TIN TỨC

“Lời đồng vọng” với những áng văn hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 11:15:19
mail facebook google pos stwis
839 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình. Lời đồng vọng 2, theo tôi đó là tập “Tiểu luận và Phê bình” đầy đặn và chỉn chu cả về nội dung lẫn hình thức.

Lời đồng vọng 2 được bố cục làm ba phần:

Phần 1: Văn học và cuộc sống với chín bài viết rất bổ ích, thể hiện kiến văn sâu rộng của Lê Xuân về đời sống và văn học nghệ thuật. Lê Xuân đặt vấn đề về những kiến thức căn bản, yếu tố cần thiết nhất của một người học tập, nghiên cứu và sáng tạo văn chương. Bạn đọc được trang bị những kiến thức về thơ, yếu tố ngôn ngữ trong một bài thơ; nhà văn cần trang bị những kiến thức gì để có tác phẩm hay; bàn thêm về người viết trẻ… Lê Xuân đã dày công nghiên cứu, tìm tòi, quan sát dõi theo tình hình sáng tác và phê bình văn học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm được xem khá đầy đủ những gương mặt văn nghệ, những đặc trưng nổi bật của văn chương Đồng bằng sông Cửu Long qua từng giai đoạn cụ thể.

Đặc biệt, anh có ba bài viết hay vừa mang tính tổng kết vừa vạch ra những định hướng và dự báo cho văn học Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung: Phương ngữ Nam Bộ - nét đặc sắc của văn học Đồng bằng sông Cửu Long cần lưu giữ; bài Văn học Cần Thơ trước cơ chế thị trường, làm sao để có tác phẩm hay và bài Vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ Cần Thơ trong giai đoạn 1975-2025.

Vốn là một nhà giáo, một nhà báo, một nhà phê bình nên Lê Xuân có những ý kiến khá xác đáng về dạy và học Văn hiện nay, về mối quan hệ giữa người viết phê bình và người sáng tác. Đọc từng câu chữ và cả những đề xuất của anh trong các bài viết mới thấy anh giành tâm sức cho văn chương và tâm huyết với nó biết nhường nào!

Phần 2: Đến với bài thơ hay. Nhà phê bình Lê Xuân phẩm bình 24 bài thơ của 24 tác giả. Nhiều nhà thơ tên tuổi với những bài thơ được định hình theo năm tháng và qua lời bình của anh tăng thêm giá trị, sự hàm súc, sức bay bổng với những khám phá tinh tế, đầy bất ngờ và thú vị. Có lẽ, với những bài thơ ấy, bạn đọc đã từng được đọc, được nghe những lời bình của nhiều tác giả khác nhưng đọc những lời bình giá của Lê Xuân mỗi chúng ta sẽ thấy có nét riêng trong sự khám phá, chỉ ra được hồn cốt cái tinh túy, độc đáo mà tôi tin là bạn đọc sẽ ấn tượng hơn về nó. Tôi thích cách anh bình với ngôn từ đẹp, sự tinh nhạy trong cách cảm, vận dụng linh hoạt kiến thức về ngôn ngữ, thi pháp nhưng không hề khô cứng, máy móc, giáo điều mà gieo vào lòng bạn đọc nhiều những kiến thức, thông điệp bổ ích và để lại những dư ba. Chẳng hạn ở bài Bùa lá của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, nhà phê bình Lê Xuân có đoạn phẩm bình rất hay: “Đọc Bùa lá tôi lại liên tưởng tới chiếc “lá diêu bông” của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Bao nhiêu người mải mê cất công đi tìm để mong được làm chồng cái nhân vật trữ tình kia nhưng đều vô vọng. Gìơ đây biết bao chàng trai lại đi tìm “bùa lá” của chị, và liệu rằng có tìm được không giữa cái mênh mông của biển tình, biển đời.

Mở đầu bài thơ ta bắt gặp hình ảnh “lá vàng” nằm trong cặp câu lục bát biến thể “Lá vàng tôi thả bùa mê/ Có ai nhặt về làm chút duyên chơi, gieo vần vào tiếng thứ tư (về) ở câu “bát”, tách câu thơ làm hai theo nhịp 4/4 tạo âm hưởng không xuôi chèo mát mái như những câu lục bát bình thường. Nó như dự báo sự trắc trở, lỡ làng của duyên muộn. Nhặt “lá vàng” làm “bùa mê” để thả ra giữa dòng đời “cầu duyên” da diết quá, xót xa quá. Nhân vật trữ tình ở đây không có sự “bùng nổ” quyết liệt như trong thơ Hồ Xuân Hương khi xưa “thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình) mà cứ nhẹ nhàng, thủ thỉ độc thoại nội tâm: Lỡ làng mười tám, đôi mươi/ Tôi đi chợ muộn kiếm cơi trầu già/ Chân vương tóc rối chân gà/ Ai mua tôi bán - để mà cầu duyên. Song, điều đáng quý ở nhân vật trữ tình này là chưa hề nguôi tắt niềm tin ở tình yêu cuộc sống, vẫn hy vọng ở chuyện “cầu duyên”.

Hoặc, với bài thơ Cõi người của nhà thơ Lê Quốc Hán, anh cũng có những lời tâm huyết, thấu tình. Bằng vốn kiến thức, sự tinh nhạy trong cách nhìn nhận về con người và cuộc đời mà Lê Xuân đã luận giải một cách biện chứng, sâu sắc. Đó là sự nghịch lý của cõi người. “Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Làm sao cắt nghĩa cõi người”, nó như một phương trình vô định. Có cõi người, cõi đất, cõi âm, cõi dương và “cõi tôi” nữa. Ở đây nhà thơ lạm bàn về “cõi người” qua cái tôi trữ tình. Nghe vừa gần gũi lại vừa xa xôi với một âm hưởng buồn. Và từ đó tứ thơ được triển khai tạo nên sự đối lập, là nghịch lý “Khi vui ứa lệ khi cười đớn đau”. Tôi liên tưởng ngay đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười”. Có niềm vui ứa lệ, nước mắt rưng rưng như sau ngày giải phóng cha mẹ gặp con, vợ gặp chồng. Lại có cái cười ra nước mắt vì đớn đau, vì sự mai mỉa lắng đọng tim gan. Cười vì mình bất lực trước thế sự nhiễu nhương, cười vì một sự sám hối nào đó, hay cười vì trước sự nhỏ nhen ganh tỵ của người đời. Câu thơ mở ra nhiều trường liên tưởng về “kiếp này”, “kiếp sau”. Tác giả lại lý giải một hiện tượng ngược chiều cuộc sống: “Tim hồng đem muối làm dưa” và “Bẻ hoa rồi dạy cuộc đời yêu hoa”. Sự trách đời và trách mình cứ tăng dần theo cấp số nhân. Theo tư duy lô gic của triết học thì đây là mối quan hệ đối lập giữa hai cặp phạm trù nội dung và hình thức. Người “bẻ hoa” mà lại đi giảng đạo lý cho người “yêu hoa”, kẻ “lưỡi phun nọc rắn” mà miệng vẫn cười như “đùa chơi”. Quả là loại người “Khẩu Phật tâm xà” hay “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm” (Tục ngữ). Sự đối lập tăng cao ở khổ thơ thứ ba: “Hoàng bào đổi lấy cà sa/ hạt cơm lừa bán Hằng Nga nuôi mình/ ngàn vàng khôn chuộc chữ trinh/ nào ai trao trọn người tình mình yêu”. Sự lừa lọc và giả dối cứ từ từ tiệm tiến. Sự hoán đổi thật trớ trêu như một màn bi hài kịch. Lê Quốc Hán giấu nỗi buồn vào trong mà cứ tủm tĩm cười như chú Cuội, chứ không chán đời trước trần thế còn nhiều cát bụi”…

Phần 3: Những hạt vàng trong sách, với 23 bài giới thiệu về sách của 23 tác giả. Phần này, nhà phê bình Lê Xuân đã giành phần lớn giới thiệu các tác phẩm của các tác giả ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (18/23). Ở đây có thể coi như một cuộc điểm danh những tên tuổi và tác phẩm ở vùng đất này với những tác giả quen thuộc được nhiều bạn đọc biết đến như: Lâm Tẻn Cuôi, Huệ Thi, Lê Lương Ngọc, Lê Kim Loan, Đặng Tuyết, Lê Ái Siêm, Trương Viết Hùng, Tùng Chương, Huyền Văn, Trần Thanh Chương, Nguyễn Kim Thanh, Đặng Phúc Minh, Dũng Trần, Lương Minh Hinh, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ, Cao Thanh Mai, Lê Quang Vui.

Ở mỗi tác phẩm anh luôn tìm ra những nét độc đáo về phong cách tác giả và sự thành công trong bút pháp biểu hiện ở những hình tượng nghệ thuật để chuyển tải nội dung. Ở đây người đọc bắt gặp sự từng trãi và vốn sống của mỗi tác giả phả vào tác phẩm. Ta thấy chất lính của anh bộ đội Cụ Hồ khá đậm nét qua các truyện ngắn, tản văn, bút ký của HuyềnVăn, Cao Thanh Mai, Nguyễn Duy Chuông, Sáu Nghệ. Tình thơ, tình yêu, tình bạn, tình quê hòa quyện trong thơ Lê Ái Siêm, Lâm Tẻn Cuôi, Tùng Chương, Lê Lương Ngọc, Lê Quang Vui, Huệ Thi, Trương Viết Hùng. Những cảnh sắc miền sông nước Tây Nam Bộ, những con người miệt vườn chất phác, nhân ái, hào hiệp trọng nghĩa khinh tài, thích ca cải lương, đờn ca tài tử, và đôi khi điệu nghệ cứ hiện lên như sờ nắm được trong những bút ký, tản văn, truyện ngắn của Nguyễn Kim Thanh, Huyền Văn, Cao Thanh Mai. Đặc biệt anh rất trân trọng những tìm tòi mới lạ về xu hướng hậu hiện đại, ảnh hưởng của trường phái Prớt trong trường ca “Lò Mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà nhiều người còn bàn cãi. Anh đưa ra những nhận định thấu tình đạt lý.

Việc phân chia bố cục của tập sách như thế cùng với những vấn đề được chuyển tải trong tác phẩm, cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật, sự chắt chiu và trân trọng những thành quả của người sáng tạo. Ở đó ý thức trách nhiệm, tình yêu và sự dấn thân với văn chương chữ nghĩa được thể hiện rõ nét. Vì thế, tôi rất trân quý và ngưỡng mộ phẩm hạnh người cầm bút tâm huyết mà nhà phê bình Lê Xuân đem tới. Tác phẩm này cũng là lời tri ân, là nén tâm nhang dâng lên anh linh một số tác giả đã rời cõi tạm về miền cực lạc, như nhà thơ Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Nguyễn Bùi Vợi, Lâm Tẻn Cuôi, Lê Đình Cánh, Bùi Văn Bồng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), Trịnh Anh Đạt, Đoàn Vị Thượng, Đinh Văn Hội, Lâm Văn Lan, Phan Huy.

Với quan niệm về văn chương một cách thấu đáo, sự tương thông linh cảm, ngòi bút tinh tế, sắc sảo của người phê bình nên anh đã có một cái nhìn và đánh giá hài hòa, vừa phải. Anh không quá khắt khe, không dùng phê bình như “ngọn roi” mà luôn có sự nâng niu trân trọng, ghi nhận những điểm mạnh của từng tác giả để tạo động lực cho họ tiếp tục trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Bởi hơn ai hết, Lê Xuân hiểu được nỗi nhọc nhằn, vất vả, chông chênh của người “phu chữ”. Anh cho rằng: “Văn chương là sự ký thác cuộc đời của mỗi tác giả cho đam mê phát sáng và bùng cháy, đem thông điệp cho con người và cuộc sống theo một cảm quan thẩm mỹ. Nhà văn cần nhận ra một điều là ta đang tồn tại trong một hiện thực phức tạp, đa diện, đa chiều để từ đó sáng tạo không ngừng cho tác phẩm có độ “bắt sáng” hiện thực cụ thể. Và tâm hồn phải là một “ăng ten” nhạy cảm, có “đường dẫn” của lý trí sáng suốt”.

Lời đồng vọng 2 với nhiều phát hiện mới mẻ, nhiều đúc kết giá trị được nhà phê bình Lê Xuân dày công nghiên cứu, cảm nghiệm. Vì thế, tôi cho rằng đây là tập tư liệu quý cho người nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn chương, nhất là những nghiên cứu có liên quan đến văn chương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm