính là thể loại. Còn cảm xúc nghệ thuật, chính là thủ pháp hay phương pháp sáng tạo. Trong hai yếu tố trên, yếu tố thứ hai là quan trọng bậc nhất.

Nghệ thuật làm thơ đòi hỏi sức sáng tạo không ngừng, mà mỗi nhà thơ cần phải luôn làm mới chính mình, đấy là sự độc lạ hay cũng có thể gọi là mới lạ. Nhà thơ viết càng độc lạ càng hay, làm được như vậy mới tạo ra sự khác biệt, mới định danh được tên tuổi. Trong “Những ngọn gió biên cương”, nhà thơ Trần Mai Hường có nhiều bài thơ hay và sáng tạo độc lạ như: “Núi ấp ôm rừng/Biển sâu ôm đảo…” (Những ngọn gió biên cương”). Mới nghe nó có gì hơi nghịch, vì rừng ôm núi mới phải, tương tự biển sâu ôm đảo? Hay đảo ôm biển? Phi lý không? Không, vì đấy mới là nghệ thuật! Lấy cái vững chắc, che chở cái mong manh thật tài: “Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từng sâu thẳm/Se thắt lòng đại dương…”. Tôi cho rằng những câu thơ ấy đã vượt qua hiện thực, nhân cách hóa tài tình, nỗi đau thắt lại, đặc quánh tầng buồn, giỏi giỏi quá, trong bài (Những ngọn sóng tỏa hương). Viết về thơ tình, dùng thể loại 5 chữ, khổ 4 câu do hạn chế về lượng ngôn từ, nên thơ hay là rất khó. Nhưng đây, Trần Mai Hường viết vẫn hút: “Pha mịn thêm vào sóng/Đón mặt trời trổ bông/ Thôi miên chùm hoa nắng/ Gió mây như lên đồng…”, tuyệt phải không? . Một đoạn khác nữa: “Hơn nhiều lần em hiểu/ Đò dọc đợi đò ngang/Chỉ phút giây khoảnh khắc/Mà biết mình đa đoan…”. Bạn đọc có nhận ra nó lạ ở những câu thơ này chưa? “đò dọc đợi đò ngang”. Hai con đò đi hai chiều, chẳng thực tế chút nào? Nhưng lại hợp với tình tiết. Rồi nữa: “Vẫn nhắm hờ mắt đợi/Dù biết rằng chân mây/Là nơi trời gặp biển/Giới hạn ơi đọa đày” trong (giới hạn). Đúng là yêu phải như thế, dù có thể được, có thể không, nhưng ngôn ngữ yêu đâu cần nhiều lời, tinh tế, đôi khi đọa đầy nhau mới đã.

Ở loại thể thơ tự do, tạm gọi là thơ ít vần, nhiều chữ, Trần Mai Hương cũng khá thành công, bởi nó cho phép nhà thơ diễn tả được hết cảm xúc, “Con ơi đất nước hòa bình, máu đã xanh cây/nhưng đau mẹ còn nguyên, nỗi đau mất con thắt ruột/ Nếu linh thiêng con hãy là ngọn gió/Về đậu hờ trên vai mẹ con yêu…”, (Ước mong của mẹ). Bài khác: “Không biết nói gì trước cỏ xanh thành cổ - tôi lặng tìm trong thương tiếc tiếng bom xưa – trận chiến kéo dài 81 ngày đêm – bao khốc liệt còn nằm sâu lòng đất…” (Cỏ xanh Thành Cổ).

Viết về người lính phần nhiều các nhà thơ, đặc biệt các nhà thơ nữ dễ mềm lòng xót xa trước những đau thương, mất mát, do chiến tranh gây ra, nên phương pháp nghệ thuật ký ức, hồi tưởng là hiệu quả nhất. Trần Mai Hường cũng vậy, thế nhưng tinh ý một chút, trong tập thơ mới này gần như nhà thơ không dùng thể loại thơ lục bát, dù lục bát dễ làm, điều ấy cũng là lạ? Tuy nhiên làm thơ lục bát dễ, nhưng hay thật là rất khó! Có lẽ thế nhà thơ Trần Mai Hường đã né? Dù vậy, “Những ngọn gió biên cương” vẫn đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Tập thơ ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm, giải phóng miền Nam thông nhất đất nước. Nhà thơ Trần Mai Hương xem như một món qùa đẹp, nhân văn, lấy ngôn ngữ tiền nhân làm điểm nhấn, gửi tặng những người chiến sĩ QĐNDVN anh hùng thật vô cùng ý nghĩa.

TP. HCM, tháng 12/2025

Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. HCM số 195, ra ngày 29/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm