TIN TỨC

“Lời đồng vọng” với những áng văn hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 11:15:19
mail facebook google pos stwis
506 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình. Lời đồng vọng 2, theo tôi đó là tập “Tiểu luận và Phê bình” đầy đặn và chỉn chu cả về nội dung lẫn hình thức.

Lời đồng vọng 2 được bố cục làm ba phần:

Phần 1: Văn học và cuộc sống với chín bài viết rất bổ ích, thể hiện kiến văn sâu rộng của Lê Xuân về đời sống và văn học nghệ thuật. Lê Xuân đặt vấn đề về những kiến thức căn bản, yếu tố cần thiết nhất của một người học tập, nghiên cứu và sáng tạo văn chương. Bạn đọc được trang bị những kiến thức về thơ, yếu tố ngôn ngữ trong một bài thơ; nhà văn cần trang bị những kiến thức gì để có tác phẩm hay; bàn thêm về người viết trẻ… Lê Xuân đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, quan sát dõi theo tình hình sáng tác và phê bình văn học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm được xem khá đầy đủ những gương mặt văn nghệ, những đặc trưng nổi bật của văn chương Đồng bằng sông Cửu Long qua từng giai đoạn cụ thể.

Đặc biệt, anh có ba bài viết hay vừa mang tính tổng kết vừa vạch ra những định hướng và dự báo cho văn học Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung: Phương ngữ Nam Bộ - nét đặc sắc của văn học Đồng bằng sông Cửu Long cần lưu giữ; bài Văn học Cần Thơ trước cơ chế thị trường, làm sao để có tác phẩm hay và bài Vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ Cần Thơ trong giai đoạn 1975-2025.

Vốn là một nhà giáo, một nhà báo, một nhà phê bình nên Lê Xuân có những ý kiến khá xác đáng về dạy và học Văn hiện nay, về mối quan hệ giữa người viết phê bình và người sáng tác. Đọc từng câu chữ và cả những đề xuất của anh trong các bài viết mới thấy anh giành tâm sức cho văn chương và tâm huyết với nó biết nhường nào!

Phần 2: Đến với bài thơ hay. Nhà phê bình Lê Xuân phẩm bình 24 bài thơ của 24 tác giả. Nhiều nhà thơ tên tuổi với những bài thơ được định hình theo năm tháng và qua lời bình của anh tăng thêm giá trị, sự hàm súc, sức bay bổng với những khám phá tinh tế, đầy bất ngờ và thú vị. Có lẽ, với những bài thơ ấy, bạn đọc đã từng được đọc, được nghe những lời bình của nhiều tác giả khác nhưng đọc những lời bình giá của Lê Xuân mỗi chúng ta sẽ thấy có nét riêng trong sự khám phá, chỉ ra được hồn cốt cái tinh túy, độc đáo mà tôi tin là bạn đọc sẽ ấn tượng hơn về nó. Tôi thích cách anh bình với ngôn từ đẹp, sự tinh nhạy trong cách cảm, vận dụng linh hoạt kiến thức về ngôn ngữ, thi pháp nhưng không hề khô cứng, máy móc, giáo điều mà gieo vào lòng bạn đọc nhiều những kiến thức, thông điệp bổ ích và để lại những dư ba. Chẳng hạn ở bài Bùa lá của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, nhà phê bình Lê Xuân có đoạn phẩm bình rất hay: “Đọc Bùa lá tôi lại liên tưởng tới chiếc “lá diêu bông” của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Bao nhiêu người mải mê cất công đi tìm để mong được làm chồng cái nhân vật trữ tình kia nhưng đều vô vọng. Gìơ đây biết bao chàng trai lại đi tìm “bùa lá” của chị, và liệu rằng có tìm được không giữa cái mênh mông của biển tình, biển đời.

Mở đầu bài thơ ta bắt gặp hình ảnh “lá vàng” nằm trong cặp câu lục bát biến thể “Lá vàng tôi thả bùa mê/ Có ai nhặt về làm chút duyên chơi, gieo vần vào tiếng thứ tư (về) ở câu “bát”, tách câu thơ làm hai theo nhịp 4/4 tạo âm hưởng không xuôi chèo mát mái như những câu lục bát bình thường. Nó như dự báo sự trắc trở, lỡ làng của duyên muộn. Nhặt “lá vàng” làm “bùa mê” để thả ra giữa dòng đời “cầu duyên” da diết quá, xót xa quá. Nhân vật trữ tình ở đây không có sự “bùng nổ” quyết liệt như trong thơ Hồ Xuân Hương khi xưa “thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình) mà cứ nhẹ nhàng, thủ thỉ độc thoại nội tâm: Lỡ làng mười tám, đôi mươi/ Tôi đi chợ muộn kiếm cơi trầu già/ Chân vương tóc rối chân gà/ Ai mua tôi bán - để mà cầu duyên. Song, điều đáng quý ở nhân vật trữ tình này là chưa hề nguôi tắt niềm tin ở tình yêu cuộc sống, vẫn hy vọng ở chuyện “cầu duyên”.

Hoặc, với bài thơ Cõi người của nhà thơ Lê Quốc Hán, anh cũng có những lời tâm huyết, thấu tình. Bằng vốn kiến thức, sự tinh nhạy trong cách nhìn nhận về con người và cuộc đời mà Lê Xuân đã luận giải một cách biện chứng, sâu sắc. Đó là sự nghịch lý của cõi người. “Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Làm sao cắt nghĩa cõi người”, nó như một phương trình vô định. Có cõi người, cõi đất, cõi âm, cõi dương và “cõi tôi” nữa. Ở đây nhà thơ lạm bàn về “cõi người” qua cái tôi trữ tình. Nghe vừa gần gũi lại vừa xa xôi với một âm hưởng buồn. Và từ đó tứ thơ được triển khai tạo nên sự đối lập, là nghịch lý “Khi vui ứa lệ khi cười đớn đau”. Tôi liên tưởng ngay đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”. Có niềm vui ứa lệ, nước mắt rưng rưng như sau ngày giải phóng cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng. Lại có cái cười ra nước mắt vì đớn đau, vì sự mai mỉa lắng đọng tim gan. Cười vì mình bất lực trước thế sự nhiễu nhương, cười vì một sự sám hối nào đó, hay cười vì trước sự nhỏ nhen ganh tỵ của người đời. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng về “kiếp này”, “kiếp sau”. Tác giả lại lý giải một hiện tượng ngược chiều cuộc sống: “Tim hồng đem muối làm dưa” và “Bẻ hoa rồi dạy cuộc đời yêu hoa”. Sự trách đời và trách mình cứ tăng dần theo cấp số nhân. Theo tư duy lô gic của triết học thì đây là mối quan hệ đối lập giữa hai cặp phạm trù nội dung và hình thức. Người “bẻ hoa” mà lại đi giảng đạo lý cho người “yêu hoa”, kẻ “lưỡi phun nọc rắn” mà miệng vẫn cười như “đùa chơi”. Quả là loại người “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm” (Tục ngữ). Sự đối lập tăng cao ở khổ thơ thứ ba: “Hoàng bào đổi lấy cà sa/ hạt cơm lừa bán Hằng Nga nuôi mình/ ngàn vàng khôn chuộc chữ trinh/ nào ai trao trọn người tình mình yêu”. Sự lừa lọc và giả dối cứ từ từ tiệm tiến. Sự hoán đổi thật trớ trêu như một màn bi hài kịch. Lê Quốc Hán giấu nỗi buồn vào trong mà cứ tủm tĩm cười như chú Cuội, chứ không chán đời trước trần thế còn nhiều cát bụi”…

Phần 3: Những hạt vàng trong sách, với 23 bài giới thiệu về sách của 23 tác giả. Phần này, nhà phê bình Lê Xuân đã giành phần lớn giới thiệu các tác phẩm của các tác giả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18/23). Ở đây có thể coi như một cuộc điểm danh những tên tuổi và tác phẩm ở vùng đất này với những tác giả quen thuộc được nhiều bạn đọc biết đến như: Lâm Tẻn Cuôi, Huệ Thi, Lê Lương Ngọc, Lê Kim Loan, Đặng Tuyết, Lê Ái Siêm, Trương Viết Hùng, Tùng Chương, Huyền Văn, Trần Thanh Chương, Nguyễn Kim Thanh, Đặng Phúc Minh, Dũng Trần, Lương Minh Hinh, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ, Cao Thanh Mai, Lê Quang Vui.

Ở mỗi tác phẩm anh luôn tìm ra những nét độc đáo về phong cách tác giả và sự thành công trong bút pháp biểu hiện ở những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung. Ở đây người đọc bắt gặp sự từng trãi và vốn sống của mỗi tác giả phả vào tác phẩm. Ta thấy chất lính của anh bộ đội Cụ Hồ khá đậm nét qua các truyện ngắn, tản văn, bút ký của HuyềnVăn, Cao Thanh Mai, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ. Tình thơ, tình yêu, tình bạn, tình quê hòa quyện trong thơ Lê Ái Siêm, Lâm Tẻn Cuôi, Tùng Chương, Lê Lương Ngọc, Lê Quang Vui, Huệ Thi, Trương Viết Hùng. Những cảnh sắc miền sông nước Tây Nam Bộ, những con người miệt vườn chất phác, nhân ái, hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, thích ca cải lương, đờn ca tài tử, và đôi khi điệu nghệ cứ hiện lên như sờ nắm được trong những bút ký, tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Kim Thanh, Huyền Văn, Cao Thanh Mai. Đặc biệt anh rất trân trọng những tìm tòi mới lạ về xu hướng hậu hiện đại, ảnh hưởng của trường phái Prớt trong trường ca “Lò Mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà nhiều người còn bàn cãi. Anh đưa ra những nhận định thấu tình đạt lý.

Việc phân chia bố cục của tập sách như thế cùng với những vấn đề được chuyển tải trong tác phẩm, cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, sự chắt chiu và trân trọng những thành quả của người sáng tạo. Ở đó ý thức trách nhiệm, tình yêu và sự dấn thân với văn chương chữ nghĩa được thể hiện rõ nét. Vì thế, tôi rất trân quý và ngưỡng mộ phẩm hạnh người cầm bút tâm huyết mà nhà phê bình Lê Xuân đem tới. Tác phẩm này cũng là lời tri ân, là nén tâm nhang dâng lên anh linh một số tác giả đã rời cõi tạm về miền cực lạc, như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bùi Vợi, Lâm Tẻn Cuôi, Lê Đình Cánh, Bùi Văn Bồng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), Trịnh Anh Đạt, Đoàn Vị Thượng, Đinh Văn Hội, Lâm Văn Lan, Phan Huy.

Với quan niệm về văn chương một cách thấu đáo, sự tương thông linh cảm, ngòi bút tinh tế, sắc sảo của người phê bình nên anh đã có một cái nhìn và đánh giá hài hòa, vừa phải. Anh không quá khắt khe, không dùng phê bình như “ngọn roi” mà luôn có sự nâng niu trân trọng, ghi nhận những điểm mạnh của từng tác giả để tạo động lực cho họ tiếp tục trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Bởi hơn ai hết, Lê Xuân hiểu được nỗi nhọc nhằn, vất vả, chông chênh của người “phu chữ”. Anh cho rằng: “Văn chương là sự ký thác cuộc đời của mỗi tác giả cho đam mê phát sáng và bùng cháy, đem thông điệp cho con người và cuộc sống theo một cảm quan thẩm mỹ. Nhà văn cần nhận ra một điều là ta đang tồn tại trong một hiện thực phức tạp, đa diện, đa chiều để từ đó sáng tạo không ngừng cho tác phẩm có độ “bắt sáng” hiện thực cụ thể. Và tâm hồn phải là một “ăng ten” nhạy cảm, có “đường dẫn” của lý trí sáng suốt”.

Lời đồng vọng 2 với nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều đúc kết giá trị được nhà phê bình Lê Xuân dày công nghiên cứu, cảm nghiệm. Vì thế, tôi cho rằng đây là tập tư liệu quý cho người nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn chương, nhất là những nghiên cứu có liên quan đến văn chương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm