TIN TỨC

Trái tim nhà thơ giữa khói, bụi và cỏ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-09 09:49:46
mail facebook google pos stwis
751 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hai lần được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Bước vào năm 2026, nhà thơ Đinh Nho Tuấn tuổi Bính Ngọ đánh dấu 60 mùa xuân đời mình, bằng tập thơ “Khói, bụi và cỏ” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh năm 1966 tại Tân Hà Mỹ, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Có người cha là nhà báo Đinh Nho Liêm (1934-2011) từng làm Tổng Biên tập Báo Hà Tĩnh, nên nhà thơ Đinh Nho Tuấn từ nhỏ đã không xa lạ với thế giới chữ nghĩa.

Tuy nhiên, khi sang Nga du học, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lại lấy học vị tiến sĩ luật kinh tế ở Học viện Hàn lâm khoa học Moscow trong tâm trạng “Có thằng bé ôm ghì chân mẹ/ Khóc váng lên không cho mẹ xa nhà/ Nửa cuộc đời, tôi là thằng bé ấy/ Và quê hương là người mẹ đã xa”.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn và tập thơ “Khói, bụi và cỏ” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Những ngày ở xứ sở bạch dương, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lập gia đình với cô bạn một thời đèn sách tại Trường Phan Bội Châu, Nghệ An. Hai đứa con trai đầu được chào đời ở Nga, hai vợ chồng Đinh Nho Tuấn trở về TP. Hồ Chí Minh định cư và có thêm đứa con trai út Đinh Nho Khoa hiện nay theo con đường sáng tác âm nhạc.

Bạn bè văn chương TP. Hồ Chí Minh vẫn quý mến nhà thơ Đinh Nho Tuấn với tư cách một trí thức nho nhã, lịch thiệp và luôn thao thức “Đọc cứ đọc, hàng ngày tôi vẫn đọc/ Những vần thơ đẹp đẽ người đời/ Viết cứ viết, hàng ngày tôi vẫn viết/ Mỗi bài thơ là máu đỏ của tôi”.

Hơn hai thập niên gắn bó đô thị phương Nam, nhà thơ Đinh Nho Tuấn không chỉ có một sự nghiệp riêng mà còn có những vần điệu riêng. Tham gia cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất phương Nam” năm 2024, do Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã đoạt giải nhất với chùm thơ “Khuôn mặt Sài Gòn”, “Thành phố của tôi” và “Lòng ta ở trọ”.

Sự nhộn nhịp của một thành phố năng động và cởi mở, được nhà thơ Đinh Nho Tuấn phác thảo những nét chấm phá ấn tượng: “Lòng ta ở trọ/ Vào muôn khóm nắng vàng/ Trọ vào tiếng rao/ Vòng xe lăn ướt mềm hẻm phố/ Ly cà phê nép mình ngõ nhỏ/ Thướt tha áo trắng tinh khôi/ Trọ con đường ban mai/ Người xe trẩy hội/ Gió đồng bào hơi thở áo cơm/ Trọ khuôn mặt Sài Gòn/ Mộc, không phấn son/ Trang điểm bằng những điều tử tế”.

Không thể giấu kín mãi những bài thơ cựa quậy trong ngăn kéo, nhà thơ Đinh Nho Tuấn chính thức xuất hiện trên văn đàn từ năm 2018. Trữ lượng tích lũy đầy đặn, giúp bút lực sung mãn của ông mỗi năm đều có tập thơ ra mắt công chúng.

Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, dễ dàng thấy được ông có cái duyên của một người nói giọng trầm. Ông cứ thủ thỉ những câu thơ tỉ tê chuyện mình ngậm ngùi, chuyện người xa vắng. Trước mặt anh là trang giấy trắng réo gọi chữ nghĩa tuôn trào, mà xung quanh anh bạt ngàn kỷ niệm giăng mắc.

Anh xoay phía nào cũng gặp những hồi ức chênh vênh. Từng hình ảnh đã xa mà chưa khuất, đã xưa mà chưa cũ, lần lượt hiện ra trong thơ Đinh Nho Tuấn: “Nhiều khi ta thấy ta là một/ Ta là trăm mảnh, lại nhiều khi/ Mảnh này theo ta cùng đứng lại/ Bao mảnh phiêu bồng em dắt đi”.

Đặc biệt, nhờ trải nghiệm nhiều năm tha phương, trong thơ Đinh Nho Tuấn, mỗi ngọn cỏ bên đường cũng bật xanh như ánh đèn canh khuya hư ảo. Đinh Nho Tuấn đã chịu đựng nhiều cách biệt và đã trải nghiệm đủ bôn ba, khiến anh dễ dàng đồng cảm với tha nhân.

Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, có thể nhận ra giữa những dòng hờ hững luôn được gieo những câu mong ngóng. Anh đi tìm cái đẹp đang chìm dưới xô bồ ranh mãnh danh lợi bằng tất cả sự tin yêu. Lắm phen anh reo lên cùng cái đẹp vô tư vẫn vượt lên mọi dửng dưng để tồn tại. Không cố tình diêm dúa, không cố tình đẩy đưa, Đinh Nho Tuấn phát hiện hồn vía sự vật thật tự nhiên và thật tinh tế: “Ký ức là gió ào ào trên sa mạc/ Là suối sông lầm lạc lối về/ Đêm đêm bầu trời sao chợt nhắc/ Đàn chim xưa dang cánh bay đi”.

Sau một hành trình thanh xuân gắn bó thi ca, nhà thơ Đinh Nho Tuấn bước vào tuổi “lục thập” với những vần điệu không chịu “nhi nhĩ thuận”. Thơ ông cồn cào hơn xưa. Thơ ông day dứt hơn xưa. Nguyên cớ gì nhỉ? Vì ông thấy bản thân phải có thêm trách nhiệm với thơ, và thơ phải có thêm trách nhiệm với đời. Đó là sự củng cố ý thức của kẻ sáng tạo chuyên nghiệp, khi đã thực sự thấu hiểu “Tờ lịch bay đi, không thể nào giữ lại/ Trắng xóa tường kia, trắng xóa tay người”.

Qua sáu tập thơ đã xuất bản “Em hãy cho anh vội”, “Em tôi”, “Dan díu với núi sông”, “Ngàn tiếng đời ấp ủ”, “Lời phả hương” và “Năm ngón chưa đặt tên”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn không còn xa lạ với công chúng văn chương. Dĩ nhiên, với một tác giả đã định danh như nhà thơ Đinh Nho Tuấn, thì độc giả có quyền đòi hỏi những rung lắc khác trên mỗi trang thơ.

Thật mừng, bằng tập thơ thứ bảy có tên gọi “Khói bụi và cỏ”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã chứng minh ông không an phận trú ẩn ở miền chữ nghĩa du dương và trầm bổng. Ông mạnh mẽ khẳng định “Nếu chỉ được viết một bài thơ/ Bài thơ về tự do, chắc chắn thế”, rồi tự nguyện gánh vác bất trắc “Giọt mực thi nhân nhỏ xuống/ Như máu trên những cành hoa”.

Thi ca chưa bao giờ ban phát cơ hội chinh phục cho những ai rụt rè và dễ dãi. Khi đã đi hết cánh đồng mênh mang cảm xúc nuông chiều nắng sớm sương khuya, nhà thơ cần chấp nhận vượt dốc từng niềm ưu tư, từng nỗi hoài vọng bằng những truy vấn liên hồi về nhân gian ấm lạnh.

Đinh Nho Tuấn không hề ái ngại luật chơi khắc nghiệt ấy, ông rành mạch “Đừng bảo hạt mưa phải rơi thế nào/ Đừng bảo cơn gió phải về đâu/ Vì còn những cơn gió chưa hề thổi/ Nấp kín trong lòng không tuổi”. Và ông nhận diện “Cơn mưa đi rất chậm/ Như những tiếng thở dài” để ông lý giải “Cơn mưa không treo lên tường để ngắm/ Cơn mưa làm lời thủ thỉ an ủi con người”.

Nhờ thái độ quyết liệt truy vấn “đau khổ nhất là khi phải giấu đi đau khổ”, ông có được nhiều câu thơ gửi gắm khách tri âm “Không ai sinh ra để trở thành bất hạnh/ Bước chân chúng ta tạo ra lối mòn/ Tâm trí chúng ta tạo nên đường gấp khúc/ Chúng ta sống vì những nỗi chờ mong”, ông có được nhiều câu thơ giục giã trái tim mình “Mỗi hoàng hôn tôi ngỡ trái đất tạm thời biến mất/ Thầm nhớ những cơn gió đầu đông/ Nhớ hương thơm của mùa Xuân bên ngõ/ Đi về lúa theo chân cánh đồng”. Và một trạm sạc đầy run rủi của ông đã buông lơi những dòng rời rạc và khắc khoải:

Xung quanh chúng ta/ Hàng giả/ Đức tin giả/ Lời nguyện cầu giả/ Người giả/ Hỡi nhà thơ/ Thơ anh/ Bao nhiêu phần trăm là thật?”.

Giữa nhùng nhằng giả và thật, hoặc giữa nhũng nhẵng thiện và ác, thi ca đều giống như mật mã mệnh kiếp cứ thôi thúc nhà thơ không được phép mệt mỏi, không được phép bé mọn, không được phép xu thời: “Anh đi tìm chân lý không phải để trở thành chân lý/ Anh hướng về giấc mơ không phải để sống như mơ”.

Bên cạnh mảng thơ thế sự đang dần xác lập sở trường, Đinh Nho Tuấn trong tập thơ “Khói, bụi và cỏ” vẫn rất uyển chuyển với thơ ân tình. Đó là thơ ân tình trước một bóng dáng dịu dàng “Ngàn năm đời còn dại/ Xin giã từ cuồng phong/ Nhờ mắt em rửa tội/ Vùi tay người ngày đông”. Đó là thơ ân tình trước một đô thị cưu mang “Sài Gòn vào mùa lặng yên/ Phố như là trong mộng/ Người như là trong say/ Ai gõ vào hồn phách/ Mà đất trời ngất ngây”. Và hơn thế nữa, đó là thơ ân tình trước một thiên nhiên độ lượng, giúp nôn nao không tàn lụi “tiếng ồn ào lá mùa thu đóng cửa còn chưa tắt”, giúp bồi hồi không tan biến “những sáng mai mùa thu ra đi, sau cơn gió phố vàng thêm lần nữa”.

Thơ Đinh Nho Tuấn càng ngày càng cô đọng. Giữa “khói, bụi và cỏ”, trái tim nhà thơ không để bất kỳ hình ảnh nào trôi dạt ra ngoài văn bản. Vì vậy, chân dung ông hiển lộ đầy đủ trong thơ. Ông có điểm tựa hạnh phúc “Em chọn sinh vào thuở có ta/ Ta có em nên đã sinh ra” nên thơ cũng có điểm tựa bâng khuâng “Tôi là đám mây bay trên bầu trời quê hương/ Chính dòng Lam, dòng La, những người nông dân nâng tôi lên/ Những cánh đồng quê nâng tôi lên/ Nơi ông bà cha mẹ tôi nằm xuống”.

Nguồn: Văn nghệ Công an

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm