TIN TỨC

“Lời đồng vọng” với những áng văn hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 11:15:19
mail facebook google pos stwis
980 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình. Lời đồng vọng 2, theo tôi đó là tập “Tiểu luận và Phê bình” đầy đặn và chỉn chu cả về nội dung lẫn hình thức.

Lời đồng vọng 2 được bố cục làm ba phần:

Phần 1: Văn học và cuộc sống với chín bài viết rất bổ ích, thể hiện kiến văn sâu rộng của Lê Xuân về đời sống và văn học nghệ thuật. Lê Xuân đặt vấn đề về những kiến thức căn bản, yếu tố cần thiết nhất của một người học tập, nghiên cứu và sáng tạo văn chương. Bạn đọc được trang bị những kiến thức về thơ, yếu tố ngôn ngữ trong một bài thơ; nhà văn cần trang bị những kiến thức gì để có tác phẩm hay; bàn thêm về người viết trẻ… Lê Xuân đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, quan sát dõi theo tình hình sáng tác và phê bình văn học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm được xem khá đầy đủ những gương mặt văn nghệ, những đặc trưng nổi bật của văn chương Đồng bằng sông Cửu Long qua từng giai đoạn cụ thể.

Đặc biệt, anh có ba bài viết hay vừa mang tính tổng kết vừa vạch ra những định hướng và dự báo cho văn học Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung: Phương ngữ Nam Bộ - nét đặc sắc của văn học Đồng bằng sông Cửu Long cần lưu giữ; bài Văn học Cần Thơ trước cơ chế thị trường, làm sao để có tác phẩm hay và bài Vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ Cần Thơ trong giai đoạn 1975-2025.

Vốn là một nhà giáo, một nhà báo, một nhà phê bình nên Lê Xuân có những ý kiến khá xác đáng về dạy và học Văn hiện nay, về mối quan hệ giữa người viết phê bình và người sáng tác. Đọc từng câu chữ và cả những đề xuất của anh trong các bài viết mới thấy anh giành tâm sức cho văn chương và tâm huyết với nó biết nhường nào!

Phần 2: Đến với bài thơ hay. Nhà phê bình Lê Xuân phẩm bình 24 bài thơ của 24 tác giả. Nhiều nhà thơ tên tuổi với những bài thơ được định hình theo năm tháng và qua lời bình của anh tăng thêm giá trị, sự hàm súc, sức bay bổng với những khám phá tinh tế, đầy bất ngờ và thú vị. Có lẽ, với những bài thơ ấy, bạn đọc đã từng được đọc, được nghe những lời bình của nhiều tác giả khác nhưng đọc những lời bình giá của Lê Xuân mỗi chúng ta sẽ thấy có nét riêng trong sự khám phá, chỉ ra được hồn cốt cái tinh túy, độc đáo mà tôi tin là bạn đọc sẽ ấn tượng hơn về nó. Tôi thích cách anh bình với ngôn từ đẹp, sự tinh nhạy trong cách cảm, vận dụng linh hoạt kiến thức về ngôn ngữ, thi pháp nhưng không hề khô cứng, máy móc, giáo điều mà gieo vào lòng bạn đọc nhiều những kiến thức, thông điệp bổ ích và để lại những dư ba. Chẳng hạn ở bài Bùa lá của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, nhà phê bình Lê Xuân có đoạn phẩm bình rất hay: “Đọc Bùa lá tôi lại liên tưởng tới chiếc “lá diêu bông” của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Bao nhiêu người mải mê cất công đi tìm để mong được làm chồng cái nhân vật trữ tình kia nhưng đều vô vọng. Gìơ đây biết bao chàng trai lại đi tìm “bùa lá” của chị, và liệu rằng có tìm được không giữa cái mênh mông của biển tình, biển đời.

Mở đầu bài thơ ta bắt gặp hình ảnh “lá vàng” nằm trong cặp câu lục bát biến thể “Lá vàng tôi thả bùa mê/ Có ai nhặt về làm chút duyên chơi, gieo vần vào tiếng thứ tư (về) ở câu “bát”, tách câu thơ làm hai theo nhịp 4/4 tạo âm hưởng không xuôi chèo mát mái như những câu lục bát bình thường. Nó như dự báo sự trắc trở, lỡ làng của duyên muộn. Nhặt “lá vàng” làm “bùa mê” để thả ra giữa dòng đời “cầu duyên” da diết quá, xót xa quá. Nhân vật trữ tình ở đây không có sự “bùng nổ” quyết liệt như trong thơ Hồ Xuân Hương khi xưa “thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình) mà cứ nhẹ nhàng, thủ thỉ độc thoại nội tâm: Lỡ làng mười tám, đôi mươi/ Tôi đi chợ muộn kiếm cơi trầu già/ Chân vương tóc rối chân gà/ Ai mua tôi bán - để mà cầu duyên. Song, điều đáng quý ở nhân vật trữ tình này là chưa hề nguôi tắt niềm tin ở tình yêu cuộc sống, vẫn hy vọng ở chuyện “cầu duyên”.

Hoặc, với bài thơ Cõi người của nhà thơ Lê Quốc Hán, anh cũng có những lời tâm huyết, thấu tình. Bằng vốn kiến thức, sự tinh nhạy trong cách nhìn nhận về con người và cuộc đời mà Lê Xuân đã luận giải một cách biện chứng, sâu sắc. Đó là sự nghịch lý của cõi người. “Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Làm sao cắt nghĩa cõi người”, nó như một phương trình vô định. Có cõi người, cõi đất, cõi âm, cõi dương và “cõi tôi” nữa. Ở đây nhà thơ lạm bàn về “cõi người” qua cái tôi trữ tình. Nghe vừa gần gũi lại vừa xa xôi với một âm hưởng buồn. Và từ đó tứ thơ được triển khai tạo nên sự đối lập, là nghịch lý “Khi vui ứa lệ khi cười đớn đau”. Tôi liên tưởng ngay đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”. Có niềm vui ứa lệ, nước mắt rưng rưng như sau ngày giải phóng cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng. Lại có cái cười ra nước mắt vì đớn đau, vì sự mai mỉa lắng đọng tim gan. Cười vì mình bất lực trước thế sự nhiễu nhương, cười vì một sự sám hối nào đó, hay cười vì trước sự nhỏ nhen ganh tỵ của người đời. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng về “kiếp này”, “kiếp sau”. Tác giả lại lý giải một hiện tượng ngược chiều cuộc sống: “Tim hồng đem muối làm dưa” và “Bẻ hoa rồi dạy cuộc đời yêu hoa”. Sự trách đời và trách mình cứ tăng dần theo cấp số nhân. Theo tư duy lô gic của triết học thì đây là mối quan hệ đối lập giữa hai cặp phạm trù nội dung và hình thức. Người “bẻ hoa” mà lại đi giảng đạo lý cho người “yêu hoa”, kẻ “lưỡi phun nọc rắn” mà miệng vẫn cười như “đùa chơi”. Quả là loại người “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm” (Tục ngữ). Sự đối lập tăng cao ở khổ thơ thứ ba: “Hoàng bào đổi lấy cà sa/ hạt cơm lừa bán Hằng Nga nuôi mình/ ngàn vàng khôn chuộc chữ trinh/ nào ai trao trọn người tình mình yêu”. Sự lừa lọc và giả dối cứ từ từ tiệm tiến. Sự hoán đổi thật trớ trêu như một màn bi hài kịch. Lê Quốc Hán giấu nỗi buồn vào trong mà cứ tủm tĩm cười như chú Cuội, chứ không chán đời trước trần thế còn nhiều cát bụi”…

Phần 3: Những hạt vàng trong sách, với 23 bài giới thiệu về sách của 23 tác giả. Phần này, nhà phê bình Lê Xuân đã giành phần lớn giới thiệu các tác phẩm của các tác giả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18/23). Ở đây có thể coi như một cuộc điểm danh những tên tuổi và tác phẩm ở vùng đất này với những tác giả quen thuộc được nhiều bạn đọc biết đến như: Lâm Tẻn Cuôi, Huệ Thi, Lê Lương Ngọc, Lê Kim Loan, Đặng Tuyết, Lê Ái Siêm, Trương Viết Hùng, Tùng Chương, Huyền Văn, Trần Thanh Chương, Nguyễn Kim Thanh, Đặng Phúc Minh, Dũng Trần, Lương Minh Hinh, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ, Cao Thanh Mai, Lê Quang Vui.

Ở mỗi tác phẩm anh luôn tìm ra những nét độc đáo về phong cách tác giả và sự thành công trong bút pháp biểu hiện ở những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung. Ở đây người đọc bắt gặp sự từng trãi và vốn sống của mỗi tác giả phả vào tác phẩm. Ta thấy chất lính của anh bộ đội Cụ Hồ khá đậm nét qua các truyện ngắn, tản văn, bút ký của HuyềnVăn, Cao Thanh Mai, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ. Tình thơ, tình yêu, tình bạn, tình quê hòa quyện trong thơ Lê Ái Siêm, Lâm Tẻn Cuôi, Tùng Chương, Lê Lương Ngọc, Lê Quang Vui, Huệ Thi, Trương Viết Hùng. Những cảnh sắc miền sông nước Tây Nam Bộ, những con người miệt vườn chất phác, nhân ái, hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, thích ca cải lương, đờn ca tài tử, và đôi khi điệu nghệ cứ hiện lên như sờ nắm được trong những bút ký, tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Kim Thanh, Huyền Văn, Cao Thanh Mai. Đặc biệt anh rất trân trọng những tìm tòi mới lạ về xu hướng hậu hiện đại, ảnh hưởng của trường phái Prớt trong trường ca “Lò Mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà nhiều người còn bàn cãi. Anh đưa ra những nhận định thấu tình đạt lý.

Việc phân chia bố cục của tập sách như thế cùng với những vấn đề được chuyển tải trong tác phẩm, cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, sự chắt chiu và trân trọng những thành quả của người sáng tạo. Ở đó ý thức trách nhiệm, tình yêu và sự dấn thân với văn chương chữ nghĩa được thể hiện rõ nét. Vì thế, tôi rất trân quý và ngưỡng mộ phẩm hạnh người cầm bút tâm huyết mà nhà phê bình Lê Xuân đem tới. Tác phẩm này cũng là lời tri ân, là nén tâm nhang dâng lên anh linh một số tác giả đã rời cõi tạm về miền cực lạc, như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bùi Vợi, Lâm Tẻn Cuôi, Lê Đình Cánh, Bùi Văn Bồng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), Trịnh Anh Đạt, Đoàn Vị Thượng, Đinh Văn Hội, Lâm Văn Lan, Phan Huy.

Với quan niệm về văn chương một cách thấu đáo, sự tương thông linh cảm, ngòi bút tinh tế, sắc sảo của người phê bình nên anh đã có một cái nhìn và đánh giá hài hòa, vừa phải. Anh không quá khắt khe, không dùng phê bình như “ngọn roi” mà luôn có sự nâng niu trân trọng, ghi nhận những điểm mạnh của từng tác giả để tạo động lực cho họ tiếp tục trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Bởi hơn ai hết, Lê Xuân hiểu được nỗi nhọc nhằn, vất vả, chông chênh của người “phu chữ”. Anh cho rằng: “Văn chương là sự ký thác cuộc đời của mỗi tác giả cho đam mê phát sáng và bùng cháy, đem thông điệp cho con người và cuộc sống theo một cảm quan thẩm mỹ. Nhà văn cần nhận ra một điều là ta đang tồn tại trong một hiện thực phức tạp, đa diện, đa chiều để từ đó sáng tạo không ngừng cho tác phẩm có độ “bắt sáng” hiện thực cụ thể. Và tâm hồn phải là một “ăng ten” nhạy cảm, có “đường dẫn” của lý trí sáng suốt”.

Lời đồng vọng 2 với nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều đúc kết giá trị được nhà phê bình Lê Xuân dày công nghiên cứu, cảm nghiệm. Vì thế, tôi cho rằng đây là tập tư liệu quý cho người nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn chương, nhất là những nghiên cứu có liên quan đến văn chương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm