TIN TỨC

Những con chữ cháy đỏ tỏa hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-28 16:36:11
mail facebook google pos stwis
883 lượt xem

Nhà văn KAO SƠN
(Đọc Những ngọn gió biên cương của Trần Mai Hường, NXB Hội Nhà văn 2025)

Trong lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của người Việt, vấn đề an ninh toàn vẹn lãnh thổ luôn được đặt lên hàng đầu. Từng giọt nước trên biển cả, từng tấc đất nơi biên giới và từng ngọn gió ngày đêm thổi xuống tự trời cao, tất cả đều như thấm đẫm từng giọt mồ hôi, giọt máu cha ông.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư..,, điều thiêng liêng ấy đã được khắc lên trời xanh, lên đá xám, ghi trong mỗi trang sử, khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người. Trong văn học Việt Nam, mảng đề tài về chủ quyền đất nước, biên giới, hải đảo từ lâu được xem là một mạch nguồn cảm hứng vô tận, giúp các thế hệ văn nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm văn thơ thấm đẫm lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Và Những ngọn gió biên cương của nhà thơ Trần Mai Hường là một thi tập như thế.

Trần Mai Hường rất thành công về mảng thơ tình đầy nữ tính, viết về tình yêu và thân phận người phụ nữ với ngôn ngữ mới, ma mị, tính ẩn dụ cao và sâu sắc. Nhưng với Những ngọn gió biên cương, Mai Hường lại hiện diện trong một tâm thế hoàn toàn khác. Chị dành trọn tâm huyết cho chủ đề: Chủ quyền biên giới, hải đảo.

Cả tập thơ, như bao trùm lên tất cả, như ôm lấy tất cả vào lòng là màu cờ đỏ. Và trên nền cờ đỏ sao vàng linh thiêng ấy, từng hình ảnh khẳng định chủ quyền đất nước thiêng liêng lần lượt hiện lên: Những cột mốc nơi biên giới, những ngọn sóng xô vào vách đá nơi biển xanh, những bước chân người lính đang đạp lên gai cỏ sắc trong phiên tuần tra hay dầm mình trong làn nước biển mặn chát và lạnh giá nơi đảo nổi đảo chìm...

Cả tập thơ như một bó hương mà ở đó mỗi con chữ như một đốm lửa đang cháy đỏ. Và lẩn quất ảo mờ sau làn khói xanh thơm ấy là bóng lưng còng người mẹ già ngày tiễn con ra trận; là ánh mắt ngấn lệ người vợ trẻ tiễn chồng vào chiến trường xa; là bàn tay thơ dại của đứa trẻ vươn ra chờ đợi ngày bố trở về. Và rồi bom rơi. Đạn nổ. Đất cát tung lên trong khói lửa. Biển dựng sóng: Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Quặn thắt lòng đại dương (Những ngọn sóng tỏa hương). Và hun hút, như dài đến vô tận, như mở ra đến mênh mông là từng hàng mộ chí: Những ngôi mộ xếp hàng dọc hàng ngang thời gian đã phủ/ hương khói nghẹn ngào hương khói linh thiêng.. (Máu đã xanh cây). Và nữa, mười bông hoa trắng trong - mười vầng trăng máu - mười vầng trăng trinh tiết đồng hiện trong đêm rằm thiêng ở nghĩa trang Đồng Lộc... Rồi những trận mưa máu của 81 ngày đêm Thành Cổ…Chưa hết, ngày vàng sao lộng lẫy, người lính trở về vòng ôm không trọn vì đôi tay đã để lại chiến trường... Tất cả như trong một cuốn phim quay chậm theo từng ký tự.

Chủ đề tôn vinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý chí quyết thắng, quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất, từng mét vuông biển đảo... được duy trì và xuyên suốt trong Những ngọn gió biên cương. Để viết về những điều thiêng liêng này, Trần Mai Hường đã chọn một lối đi riêng: Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ bản tráng ca về đất nước con người/ được nối vần từ khai thiên lập địa (Những ngọn gió biên cương). Cách nhìn nhân văn, cách diễn đạt giản dị, gần gũi dễ hiểu, thiêng kính và bao quát. Từ mỗi sự kiện cụ thể nhà thơ đều cố gắng tìm những vấn đề cơ bản nhất, chính yếu nhất và rọi sâu vào đó để tìm cách thể hiện của riêng mình. Những câu thơ được mô tả trực diện mang đến hiệu ứng tích cực giúp người đọc hình dung rõ nét hơn cụ thể hơn những khó khăn của người chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời và từng tấc đất cha ông nơi biên giới.

Viết về những nhân vật cụ thể nhưng Mai Hường không đóng vai một khách thể đứng ngoài để cảm thông, an ủi hay sẻ chia. Chị dùng chính trái tim đầy ắp nữ tính của mình cùng cái nhìn đa cảm, tiếng nói của những người mẹ, người vợ, người yêu để tiếp cận và hóa thân: Giấu buồn vào đêm trắng/ không giấu nổi thanh xuân/ Người đàn bà tiễn chồng nhập ngũ đã nhiều năm/ nhiều năm tóc búi/ Làm vợ được một tuần rồi tiễn chồng ra trận/ rồi một đời làm dâu.../ Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/ Chờ linh hồn anh theo gió bay về (Vợ liệt sĩ). Cách chị chọn chi tiết không có to tát, lên gân mà nhiều khi chỉ là những chấm phá đơn giản nhưng có sức ám gợi mạnh. Nói về sự mất mát chị không trực tả những hi sinh nơi chiến trận, nơi đầu sóng ngọn gió mà hướng ngòi bút về những mảnh vụn để lại sau đó: Những đôi mắt buồn/ Đọng sâu lam lũ/ Đôi mắt người đàn bà luống tuổi thẫn thờ bên thềm đan lưới, hay: Người thiếu phụ/ Vơ vẩn ôm con/ Vơ vẩn mỗi chiều/ Lang thang với hoàng hôn tím ngắt/ đôi mắt người vợ trẻ khi tàu cập bến/ Cứ đầm đìa trong vòng ôm siết/ Những người đàn bà đang độ thanh xuân/ Mà đôi mắt đã mờ bên dốc gió... (Đôi mắt ngươiù đàn bà biển). Ta bắt gặp nỗi ước mong của một người mẹ miền Bắc có con hi sinh ở chiến trường miền Nam: Mẹ ước được vào tận nơi con đã hi sinh/ Nơi con ngã xuống máu xương đã thấm sâu vào đất/ Để được trò chuyện với cánh rừng xanh mướt/ Bởi hồn con cùng đồng đội còn đây... (Ước mong của mẹ). Ta lại bắt gặp những dòng thơ thắt ruột viết về 81 ngày đêm mưa bom chan đất trời Quảng Trị: Mưa đỏ/ Máu đỏ và lửa đỏ/ xé toạc đất trời/ Những mảnh vụn xác người/ Tan cùng tận tiếng bom/ 81 ngày đêm/ 16 ngàn chiến sĩ/ 16 ngàn thanh xuân đã ra đi trong mưa đỏ/ Máu thành bão thành giông thành lửa/ Máu tràn trên dòng sông Thạch Hãn/ Nước và trời soi bóng đỏ trong nhau…(Những trận mưa máu)

Cùng chung mạch chủ đạo về biên cương, Trần Mai Hường còn có một loạt bài mà ở đó những trang viết được vận hành theo kiểu thơ văn xuôi, nhiều khi như những thước phim tài liệu, những ghi chép rời rạc về những sự kiện, tình huống khiến người đọc có cảm giác khi đó cảm xúc đã chi phối tất cả như “Sợi chỉ đỏ H63”; “Cỏ xanh Thành Cổ”; “ Chiếc ba lô của cha”, “Người giữ lửa biên thuỳ”; “Cột mốc sống”... Chính điều này đã tạo cho tác phẩm có một kích cỡ, một khuôn dạng khác biệt và đi cùng với đó là một sự cuốn hút khác biệt.

Không thể có một tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân chung chung và trừu tượng. Để có một tình yêu lớn đích thực, phải có sự thấu hiểu cùng trách nhiệm với từng cá nhân trong cộng đồng mình. Mỗi nhà thơ phải là một Công dân trong một Nhân dân rộng lớn. Nhìn chung, từ cái Tôi của từng cá thể, Trần Mai Hường đã đụng chạm tới được cái Ta. Và khi ấy, cái riêng trở thành một tế bào đỏ thắm tôn vinh và làm hiện hình rõ thêm cái Ta. Người đọc cảm và nhận ra mình trong mỗi câu thơ của chị. Cảm xúc thấm vào chị như những hạt phù sa châu thổ, vừa có được sự náo nức vồ vập vừa đau đáu những gợi cảm cùng những kí ức mới được kiểm nghiệm. Trần Mai Hường rất sáng tạo khi từ thực tế trần trụi thô ráp đã biến hóa, phát triển thành tư duy thơ, hình tượng thơ. Chính vì thế trước những bài thơ của chị luôn có sự cộng hưởng cao về cảm xúc với bạn đọc. Đó là một thành công mà không phải nhà thơ nào cũng có được.

Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm