TIN TỨC

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - tài hoa giữa trần gian đa đoan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-24 02:50:36
mail facebook google pos stwis
1263 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, người được UNESCO tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới năm 2021, không chỉ gây sự chú ý cho hậu thế bởi bà là nhà thơ nữ nổi bật nhất trong văn chương trung đại Việt Nam, trước tác thơ ca táo bạo, độc đáo, “vừa có nét người, vừa có tiên và quỷ trong thơ” (Xuân Diệu), mà còn bởi nhiều góc khuất về số phận.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bức tranh vừa sáng vừa tối, giữa xác thực và huyền thoại. Chính những góc khuất ấy đã khiến bà trở thành hiện tượng đặc biệt – “nữ sĩ tài hoa mà đa đoan”, vừa thật vừa mộng; vừa sống trong sử, vừa ẩn trong thơ…

Cuộc đời nhiều “ẩn khuất”

Theo tìm hiểu của chúng tôi, có nhiều lý do khiến cuộc đời Hồ Xuân Hương được xem là “nhiều ẩn số”. Trước nhất là việc thiếu tư liệu lịch sử xác thực. Hầu như không có tài liệu chính thức nào ghi chép đầy đủ về tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Các sách sử, như Đại Nam thực lục, Quốc sử quán (triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí… đều không đề cập rõ ràng đến bà. Phần lớn những gì chúng ta biết được hôm nay chủ yếu dựa vào giai thoại, từ truyền miệng hoặc suy đoán từ sáng tác.

Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thân thế và quê quán của Hồ Xuân Hương cũng chưa rõ ràng. Có người cho rằng quê bà ở Nghệ An, theo dòng họ Hồ, rồi phiêu dạt ra Thăng Long. Có người lại khẳng định bà sinh ra ở phường Khán Xuân (Hà Nội), nay thuộc Hồ Tây. Ngay cả năm sinh và mất cũng không thống nhất. Có tài liệu ghi 1772-1822 nhưng cũng có nguồn cho là 1778-1828. Sách giáo khoa nhà trường thì ghi ? - ?, nghĩa là chưa rõ cụ thể năm sinh và mất. Về vấn đề thân phận và hôn nhân cũng nhiều uẩn khuất. Giai thoại kể bà từng làm lẽ cho Tổng Cóc, rồi Tổng Quỳ, nhưng các nhân vật này cũng mơ hồ, không có ghi chép chính thức. Nhiều người cho rằng bà bị ép duyên, sống cảnh “chồng chung”, điều đó giải thích cho giọng thơ đầy phẫn uất và khát khao tự do. Một số học giả còn nghi ngờ có hai “Hồ Xuân Hương” khác nhau, một người sống thời Lê mạt, một người thời Nguyễn sơ, do văn phong thơ có sự khác biệt.

Tác phẩm thơ có nhiều tranh cãi về tác giả là tập Lưu Hương Ký, được coi là thơ của Hồ Xuân Hương song trước đây vẫn tồn nghi về tác giả. Có ý kiến cho rằng có phần thơ của người khác được gán tên bà. Một số bài “tục mà thanh” lưu truyền bằng truyền miệng, nên việc xác định đâu là thơ thật của bà vẫn còn chưa rõ ràng (theo Wikipedia về Hồ Xuân Hương).

Một điểm nữa là thiếu dấu tích về hậu phận và nơi an táng. Không có ghi chép chính xác bà mất năm nào, mộ ở đâu. Một vài địa danh như Nghệ An, Nam Định, Hà Nội đều có “truyền thuyết” là nơi an nghỉ của bà, điều này càng khiến cuộc đời bà thêm phần huyền bí.

Tình duyên lận đận

Đường tình duyên lận đận là một trong những điểm “bi kịch sâu sắc nhất” trong cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương làm “nền” cho giọng thơ vừa đằm thắm, vừa chua cay và đầy phẫn uất. Các tư liệu dân gian, giai thoại và thơ ca cho thấy rõ điều đó. Người con gái tài hoa nhưng lẻ loi. Hồ Xuân Hương nổi tiếng tài sắc, thông minh, văn chương lỗi lạc, lại có cá tính mạnh mẽ, tự tin. Nhưng xã hội phong kiến thời ấy khắt khe với phụ nữ, coi “tài tình” là mối họa cho thân, khiến bà dù được ngưỡng mộ vẫn khó tìm được hạnh phúc trọn vẹn. Có thể vì vậy mà trong thơ bà vang lên nhiều tiếng than thân trách phận của phụ nữ cô đơn: “Thân này ví xẻ làm đôi được/ Nửa để trong nhà, nửa đệ ra” (theo Quốc văn tùng ký).

Cuộc hôn nhân với Tổng Cóc là nỗi đau “làm lẽ”. Giai thoại nổi tiếng nhất kể rằng bà làm lẽ cho Tổng Cóc, một viên quan hào phú nhưng thô kệch. Cuộc hôn nhân ấy không mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến tủi nhục, vì bà phải sống cảnh “chồng chung”, bị coi là người thứ hai. Bài thơ Làm lẽ được xem là tiếng lòng của bà trong giai đoạn ấy:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Thân này ví biết dường này nhỉ,

Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Những câu thơ ấy vừa táo bạo, vừa xót xa, cho thấy nỗi đau thân phận người phụ nữ tự do bị trói vào vòng lễ giáo. Cuộc tình dang dở thứ hai với Tổng Quỳ. Sau khi Tổng Cóc mất (theo giai thoại), bà lại nên duyên với Tổng Quỳ - người được cho là hiền hậu, biết trọng tài năng của bà. Nhưng duyên phận lại ngắn ngủi, Tổng Quỳ qua đời sớm, để lại bà một lần nữa lẻ bóng. Người đời nói rằng chính sau cú sốc ấy, thơ bà càng sâu cay, phẫn uất, tràn ngập ý thức phản kháng, tự do và khát vọng sống trọn vẹn hơn. Cuối đời, không có chứng cứ nào nói bà tái giá sau đó. Một số giả thuyết cho rằng bà sống ẩn dật, tiếp tục sáng tác thơ.

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bi kịch của một người đàn bà tài hoa trong xã hội bất công, khao khát yêu thương nhưng luôn gặp duyên phận éo le. Chính những mối tình dang dở và nỗi cô đơn ấy đã nuôi dưỡng một giọng thơ vừa tình tứ, vừa chua cay và nhân bản, khiến tên tuổi bà sống mãi như bông hoa lạ giữa vườn thơ Việt Nam trung đại, “đầy tinh thần chống lễ giáo phong kiến và giàu lòng nhân đạo, chứa chan lòng yêu đời” (Đặng Thanh Lê, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, 1963).

Vì sao Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”?

Nhà thơ Xuân Diệu đã tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm” trong bài tiểu luận có tựa đề “Hồ Xuân Hương - Bà Chúa thơ Nôm” vào năm 1958, sau đó được đưa vào cuốn phê bình văn học Các nhà thơ cổ điển Việt Nam.

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ Nôm từng được nhiều tác giả sử dụng, song chỉ đến Hồ Xuân Hương, tiếng Nôm mới thật sự đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ. Bà biến ngôn ngữ dân gian mộc mạc trở nên tinh tế, hóm hỉnh, có chiều sâu triết lý và sức lay động mạnh mẽ. Những hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật như bánh trôi, cái quạt, quả mít, hang Cắc Cớ… qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương bỗng hóa thành biểu tượng cho thân phận và khát vọng của người phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tự do, phản kháng, là sự nổi loạn của một tâm hồn tài hoa bị lễ giáo trói buộc. Bà dám nói thẳng, nói thật, nói hết nỗi đau và khát vọng yêu thương, từ đó khẳng định phẩm giá và quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Giáo sư Nguyễn Lộc (trong Thơ Hồ Xuân Hương, 1982) nhận xét khá tường tận: “Dường như không chỉ là ý thức mà đã trở thành tiềm thức, Hồ Xuân Hương có một lòng tin mãnh liệt vào tài năng sáng tạo của người phụ nữ”. Chính niềm tin này vực dậy nơi bà nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận, với bút lực ngôn từ “của một thế giới âm thanh rộn rã, náo động” (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 5, 1990), xứng đáng với “chúa” về làm thơ chữ Nôm.

Với giọng thơ “tục mà thanh”, vừa đậm chất dân gian, vừa sâu sắc trí tuệ, Hồ Xuân Hương đã làm chủ hoàn toàn tiếng nói dân tộc và nâng nó lên tầm nghệ thuật bác học. Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” vì thế là sự tôn vinh xứng đáng cho một tài năng kỳ lạ - người đã biến tiếng Việt thành tiếng cười, tiếng khóc và tiếng thở dài đầy nhân bản, thấm đẫm chất văn hóa dân tộc Việt Nam.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm