TIN TỨC

Trái tim nhà thơ giữa khói, bụi và cỏ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-09 09:49:46
mail facebook google pos stwis
1113 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hai lần được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Bước vào năm 2026, nhà thơ Đinh Nho Tuấn tuổi Bính Ngọ đánh dấu 60 mùa xuân đời mình, bằng tập thơ “Khói, bụi và cỏ” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh năm 1966 tại Tân Hà Mỹ, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Có người cha là nhà báo Đinh Nho Liêm (1934-2011) từng làm Tổng Biên tập Báo Hà Tĩnh, nên nhà thơ Đinh Nho Tuấn từ nhỏ đã không xa lạ với thế giới chữ nghĩa.

Tuy nhiên, khi sang Nga du học, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lại lấy học vị tiến sĩ luật kinh tế ở Học viện Hàn lâm khoa học Moscow trong tâm trạng “Có thằng bé ôm ghì chân mẹ/ Khóc váng lên không cho mẹ xa nhà/ Nửa cuộc đời, tôi là thằng bé ấy/ Và quê hương là người mẹ đã xa”.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn và tập thơ “Khói, bụi và cỏ” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Những ngày ở xứ sở bạch dương, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lập gia đình với cô bạn một thời đèn sách tại Trường Phan Bội Châu, Nghệ An. Hai đứa con trai đầu được chào đời ở Nga, hai vợ chồng Đinh Nho Tuấn trở về TP. Hồ Chí Minh định cư và có thêm đứa con trai út Đinh Nho Khoa hiện nay theo con đường sáng tác âm nhạc.

Bạn bè văn chương TP. Hồ Chí Minh vẫn quý mến nhà thơ Đinh Nho Tuấn với tư cách một trí thức nho nhã, lịch thiệp và luôn thao thức “Đọc cứ đọc, hàng ngày tôi vẫn đọc/ Những vần thơ đẹp đẽ người đời/ Viết cứ viết, hàng ngày tôi vẫn viết/ Mỗi bài thơ là máu đỏ của tôi”.

Hơn hai thập niên gắn bó đô thị phương Nam, nhà thơ Đinh Nho Tuấn không chỉ có một sự nghiệp riêng mà còn có những vần điệu riêng. Tham gia cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2024, do Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã đoạt giải nhất với chùm thơ “Khuôn mặt Sài Gòn”, “Thành phố của tôi” và “Lòng ta ở trọ”.

Sự nhộn nhịp của một thành phố năng động và cởi mở, được nhà thơ Đinh Nho Tuấn phác thảo những nét chấm phá ấn tượng: “Lòng ta ở trọ/ Vào muôn khóm nắng vàng/ Trọ vào tiếng rao/ Vòng xe lăn ướt mềm hẻm phố/ Ly cà phê nép mình ngõ nhỏ/ Thướt tha áo trắng tinh khôi/ Trọ con đường ban mai/ Người xe trẩy hội/ Gió đồng bào hơi thở áo cơm/ Trọ khuôn mặt Sài Gòn/ Mộc, không phấn son/ Trang điểm bằng những điều tử tế”.

Không thể giấu kín mãi những bài thơ cựa quậy trong ngăn kéo, nhà thơ Đinh Nho Tuấn chính thức xuất hiện trên văn đàn từ năm 2018. Trữ lượng tích lũy đầy đặn, giúp bút lực sung mãn của ông mỗi năm đều có tập thơ ra mắt công chúng.

Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, dễ dàng thấy được ông có cái duyên của một người nói giọng trầm. Ông cứ thủ thỉ những câu thơ tỉ tê chuyện mình ngậm ngùi, chuyện người xa vắng. Trước mặt anh là trang giấy trắng réo gọi chữ nghĩa tuôn trào, mà xung quanh anh bạt ngàn kỷ niệm giăng mắc.

Anh xoay phía nào cũng gặp những hồi ức chênh vênh. Từng hình ảnh đã xa mà chưa khuất, đã xưa mà chưa cũ, lần lượt hiện ra trong thơ Đinh Nho Tuấn: “Nhiều khi ta thấy ta là một/ Ta là trăm mảnh, lại nhiều khi/ Mảnh này theo ta cùng đứng lại/ Bao mảnh phiêu bồng em dắt đi”.

Đặc biệt, nhờ trải nghiệm nhiều năm tha phương, trong thơ Đinh Nho Tuấn, mỗi ngọn cỏ bên đường cũng bật xanh như ánh đèn canh khuya hư ảo. Đinh Nho Tuấn đã chịu đựng nhiều cách biệt và đã trải nghiệm đủ bôn ba, khiến anh dễ dàng đồng cảm với tha nhân.

Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, có thể nhận ra giữa những dòng hờ hững luôn được gieo những câu mong ngóng. Anh đi tìm cái đẹp đang chìm dưới xô bồ ranh mãnh danh lợi bằng tất cả sự tin yêu. Lắm phen anh reo lên cùng cái đẹp vô tư vẫn vượt lên mọi dửng dưng để tồn tại. Không cố tình diêm dúa, không cố tình đẩy đưa, Đinh Nho Tuấn phát hiện hồn vía sự vật thật tự nhiên và thật tinh tế: “Ký ức là gió ào ào trên sa mạc/ Là suối sông lầm lạc lối về/ Đêm đêm bầu trời sao chợt nhắc/ Đàn chim xưa dang cánh bay đi”.

Sau một hành trình thanh xuân gắn bó thi ca, nhà thơ Đinh Nho Tuấn bước vào tuổi “lục thập” với những vần điệu không chịu “nhi nhĩ thuận”. Thơ ông cồn cào hơn xưa. Thơ ông day dứt hơn xưa. Nguyên cớ gì nhỉ? Vì ông thấy bản thân phải có thêm trách nhiệm với thơ, và thơ phải có thêm trách nhiệm với đời. Đó là sự củng cố ý thức của kẻ sáng tạo chuyên nghiệp, khi đã thực sự thấu hiểu “Tờ lịch bay đi, không thể nào giữ lại/ Trắng xóa tường kia, trắng xóa tay người”.

Qua sáu tập thơ đã xuất bản “Em hãy cho anh vội”, “Em tôi”, “Dan díu với núi sông”, “Ngàn tiếng đời ấp ủ”, “Lời phả hương” và “Năm ngón chưa đặt tên”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn không còn xa lạ với công chúng văn chương. Dĩ nhiên, với một tác giả đã định danh như nhà thơ Đinh Nho Tuấn, thì độc giả có quyền đòi hỏi những rung lắc khác trên mỗi trang thơ.

Thật mừng, bằng tập thơ thứ bảy có tên gọi “Khói bụi và cỏ”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã chứng minh ông không an phận trú ẩn ở miền chữ nghĩa du dương và trầm bổng. Ông mạnh mẽ khẳng định “Nếu chỉ được viết một bài thơ/ Bài thơ về tự do, chắc chắn thế”, rồi tự nguyện gánh vác bất trắc “Giọt mực thi nhân nhỏ xuống/ Như máu trên những cành hoa”.

Thi ca chưa bao giờ ban phát cơ hội chinh phục cho những ai rụt rè và dễ dãi. Khi đã đi hết cánh đồng mênh mang cảm xúc nuông chiều nắng sớm sương khuya, nhà thơ cần chấp nhận vượt dốc từng niềm ưu tư, từng nỗi hoài vọng bằng những truy vấn liên hồi về nhân gian ấm lạnh.

Đinh Nho Tuấn không hề ái ngại luật chơi khắc nghiệt ấy, ông rành mạch “Đừng bảo hạt mưa phải rơi thế nào/ Đừng bảo cơn gió phải về đâu/ Vì còn những cơn gió chưa hề thổi/ Nấp kín trong lòng không tuổi”. Và ông nhận diện “Cơn mưa đi rất chậm/ Như những tiếng thở dài” để ông lý giải “Cơn mưa không treo lên tường để ngắm/ Cơn mưa làm lời thủ thỉ an ủi con người”.

Nhờ thái độ quyết liệt truy vấn “đau khổ nhất là khi phải giấu đi đau khổ”, ông có được nhiều câu thơ gửi gắm khách tri âm “Không ai sinh ra để trở thành bất hạnh/ Bước chân chúng ta tạo ra lối mòn/ Tâm trí chúng ta tạo nên đường gấp khúc/ Chúng ta sống vì những nỗi chờ mong”, ông có được nhiều câu thơ giục giã trái tim mình “Mỗi hoàng hôn tôi ngỡ trái đất tạm thời biến mất/ Thầm nhớ những cơn gió đầu đông/ Nhớ hương thơm của mùa Xuân bên ngõ/ Đi về lúa theo chân cánh đồng”. Và một trạm sạc đầy run rủi của ông đã buông lơi những dòng rời rạc và khắc khoải:

Xung quanh chúng ta/ Hàng giả/ Đức tin giả/ Lời nguyện cầu giả/ Người giả/ Hỡi nhà thơ/ Thơ anh/ Bao nhiêu phần trăm là thật?”.

Giữa nhùng nhằng giả và thật, hoặc giữa nhũng nhẵng thiện và ác, thi ca đều giống như mật mã mệnh kiếp cứ thôi thúc nhà thơ không được phép mệt mỏi, không được phép bé mọn, không được phép xu thời: “Anh đi tìm chân lý không phải để trở thành chân lý/ Anh hướng về giấc mơ không phải để sống như mơ”.

Bên cạnh mảng thơ thế sự đang dần xác lập sở trường, Đinh Nho Tuấn trong tập thơ “Khói, bụi và cỏ” vẫn rất uyển chuyển với thơ ân tình. Đó là thơ ân tình trước một bóng dáng dịu dàng “Ngàn năm đời còn dại/ Xin giã từ cuồng phong/ Nhờ mắt em rửa tội/ Vùi tay người ngày đông”. Đó là thơ ân tình trước một đô thị cưu mang “Sài Gòn vào mùa lặng yên/ Phố như là trong mộng/ Người như là trong say/ Ai gõ vào hồn phách/ Mà đất trời ngất ngây”. Và hơn thế nữa, đó là thơ ân tình trước một thiên nhiên độ lượng, giúp nôn nao không tàn lụi “tiếng ồn ào lá mùa thu đóng cửa còn chưa tắt”, giúp bồi hồi không tan biến “những sáng mai mùa thu ra đi, sau cơn gió phố vàng thêm lần nữa”.

Thơ Đinh Nho Tuấn càng ngày càng cô đọng. Giữa “khói, bụi và cỏ”, trái tim nhà thơ không để bất kỳ hình ảnh nào trôi dạt ra ngoài văn bản. Vì vậy, chân dung ông hiển lộ đầy đủ trong thơ. Ông có điểm tựa hạnh phúc “Em chọn sinh vào thuở có ta/ Ta có em nên đã sinh ra” nên thơ cũng có điểm tựa bâng khuâng “Tôi là đám mây bay trên bầu trời quê hương/ Chính dòng Lam, dòng La, những người nông dân nâng tôi lên/ Những cánh đồng quê nâng tôi lên/ Nơi ông bà cha mẹ tôi nằm xuống”.

Nguồn: Văn nghệ Công an

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm