- Lý luận - Phê bình
- Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Nhà văn KAO SƠN
(Đọc Những ngọn gió biên cương của Trần Mai Hường, NXB Hội Nhà văn 2025)
Trong lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của người Việt, vấn đề an ninh toàn vẹn lãnh thổ luôn được đặt lên hàng đầu. Từng giọt nước trên biển cả, từng tấc đất nơi biên giới và từng ngọn gió ngày đêm thổi xuống tự trời cao, tất cả đều như thấm đẫm từng giọt mồ hôi, giọt máu cha ông.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư..,, điều thiêng liêng ấy đã được khắc lên trời xanh, lên đá xám, ghi trong mỗi trang sử, khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người. Trong văn học Việt Nam, mảng đề tài về chủ quyền đất nước, biên giới, hải đảo từ lâu được xem là một mạch nguồn cảm hứng vô tận, giúp các thế hệ văn nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm văn thơ thấm đẫm lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Và Những ngọn gió biên cương của nhà thơ Trần Mai Hường là một thi tập như thế.
Trần Mai Hường rất thành công về mảng thơ tình đầy nữ tính, viết về tình yêu và thân phận người phụ nữ với ngôn ngữ mới, ma mị, tính ẩn dụ cao và sâu sắc. Nhưng với Những ngọn gió biên cương, Mai Hường lại hiện diện trong một tâm thế hoàn toàn khác. Chị dành trọn tâm huyết cho chủ đề: Chủ quyền biên giới, hải đảo.
Cả tập thơ, như bao trùm lên tất cả, như ôm lấy tất cả vào lòng là màu cờ đỏ. Và trên nền cờ đỏ sao vàng linh thiêng ấy, từng hình ảnh khẳng định chủ quyền đất nước thiêng liêng lần lượt hiện lên: Những cột mốc nơi biên giới, những ngọn sóng xô vào vách đá nơi biển xanh, những bước chân người lính đang đạp lên gai cỏ sắc trong phiên tuần tra hay dầm mình trong làn nước biển mặn chát và lạnh giá nơi đảo nổi đảo chìm...
Cả tập thơ như một bó hương mà ở đó mỗi con chữ như một đốm lửa đang cháy đỏ. Và lẩn quất ảo mờ sau làn khói xanh thơm ấy là bóng lưng còng người mẹ già ngày tiễn con ra trận; là ánh mắt ngấn lệ người vợ trẻ tiễn chồng vào chiến trường xa; là bàn tay thơ dại của đứa trẻ vươn ra chờ đợi ngày bố trở về. Và rồi bom rơi. Đạn nổ. Đất cát tung lên trong khói lửa. Biển dựng sóng: Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Quặn thắt lòng đại dương (Những ngọn sóng tỏa hương). Và hun hút, như dài đến vô tận, như mở ra đến mênh mông là từng hàng mộ chí: Những ngôi mộ xếp hàng dọc hàng ngang thời gian đã phủ/ hương khói nghẹn ngào hương khói linh thiêng.. (Máu đã xanh cây). Và nữa, mười bông hoa trắng trong - mười vầng trăng máu - mười vầng trăng trinh tiết đồng hiện trong đêm rằm thiêng ở nghĩa trang Đồng Lộc... Rồi những trận mưa máu của 81 ngày đêm Thành Cổ…Chưa hết, ngày vàng sao lộng lẫy, người lính trở về vòng ôm không trọn vì đôi tay đã để lại chiến trường... Tất cả như trong một cuốn phim quay chậm theo từng ký tự.

Chủ đề tôn vinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý chí quyết thắng, quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất, từng mét vuông biển đảo... được duy trì và xuyên suốt trong Những ngọn gió biên cương. Để viết về những điều thiêng liêng này, Trần Mai Hường đã chọn một lối đi riêng: Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ bản tráng ca về đất nước con người/ được nối vần từ khai thiên lập địa (Những ngọn gió biên cương). Cách nhìn nhân văn, cách diễn đạt giản dị, gần gũi dễ hiểu, thiêng kính và bao quát. Từ mỗi sự kiện cụ thể nhà thơ đều cố gắng tìm những vấn đề cơ bản nhất, chính yếu nhất và rọi sâu vào đó để tìm cách thể hiện của riêng mình. Những câu thơ được mô tả trực diện mang đến hiệu ứng tích cực giúp người đọc hình dung rõ nét hơn cụ thể hơn những khó khăn của người chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời và từng tấc đất cha ông nơi biên giới.
Viết về những nhân vật cụ thể nhưng Mai Hường không đóng vai một khách thể đứng ngoài để cảm thông, an ủi hay sẻ chia. Chị dùng chính trái tim đầy ắp nữ tính của mình cùng cái nhìn đa cảm, tiếng nói của những người mẹ, người vợ, người yêu để tiếp cận và hóa thân: Giấu buồn vào đêm trắng/ không giấu nổi thanh xuân/ Người đàn bà tiễn chồng nhập ngũ đã nhiều năm/ nhiều năm tóc búi/ Làm vợ được một tuần rồi tiễn chồng ra trận/ rồi một đời làm dâu.../ Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/ Chờ linh hồn anh theo gió bay về (Vợ liệt sĩ). Cách chị chọn chi tiết không có to tát, lên gân mà nhiều khi chỉ là những chấm phá đơn giản nhưng có sức ám gợi mạnh. Nói về sự mất mát chị không trực tả những hi sinh nơi chiến trận, nơi đầu sóng ngọn gió mà hướng ngòi bút về những mảnh vụn để lại sau đó: Những đôi mắt buồn/ Đọng sâu lam lũ/ Đôi mắt người đàn bà luống tuổi thẫn thờ bên thềm đan lưới, hay: Người thiếu phụ/ Vơ vẩn ôm con/ Vơ vẩn mỗi chiều/ Lang thang với hoàng hôn tím ngắt/ đôi mắt người vợ trẻ khi tàu cập bến/ Cứ đầm đìa trong vòng ôm siết/ Những người đàn bà đang độ thanh xuân/ Mà đôi mắt đã mờ bên dốc gió... (Đôi mắt ngươiù đàn bà biển). Ta bắt gặp nỗi ước mong của một người mẹ miền Bắc có con hi sinh ở chiến trường miền Nam: Mẹ ước được vào tận nơi con đã hi sinh/ Nơi con ngã xuống máu xương đã thấm sâu vào đất/ Để được trò chuyện với cánh rừng xanh mướt/ Bởi hồn con cùng đồng đội còn đây... (Ước mong của mẹ). Ta lại bắt gặp những dòng thơ thắt ruột viết về 81 ngày đêm mưa bom chan đất trời Quảng Trị: Mưa đỏ/ Máu đỏ và lửa đỏ/ xé toạc đất trời/ Những mảnh vụn xác người/ Tan cùng tận tiếng bom/ 81 ngày đêm/ 16 ngàn chiến sĩ/ 16 ngàn thanh xuân đã ra đi trong mưa đỏ/ Máu thành bão thành giông thành lửa/ Máu tràn trên dòng sông Thạch Hãn/ Nước và trời soi bóng đỏ trong nhau…(Những trận mưa máu)
Cùng chung mạch chủ đạo về biên cương, Trần Mai Hường còn có một loạt bài mà ở đó những trang viết được vận hành theo kiểu thơ văn xuôi, nhiều khi như những thước phim tài liệu, những ghi chép rời rạc về những sự kiện, tình huống khiến người đọc có cảm giác khi đó cảm xúc đã chi phối tất cả như “Sợi chỉ đỏ H63”; “Cỏ xanh Thành Cổ”; “ Chiếc ba lô của cha”, “Người giữ lửa biên thuỳ”; “Cột mốc sống”... Chính điều này đã tạo cho tác phẩm có một kích cỡ, một khuôn dạng khác biệt và đi cùng với đó là một sự cuốn hút khác biệt.
Không thể có một tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân chung chung và trừu tượng. Để có một tình yêu lớn đích thực, phải có sự thấu hiểu cùng trách nhiệm với từng cá nhân trong cộng đồng mình. Mỗi nhà thơ phải là một Công dân trong một Nhân dân rộng lớn. Nhìn chung, từ cái Tôi của từng cá thể, Trần Mai Hường đã đụng chạm tới được cái Ta. Và khi ấy, cái riêng trở thành một tế bào đỏ thắm tôn vinh và làm hiện hình rõ thêm cái Ta. Người đọc cảm và nhận ra mình trong mỗi câu thơ của chị. Cảm xúc thấm vào chị như những hạt phù sa châu thổ, vừa có được sự náo nức vồ vập vừa đau đáu những gợi cảm cùng những kí ức mới được kiểm nghiệm. Trần Mai Hường rất sáng tạo khi từ thực tế trần trụi thô ráp đã biến hóa, phát triển thành tư duy thơ, hình tượng thơ. Chính vì thế trước những bài thơ của chị luôn có sự cộng hưởng cao về cảm xúc với bạn đọc. Đó là một thành công mà không phải nhà thơ nào cũng có được.
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
