TIN TỨC

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - tài hoa giữa trần gian đa đoan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-24 02:50:36
mail facebook google pos stwis
685 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, người được UNESCO tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới năm 2021, không chỉ gây sự chú ý cho hậu thế bởi bà là nhà thơ nữ nổi bật nhất trong văn chương trung đại Việt Nam, trước tác thơ ca táo bạo, độc đáo, “vừa có nét người, vừa có tiên và quỷ trong thơ” (Xuân Diệu), mà còn bởi nhiều góc khuất về số phận.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bức tranh vừa sáng vừa tối, giữa xác thực và huyền thoại. Chính những góc khuất ấy đã khiến bà trở thành hiện tượng đặc biệt – “nữ sĩ tài hoa mà đa đoan”, vừa thật vừa mộng; vừa sống trong sử, vừa ẩn trong thơ…

Cuộc đời nhiều “ẩn khuất”

Theo tìm hiểu của chúng tôi, có nhiều lý do khiến cuộc đời Hồ Xuân Hương được xem là “nhiều ẩn số”. Trước nhất là việc thiếu tư liệu lịch sử xác thực. Hầu như không có tài liệu chính thức nào ghi chép đầy đủ về tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Các sách sử, như Đại Nam thực lục, Quốc sử quán (triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí… đều không đề cập rõ ràng đến bà. Phần lớn những gì chúng ta biết được hôm nay chủ yếu dựa vào giai thoại, từ truyền miệng hoặc suy đoán từ sáng tác.

Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thân thế và quê quán của Hồ Xuân Hương cũng chưa rõ ràng. Có người cho rằng quê bà ở Nghệ An, theo dòng họ Hồ, rồi phiêu dạt ra Thăng Long. Có người lại khẳng định bà sinh ra ở phường Khán Xuân (Hà Nội), nay thuộc Hồ Tây. Ngay cả năm sinh và mất cũng không thống nhất. Có tài liệu ghi 1772-1822 nhưng cũng có nguồn cho là 1778-1828. Sách giáo khoa nhà trường thì ghi ? - ?, nghĩa là chưa rõ cụ thể năm sinh và mất. Về vấn đề thân phận và hôn nhân cũng nhiều uẩn khuất. Giai thoại kể bà từng làm lẽ cho Tổng Cóc, rồi Tổng Quỳ, nhưng các nhân vật này cũng mơ hồ, không có ghi chép chính thức. Nhiều người cho rằng bà bị ép duyên, sống cảnh “chồng chung”, điều đó giải thích cho giọng thơ đầy phẫn uất và khát khao tự do. Một số học giả còn nghi ngờ có hai “Hồ Xuân Hương” khác nhau, một người sống thời Lê mạt, một người thời Nguyễn sơ, do văn phong thơ có sự khác biệt.

Tác phẩm thơ có nhiều tranh cãi về tác giả là tập Lưu Hương Ký, được coi là thơ của Hồ Xuân Hương song trước đây vẫn tồn nghi về tác giả. Có ý kiến cho rằng có phần thơ của người khác được gán tên bà. Một số bài “tục mà thanh” lưu truyền bằng truyền miệng, nên việc xác định đâu là thơ thật của bà vẫn còn chưa rõ ràng (theo Wikipedia về Hồ Xuân Hương).

Một điểm nữa là thiếu dấu tích về hậu phận và nơi an táng. Không có ghi chép chính xác bà mất năm nào, mộ ở đâu. Một vài địa danh như Nghệ An, Nam Định, Hà Nội đều có “truyền thuyết” là nơi an nghỉ của bà, điều này càng khiến cuộc đời bà thêm phần huyền bí.

Tình duyên lận đận

Đường tình duyên lận đận là một trong những điểm “bi kịch sâu sắc nhất” trong cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương làm “nền” cho giọng thơ vừa đằm thắm, vừa chua cay và đầy phẫn uất. Các tư liệu dân gian, giai thoại và thơ ca cho thấy rõ điều đó. Người con gái tài hoa nhưng lẻ loi. Hồ Xuân Hương nổi tiếng tài sắc, thông minh, văn chương lỗi lạc, lại có cá tính mạnh mẽ, tự tin. Nhưng xã hội phong kiến thời ấy khắt khe với phụ nữ, coi “tài tình” là mối họa cho thân, khiến bà dù được ngưỡng mộ vẫn khó tìm được hạnh phúc trọn vẹn. Có thể vì vậy mà trong thơ bà vang lên nhiều tiếng than thân trách phận của phụ nữ cô đơn: “Thân này ví xẻ làm đôi được/ Nửa để trong nhà, nửa đệ ra” (theo Quốc văn tùng ký).

Cuộc hôn nhân với Tổng Cóc là nỗi đau “làm lẽ”. Giai thoại nổi tiếng nhất kể rằng bà làm lẽ cho Tổng Cóc, một viên quan hào phú nhưng thô kệch. Cuộc hôn nhân ấy không mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến tủi nhục, vì bà phải sống cảnh “chồng chung”, bị coi là người thứ hai. Bài thơ Làm lẽ được xem là tiếng lòng của bà trong giai đoạn ấy:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Thân này ví biết dường này nhỉ,

Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Những câu thơ ấy vừa táo bạo, vừa xót xa, cho thấy nỗi đau thân phận người phụ nữ tự do bị trói vào vòng lễ giáo. Cuộc tình dang dở thứ hai với Tổng Quỳ. Sau khi Tổng Cóc mất (theo giai thoại), bà lại nên duyên với Tổng Quỳ - người được cho là hiền hậu, biết trọng tài năng của bà. Nhưng duyên phận lại ngắn ngủi, Tổng Quỳ qua đời sớm, để lại bà một lần nữa lẻ bóng. Người đời nói rằng chính sau cú sốc ấy, thơ bà càng sâu cay, phẫn uất, tràn ngập ý thức phản kháng, tự do và khát vọng sống trọn vẹn hơn. Cuối đời, không có chứng cứ nào nói bà tái giá sau đó. Một số giả thuyết cho rằng bà sống ẩn dật, tiếp tục sáng tác thơ.

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bi kịch của một người đàn bà tài hoa trong xã hội bất công, khao khát yêu thương nhưng luôn gặp duyên phận éo le. Chính những mối tình dang dở và nỗi cô đơn ấy đã nuôi dưỡng một giọng thơ vừa tình tứ, vừa chua cay và nhân bản, khiến tên tuổi bà sống mãi như bông hoa lạ giữa vườn thơ Việt Nam trung đại, “đầy tinh thần chống lễ giáo phong kiến và giàu lòng nhân đạo, chứa chan lòng yêu đời” (Đặng Thanh Lê, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, 1963).

Vì sao Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”?

Nhà thơ Xuân Diệu đã tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm” trong bài tiểu luận có tựa đề “Hồ Xuân Hương - Bà Chúa thơ Nôm” vào năm 1958, sau đó được đưa vào cuốn phê bình văn học Các nhà thơ cổ điển Việt Nam.

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ Nôm từng được nhiều tác giả sử dụng, song chỉ đến Hồ Xuân Hương, tiếng Nôm mới thật sự đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ. Bà biến ngôn ngữ dân gian mộc mạc trở nên tinh tế, hóm hỉnh, có chiều sâu triết lý và sức lay động mạnh mẽ. Những hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật như bánh trôi, cái quạt, quả mít, hang Cắc Cớ… qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương bỗng hóa thành biểu tượng cho thân phận và khát vọng của người phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tự do, phản kháng, là sự nổi loạn của một tâm hồn tài hoa bị lễ giáo trói buộc. Bà dám nói thẳng, nói thật, nói hết nỗi đau và khát vọng yêu thương, từ đó khẳng định phẩm giá và quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Giáo sư Nguyễn Lộc (trong Thơ Hồ Xuân Hương, 1982) nhận xét khá tường tận: “Dường như không chỉ là ý thức mà đã trở thành tiềm thức, Hồ Xuân Hương có một lòng tin mãnh liệt vào tài năng sáng tạo của người phụ nữ”. Chính niềm tin này vực dậy nơi bà nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận, với bút lực ngôn từ “của một thế giới âm thanh rộn rã, náo động” (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 5, 1990), xứng đáng với “chúa” về làm thơ chữ Nôm.

Với giọng thơ “tục mà thanh”, vừa đậm chất dân gian, vừa sâu sắc trí tuệ, Hồ Xuân Hương đã làm chủ hoàn toàn tiếng nói dân tộc và nâng nó lên tầm nghệ thuật bác học. Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” vì thế là sự tôn vinh xứng đáng cho một tài năng kỳ lạ - người đã biến tiếng Việt thành tiếng cười, tiếng khóc và tiếng thở dài đầy nhân bản, thấm đẫm chất văn hóa dân tộc Việt Nam.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm