TIN TỨC

Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-04 03:38:50
mail facebook google pos stwis
200 lượt xem

“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.

Không phải một sự tình cờ, đây là một sự gặp gỡ có chủ ý – giữa người đọc và chính tác giả của những câu thơ được viết ra từ chiều sâu trăn trở.

 

Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên - ảnh 1

"Thơ mất ngủ" nằm trong tập thơ "Hạt mưa thầm" của nhạc sĩ Lê Ngọc Ninh

 

Được viết từ gần một thập kỉ trước, trong bối cảnh những vấn đề môi trường chưa trở thành chủ đề nóng như hiện nay, “Thơ mất ngủ” cho thấy một trực giác sớm và sâu về những rạn nứt đang hình thành trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.

Vì thế, khi nghe chính tác giả đọc lại những vần thơ của mình, người đọc không có cảm giác đang đối diện với một bài thơ “rất thời sự”, mà là một nỗi lo đã lắng đọng, tích tụ và ngày càng trở nên nặng nề theo thời gian.

“Thơ mất ngủ” không kể một câu chuyện cá nhân. Đó là tiếng nói của lương tri khi đối diện với thực trạng thiên nhiên đang bị tổn thương nghiêm trọng: sông ngòi cạn kiệt, rừng suy kiệt, muôn loài đói khát trong một thế giới đang biến đổi quá nhanh.

Trong bối cảnh ấy, mất ngủ không còn là trạng thái riêng của một con người, mà là trạng thái chung của xã hội – của những ai còn đủ tỉnh táo để không thể nhắm mắt làm ngơ.

Điều khiến “Thơ mất ngủ” gây xúc động không nằm ở bi kịch được mô tả, mà ở ánh nhìn của người viết. Đó là một ánh nhìn không cực đoan, không lên án ồn ào, nhưng thấm đẫm nỗi đau âm ỉ trước sự tàn phá của thiên nhiên – đôi khi diễn ra ngay trong vô thức của con người.

Những dòng thơ chạm tới người đọc không chỉ bằng vần điệu, mà bằng sự đồng điệu về nỗi lo và trách nhiệm.

Đáng chú ý, tác giả của “Thơ mất ngủ” không xuất thân từ môi trường sáng tác thuần tuý, mà là một nhà khoa học, một người gắn bó với lĩnh vực kĩ thuật – nơi đòi hỏi sự chính xác, khắt khe và lí trí.

Chính sự kết hợp hiếm hoi giữa tư duy khoa học và một tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên đã tạo nên chiều sâu đặc biệt cho tác phẩm. Đó là sự hoà quyện giữa lí trí và cảm xúc, giữa phân tích và trắc ẩn – điều không dễ tìm trong đời sống hiện đại.

Ở tầng nghĩa rộng hơn, cụm từ “Thơ mất ngủ” không chỉ gợi trạng thái của một cá nhân, mà phản chiếu sự vận hành của cả xã hội, của một quốc gia và thậm chí là của thế giới hôm nay.

 

Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên - ảnh 3

 

Một đất nước không thể phát triển bền vững nếu chỉ đo lường thành công bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà bỏ qua những chỉ số sống còn của môi trường, sức khỏe cộng đồng, khả năng phục hồi sinh thái và đời sống tinh thần con người.

Trong nhiều thập kỉ, tư duy “đánh đổi” đã trở nên quen thuộc: đánh đổi rừng lấy tăng trưởng, đánh đổi sông lấy công nghiệp, đánh đổi không khí lấy tiện nghi, và thậm chí đánh đổi cả tương lai cho lợi ích trước mắt. Nhưng tự nhiên không vận hành theo logic nhiệm kì, cũng không chờ con người “sẵn sàng”.

Tự nhiên chỉ phản hồi. Và khi những phản hồi ấy bị dồn nén đủ lâu, chúng sẽ trở thành thiên tai, khủng hoảng, dịch bệnh, di cư khí hậu và xung đột tài nguyên – những vấn đề không còn thuộc phạm trù môi trường đơn thuần, mà là an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu.

Từ góc nhìn đó, “Thơ mất ngủ” đặt ra một câu hỏi căn bản: con người sẽ sống thế nào trên một hành tinh ngày càng khắc nghiệt? Khi khí hậu cực đoan trở thành “bình thường mới”, khi tài nguyên nước và lương thực bị tái phân bổ bất công, khi những vùng đất từng trù phú trở nên không còn khả năng cư trú, thì khái niệm biên giới, phát triển và thịnh vượng cũng buộc phải được nhìn lại.

Trong bối cảnh ấy, vai trò của những con người biết lắng nghe, biết trăn trở và dám đau trước thiên nhiên trở nên đặc biệt quan trọng. Họ là những người nhìn thấy sớm, cảnh báo sớm và đặt câu hỏi trước khi thảm họa xảy ra.

Vì lẽ đó, “Thơ mất ngủ” của TS Ngọc Lê Ninh không chỉ là một tác phẩm thi ca, mà còn là một dạng cảnh báo mềm – không ồn ào, không cực đoan, nhưng bền bỉ và không thỏa hiệp.

 

Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên - ảnh 4

Nhạc sĩ Lê Ngọc Ninh

 

Thông điệp mà bài thơ gợi mở không nằm ở sự bi quan, mà ở lời nhắc tỉnh táo: con người không thể ngủ yên khi thiên nhiên đang hấp hối; không thể thờ ơ khi chính mình là tác nhân của những mùa thảm họa.

Một thế giới bền vững không thể chỉ “xanh” trên khẩu hiệu, mà còn phải là một thế giới biết dừng đúng lúc, giữ đúng chỗ và đầu tư cho những giá trị không thể phục hồi nếu mất đi.

Suy cho cùng, “Thơ mất ngủ” không phải là lời than thở. Đó là một lời nhắc nhẫn nại nhưng cương quyết: vẫn còn những người đang canh thức cho tương lai này. Và đã đến lúc, không chỉ một vài cá nhân, mà cả cộng đồng – thậm chí cả nhân loại – phải tỉnh dậy trước khi quá muộn.

Đọc “Thơ mất ngủ” hôm nay, càng thấy rõ trách nhiệm không chỉ dừng ở sự xúc động hay đồng cảm, mà phải được chuyển hoá thành hành động, để không còn những đêm mất ngủ vì một Trái Đất đang chết dần, và để lương tri – như những vần thơ ấy – chưa bao giờ thực sự ngủ quên.

Thảo Nguyên/Báo Văn Hóa

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm