TIN TỨC

Những con chữ cháy đỏ tỏa hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-28 16:36:11
mail facebook google pos stwis
67 lượt xem

Nhà văn KAO SƠN
(Đọc Những ngọn gió biên cương của Trần Mai Hường, NXB Hội Nhà văn 2025)

Trong lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của người Việt, vấn đề an ninh toàn vẹn lãnh thổ luôn được đặt lên hàng đầu. Từng giọt nước trên biển cả, từng tấc đất nơi biên giới và từng ngọn gió ngày đêm thổi xuống tự trời cao, tất cả đều như thấm đẫm từng giọt mồ hôi, giọt máu cha ông.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư..,, điều thiêng liêng ấy đã được khắc lên trời xanh, lên đá xám, ghi trong mỗi trang sử, khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người. Trong văn học Việt Nam, mảng đề tài về chủ quyền đất nước, biên giới, hải đảo từ lâu được xem là một mạch nguồn cảm hứng vô tận, giúp các thế hệ văn nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm văn thơ thấm đẫm lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Và Những ngọn gió biên cương của nhà thơ Trần Mai Hường là một thi tập như thế.

Trần Mai Hường rất thành công về mảng thơ tình đầy nữ tính, viết về tình yêu và thân phận người phụ nữ với ngôn ngữ mới, ma mị, tính ẩn dụ cao và sâu sắc. Nhưng với Những ngọn gió biên cương, Mai Hường lại hiện diện trong một tâm thế hoàn toàn khác. Chị dành trọn tâm huyết cho chủ đề: Chủ quyền biên giới, hải đảo.

Cả tập thơ, như bao trùm lên tất cả, như ôm lấy tất cả vào lòng là màu cờ đỏ. Và trên nền cờ đỏ sao vàng linh thiêng ấy, từng hình ảnh khẳng định chủ quyền đất nước thiêng liêng lần lượt hiện lên: Những cột mốc nơi biên giới, những ngọn sóng xô vào vách đá nơi biển xanh, những bước chân người lính đang đạp lên gai cỏ sắc trong phiên tuần tra hay dầm mình trong làn nước biển mặn chát và lạnh giá nơi đảo nổi đảo chìm...

Cả tập thơ như một bó hương mà ở đó mỗi con chữ như một đốm lửa đang cháy đỏ. Và lẩn quất ảo mờ sau làn khói xanh thơm ấy là bóng lưng còng người mẹ già ngày tiễn con ra trận; là ánh mắt ngấn lệ người vợ trẻ tiễn chồng vào chiến trường xa; là bàn tay thơ dại của đứa trẻ vươn ra chờ đợi ngày bố trở về. Và rồi bom rơi. Đạn nổ. Đất cát tung lên trong khói lửa. Biển dựng sóng: Khói nhang trùm mộ sóng/ Đặc quánh những tầng buồn/ Tiếng vọng từ sâu thẳm/ Quặn thắt lòng đại dương (Những ngọn sóng tỏa hương). Và hun hút, như dài đến vô tận, như mở ra đến mênh mông là từng hàng mộ chí: Những ngôi mộ xếp hàng dọc hàng ngang thời gian đã phủ/ hương khói nghẹn ngào hương khói linh thiêng.. (Máu đã xanh cây). Và nữa, mười bông hoa trắng trong - mười vầng trăng máu - mười vầng trăng trinh tiết đồng hiện trong đêm rằm thiêng ở nghĩa trang Đồng Lộc... Rồi những trận mưa máu của 81 ngày đêm Thành Cổ…Chưa hết, ngày vàng sao lộng lẫy, người lính trở về vòng ôm không trọn vì đôi tay đã để lại chiến trường... Tất cả như trong một cuốn phim quay chậm theo từng ký tự.

Chủ đề tôn vinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý chí quyết thắng, quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất, từng mét vuông biển đảo... được duy trì và xuyên suốt trong Những ngọn gió biên cương. Để viết về những điều thiêng liêng này, Trần Mai Hường đã chọn một lối đi riêng: Cương thổ/ Là máu thịt của dân/ Là lúa gạo ngô khoai là con tôm con cá/ Là mía ngọt ngô non là bầu sữa mẹ/ giọt mồ hôi níu giọt mồ hôi/ bản tráng ca về đất nước con người/ được nối vần từ khai thiên lập địa (Những ngọn gió biên cương). Cách nhìn nhân văn, cách diễn đạt giản dị, gần gũi dễ hiểu, thiêng kính và bao quát. Từ mỗi sự kiện cụ thể nhà thơ đều cố gắng tìm những vấn đề cơ bản nhất, chính yếu nhất và rọi sâu vào đó để tìm cách thể hiện của riêng mình. Những câu thơ được mô tả trực diện mang đến hiệu ứng tích cực giúp người đọc hình dung rõ nét hơn cụ thể hơn những khó khăn của người chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời và từng tấc đất cha ông nơi biên giới.

Viết về những nhân vật cụ thể nhưng Mai Hường không đóng vai một khách thể đứng ngoài để cảm thông, an ủi hay sẻ chia. Chị dùng chính trái tim đầy ắp nữ tính của mình cùng cái nhìn đa cảm, tiếng nói của những người mẹ, người vợ, người yêu để tiếp cận và hóa thân: Giấu buồn vào đêm trắng/ không giấu nổi thanh xuân/ Người đàn bà tiễn chồng nhập ngũ đã nhiều năm/ nhiều năm tóc búi/ Làm vợ được một tuần rồi tiễn chồng ra trận/ rồi một đời làm dâu.../ Đêm đêm ru con bên dốc nhớ/ gọi chồng bên dốc thương/ Nhớ mùi chồng chị chạy ra ngõ ngóng/ Chờ linh hồn anh theo gió bay về (Vợ liệt sĩ). Cách chị chọn chi tiết không có to tát, lên gân mà nhiều khi chỉ là những chấm phá đơn giản nhưng có sức ám gợi mạnh. Nói về sự mất mát chị không trực tả những hi sinh nơi chiến trận, nơi đầu sóng ngọn gió mà hướng ngòi bút về những mảnh vụn để lại sau đó: Những đôi mắt buồn/ Đọng sâu lam lũ/ Đôi mắt người đàn bà luống tuổi thẫn thờ bên thềm đan lưới, hay: Người thiếu phụ/ Vơ vẩn ôm con/ Vơ vẩn mỗi chiều/ Lang thang với hoàng hôn tím ngắt/ đôi mắt người vợ trẻ khi tàu cập bến/ Cứ đầm đìa trong vòng ôm siết/ Những người đàn bà đang độ thanh xuân/ Mà đôi mắt đã mờ bên dốc gió... (Đôi mắt ngươiù đàn bà biển). Ta bắt gặp nỗi ước mong của một người mẹ miền Bắc có con hi sinh ở chiến trường miền Nam: Mẹ ước được vào tận nơi con đã hi sinh/ Nơi con ngã xuống máu xương đã thấm sâu vào đất/ Để được trò chuyện với cánh rừng xanh mướt/ Bởi hồn con cùng đồng đội còn đây... (Ước mong của mẹ). Ta lại bắt gặp những dòng thơ thắt ruột viết về 81 ngày đêm mưa bom chan đất trời Quảng Trị: Mưa đỏ/ Máu đỏ và lửa đỏ/ xé toạc đất trời/ Những mảnh vụn xác người/ Tan cùng tận tiếng bom/ 81 ngày đêm/ 16 ngàn chiến sĩ/ 16 ngàn thanh xuân đã ra đi trong mưa đỏ/ Máu thành bão thành giông thành lửa/ Máu tràn trên dòng sông Thạch Hãn/ Nước và trời soi bóng đỏ trong nhau…(Những trận mưa máu)

Cùng chung mạch chủ đạo về biên cương, Trần Mai Hường còn có một loạt bài mà ở đó những trang viết được vận hành theo kiểu thơ văn xuôi, nhiều khi như những thước phim tài liệu, những ghi chép rời rạc về những sự kiện, tình huống khiến người đọc có cảm giác khi đó cảm xúc đã chi phối tất cả như “Sợi chỉ đỏ H63”; “Cỏ xanh Thành Cổ”; “ Chiếc ba lô của cha”, “Người giữ lửa biên thuỳ”; “Cột mốc sống”... Chính điều này đã tạo cho tác phẩm có một kích cỡ, một khuôn dạng khác biệt và đi cùng với đó là một sự cuốn hút khác biệt.

Không thể có một tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân chung chung và trừu tượng. Để có một tình yêu lớn đích thực, phải có sự thấu hiểu cùng trách nhiệm với từng cá nhân trong cộng đồng mình. Mỗi nhà thơ phải là một Công dân trong một Nhân dân rộng lớn. Nhìn chung, từ cái Tôi của từng cá thể, Trần Mai Hường đã đụng chạm tới được cái Ta. Và khi ấy, cái riêng trở thành một tế bào đỏ thắm tôn vinh và làm hiện hình rõ thêm cái Ta. Người đọc cảm và nhận ra mình trong mỗi câu thơ của chị. Cảm xúc thấm vào chị như những hạt phù sa châu thổ, vừa có được sự náo nức vồ vập vừa đau đáu những gợi cảm cùng những kí ức mới được kiểm nghiệm. Trần Mai Hường rất sáng tạo khi từ thực tế trần trụi thô ráp đã biến hóa, phát triển thành tư duy thơ, hình tượng thơ. Chính vì thế trước những bài thơ của chị luôn có sự cộng hưởng cao về cảm xúc với bạn đọc. Đó là một thành công mà không phải nhà thơ nào cũng có được.

Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm