TIN TỨC

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - tài hoa giữa trần gian đa đoan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-24 02:50:36
mail facebook google pos stwis
824 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, người được UNESCO tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới năm 2021, không chỉ gây sự chú ý cho hậu thế bởi bà là nhà thơ nữ nổi bật nhất trong văn chương trung đại Việt Nam, trước tác thơ ca táo bạo, độc đáo, “vừa có nét người, vừa có tiên và quỷ trong thơ” (Xuân Diệu), mà còn bởi nhiều góc khuất về số phận.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bức tranh vừa sáng vừa tối, giữa xác thực và huyền thoại. Chính những góc khuất ấy đã khiến bà trở thành hiện tượng đặc biệt – “nữ sĩ tài hoa mà đa đoan”, vừa thật vừa mộng; vừa sống trong sử, vừa ẩn trong thơ…

Cuộc đời nhiều “ẩn khuất”

Theo tìm hiểu của chúng tôi, có nhiều lý do khiến cuộc đời Hồ Xuân Hương được xem là “nhiều ẩn số”. Trước nhất là việc thiếu tư liệu lịch sử xác thực. Hầu như không có tài liệu chính thức nào ghi chép đầy đủ về tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Các sách sử, như Đại Nam thực lục, Quốc sử quán (triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí… đều không đề cập rõ ràng đến bà. Phần lớn những gì chúng ta biết được hôm nay chủ yếu dựa vào giai thoại, từ truyền miệng hoặc suy đoán từ sáng tác.

Theo Từ điển Văn học (bộ mới), thân thế và quê quán của Hồ Xuân Hương cũng chưa rõ ràng. Có người cho rằng quê bà ở Nghệ An, theo dòng họ Hồ, rồi phiêu dạt ra Thăng Long. Có người lại khẳng định bà sinh ra ở phường Khán Xuân (Hà Nội), nay thuộc Hồ Tây. Ngay cả năm sinh và mất cũng không thống nhất. Có tài liệu ghi 1772-1822 nhưng cũng có nguồn cho là 1778-1828. Sách giáo khoa nhà trường thì ghi ? - ?, nghĩa là chưa rõ cụ thể năm sinh và mất. Về vấn đề thân phận và hôn nhân cũng nhiều uẩn khuất. Giai thoại kể bà từng làm lẽ cho Tổng Cóc, rồi Tổng Quỳ, nhưng các nhân vật này cũng mơ hồ, không có ghi chép chính thức. Nhiều người cho rằng bà bị ép duyên, sống cảnh “chồng chung”, điều đó giải thích cho giọng thơ đầy phẫn uất và khát khao tự do. Một số học giả còn nghi ngờ có hai “Hồ Xuân Hương” khác nhau, một người sống thời Lê mạt, một người thời Nguyễn sơ, do văn phong thơ có sự khác biệt.

Tác phẩm thơ có nhiều tranh cãi về tác giả là tập Lưu Hương Ký, được coi là thơ của Hồ Xuân Hương song trước đây vẫn tồn nghi về tác giả. Có ý kiến cho rằng có phần thơ của người khác được gán tên bà. Một số bài “tục mà thanh” lưu truyền bằng truyền miệng, nên việc xác định đâu là thơ thật của bà vẫn còn chưa rõ ràng (theo Wikipedia về Hồ Xuân Hương).

Một điểm nữa là thiếu dấu tích về hậu phận và nơi an táng. Không có ghi chép chính xác bà mất năm nào, mộ ở đâu. Một vài địa danh như Nghệ An, Nam Định, Hà Nội đều có “truyền thuyết” là nơi an nghỉ của bà, điều này càng khiến cuộc đời bà thêm phần huyền bí.

Tình duyên lận đận

Đường tình duyên lận đận là một trong những điểm “bi kịch sâu sắc nhất” trong cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương làm “nền” cho giọng thơ vừa đằm thắm, vừa chua cay và đầy phẫn uất. Các tư liệu dân gian, giai thoại và thơ ca cho thấy rõ điều đó. Người con gái tài hoa nhưng lẻ loi. Hồ Xuân Hương nổi tiếng tài sắc, thông minh, văn chương lỗi lạc, lại có cá tính mạnh mẽ, tự tin. Nhưng xã hội phong kiến thời ấy khắt khe với phụ nữ, coi “tài tình” là mối họa cho thân, khiến bà dù được ngưỡng mộ vẫn khó tìm được hạnh phúc trọn vẹn. Có thể vì vậy mà trong thơ bà vang lên nhiều tiếng than thân trách phận của phụ nữ cô đơn: “Thân này ví xẻ làm đôi được/ Nửa để trong nhà, nửa đệ ra” (theo Quốc văn tùng ký).

Cuộc hôn nhân với Tổng Cóc là nỗi đau “làm lẽ”. Giai thoại nổi tiếng nhất kể rằng bà làm lẽ cho Tổng Cóc, một viên quan hào phú nhưng thô kệch. Cuộc hôn nhân ấy không mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến tủi nhục, vì bà phải sống cảnh “chồng chung”, bị coi là người thứ hai. Bài thơ Làm lẽ được xem là tiếng lòng của bà trong giai đoạn ấy:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Thân này ví biết dường này nhỉ,

Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Những câu thơ ấy vừa táo bạo, vừa xót xa, cho thấy nỗi đau thân phận người phụ nữ tự do bị trói vào vòng lễ giáo. Cuộc tình dang dở thứ hai với Tổng Quỳ. Sau khi Tổng Cóc mất (theo giai thoại), bà lại nên duyên với Tổng Quỳ - người được cho là hiền hậu, biết trọng tài năng của bà. Nhưng duyên phận lại ngắn ngủi, Tổng Quỳ qua đời sớm, để lại bà một lần nữa lẻ bóng. Người đời nói rằng chính sau cú sốc ấy, thơ bà càng sâu cay, phẫn uất, tràn ngập ý thức phản kháng, tự do và khát vọng sống trọn vẹn hơn. Cuối đời, không có chứng cứ nào nói bà tái giá sau đó. Một số giả thuyết cho rằng bà sống ẩn dật, tiếp tục sáng tác thơ.

Cuộc đời Hồ Xuân Hương là bi kịch của một người đàn bà tài hoa trong xã hội bất công, khao khát yêu thương nhưng luôn gặp duyên phận éo le. Chính những mối tình dang dở và nỗi cô đơn ấy đã nuôi dưỡng một giọng thơ vừa tình tứ, vừa chua cay và nhân bản, khiến tên tuổi bà sống mãi như bông hoa lạ giữa vườn thơ Việt Nam trung đại, “đầy tinh thần chống lễ giáo phong kiến và giàu lòng nhân đạo, chứa chan lòng yêu đời” (Đặng Thanh Lê, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3, 1963).

Vì sao Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”?

Nhà thơ Xuân Diệu đã tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm” trong bài tiểu luận có tựa đề “Hồ Xuân Hương - Bà Chúa thơ Nôm” vào năm 1958, sau đó được đưa vào cuốn phê bình văn học Các nhà thơ cổ điển Việt Nam.

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ Nôm từng được nhiều tác giả sử dụng, song chỉ đến Hồ Xuân Hương, tiếng Nôm mới thật sự đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ. Bà biến ngôn ngữ dân gian mộc mạc trở nên tinh tế, hóm hỉnh, có chiều sâu triết lý và sức lay động mạnh mẽ. Những hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật như bánh trôi, cái quạt, quả mít, hang Cắc Cớ… qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương bỗng hóa thành biểu tượng cho thân phận và khát vọng của người phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói tự do, phản kháng, là sự nổi loạn của một tâm hồn tài hoa bị lễ giáo trói buộc. Bà dám nói thẳng, nói thật, nói hết nỗi đau và khát vọng yêu thương, từ đó khẳng định phẩm giá và quyền sống của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Giáo sư Nguyễn Lộc (trong Thơ Hồ Xuân Hương, 1982) nhận xét khá tường tận: “Dường như không chỉ là ý thức mà đã trở thành tiềm thức, Hồ Xuân Hương có một lòng tin mãnh liệt vào tài năng sáng tạo của người phụ nữ”. Chính niềm tin này vực dậy nơi bà nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận, với bút lực ngôn từ “của một thế giới âm thanh rộn rã, náo động” (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 5, 1990), xứng đáng với “chúa” về làm thơ chữ Nôm.

Với giọng thơ “tục mà thanh”, vừa đậm chất dân gian, vừa sâu sắc trí tuệ, Hồ Xuân Hương đã làm chủ hoàn toàn tiếng nói dân tộc và nâng nó lên tầm nghệ thuật bác học. Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” vì thế là sự tôn vinh xứng đáng cho một tài năng kỳ lạ - người đã biến tiếng Việt thành tiếng cười, tiếng khóc và tiếng thở dài đầy nhân bản, thấm đẫm chất văn hóa dân tộc Việt Nam.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm