TIN TỨC

Nghe sóng giữa trùng khơi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-27 23:04:03
mail facebook google pos stwis
235 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.

Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.

 

Bìa cuốn Trùng khơi nghe sóng

 

1. Trùng khơi nghe sóng tái hiện đời sống của các thủy thủ, công nhân, kỹ sư đến từ nhiều quốc gia cùng làm việc trên giàn khoan Biển Xanh. Điểm nhìn của Trương Anh Quốc bao quát, kết nối biển và bờ, đưa giàn khoan trở thành trung tâm của câu chuyện. Tại đây, mọi hỉ nộ ái ố, tham sân si và cả tình người đều được anh thiết dựng sinh động, khách quan.

Dưới mắt một lính mới, giàn khoan Biển Xanh hiện lên “vàng rực như một lâu đài nguy nga trên biển. Một công trình kiên cố mọc lên sừng sững nơi mực biển sâu hàng trăm mét. Một thành phố nổi, choáng ngợp… Trên nóc giàn khoan lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió sớm mai”. Bối cảnh ấy hiện lên sống động nhờ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Đó là âm thanh gầm rít của trực thăng, đó là vị mặn chát của muối biển và đó là cảm giác bỏng rát từ cái nắng gắt gao… Nhịp lao động trên giàn xoay vòng khép kín từ cân hành lý, xem phim an toàn, lên xuống trực thăng ở sân bay bờ và giàn, các công đoạn thi công, bảo trì... Bên cạnh không khí lao động nhộn nhịp, giàn khoan cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Sự cố thiết bị, tai nạn nghề nghiệp có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vì vậy, các quy định an toàn nghiêm ngặt về bảo hộ rất khắt khe. Tất cả liên hợp tạo nên môi trường đặc thù, áp lực và kỷ luật.

Làm việc trong môi trường khắc nghiệt và áp lực không tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn. Trong Trùng khơi nghe sóng, trục xung đột xoay quanh bộ ba Vĩnh, Jet và Malee. Sự xuất hiện của Malee, nữ kỹ sư đo đạc 23 tuổi người Thái Lan đã phá vỡ bầu không khí toàn man-nam và lập tức trở thành tâm điểm chú ý của mọi người. Jet, gã đốc công cơ hội và mưu mô, lợi dụng quyền lực để cưỡng bức Malee, đẩy cô vào vòng xoáy sợ hãi. Trái ngược hắn, kíp trưởng Vĩnh giữ trọn sự chính trực, trở thành điểm tựa duy nhất cho Malee giữa giàn khoan đầy sóng gió. Bi kịch và tình huống càng trở nên oái oăm khi Malee mang thai và đứa con ấy có thể là kết quả tình yêu với Vĩnh, cũng có thể là hệ lụy từ hành vi bạo lực của Jet. Xuyên suốt tiểu thuyết, số phận ba người bị cuốn vào cơn lốc của tình yêu, dục vọng và quyền lực. Và như thường thấy trong sáng tác của anh, cái kết luôn bất ngờ, khiến người đọc không thể lường trước.

Xung đột trung tâm trở thành nền tảng để Trùng khơi nghe sóng dựng nên “xã hội giàn khoan” đầy mâu thuẫn và biến động. Trên giàn khoan, nhịp lao động luôn gấp gáp, ca này nối ca khác không ngừng nghỉ. Ở đó, như trên một sân khấu thử thách, mọi phẩm chất và tật xấu của con người đều có cơ hội phơi bày. Sự thay đổi liên tục về nhân sự cùng những va chạm trong hành xử khiến bầu không khí làm việc luôn căng thẳng và kịch tính. Có người tận tụy, có kẻ buông xuôi; có người dám nhận trách nhiệm, có kẻ chỉ tìm cách né tránh; có người chân thành, có kẻ khôn lỏi, kẻ thật thà, người khó chịu lẫn kẻ vui tính. Đã vậy, sự đối lập giữa tư duy lý trí phương Tây minh bạch, đề cao hiệu quả và tư duy cảm tính phương Đông nặng tình nghĩa, né tránh va chạm càng khoét sâu những xung khắc trong quan hệ con người.

Trong khung cảnh đó, Trương Anh Quốc đã chạm khắc những gương mặt điển hình trong hoàn cảnh điển hình, mỗi người một nét riêng. Stephen, điện trưởng người Úc, hách dịch và thù dai. Đại thuộc kiểu người ưa phô trương, thích thể hiện. Jet, Đồng và Đại cấu kết để mưu lợi. Satiawan, công nhân Indonesia cần mẫn và lặng lẽ làm việc và sùng đạo. Còn James, lái cẩu Mỹ rất đàn ông quân tử, già nua nhưng vẫn bám nghề với sự tận tụy hiếm thấy. Các chân dung ghép lại, dựng nên “xã hội giàn khoan” mang tính toàn cầu chân thực, thô ráp mà phức tạp.

Đằng sau kỷ luật nghiêm ngặt là vô số mánh lới như lách luật, giả chữ ký qua mặt cấp trên, đút lót để thăng tiến, câu cá lén gửi về bờ đem bán… Có thể xem giàn khoan trong Trùng khơi nghe sóng là tấm gương soi, phản chiếu những mặt đối cực giữa trung thực và gian trá, tận tụy và lười nhác, tử tế và vô cảm. Tác phẩm đã vượt ra ngoài phạm vi phản ánh đời thường để vẫy gợi trong lòng mỗi người những cật vấn, trăn trở, chiêm nghiệm nhân sinh. Sức mạnh phẩm giá nào giúp con người vững vàng trước bão tố? Và đâu là mầm mống gặm nhấm bào mòn đưa đẩy nhân tính trượt dần vào ngõ suy đồi?

2. Để nhận diện cá tính, giọng điệu của Trương Anh Quốc có thể đặt Trùng khơi nghe sóng trong sự đối chiếu với các tác phẩm trước đó như Biển và Sóng của anh. Ở Biển, anh dồn nén các lát cắt đời sống thủy thủ ngay trên tàu theo dạng tự sự tuyến tính. Sang Sóng, biên độ mở rộng hơn, loại hình du kí kết hợp thư từ, điện thoại, truyện lồng trong truyện. Người đọc theo chân nhân vật đi qua nhiều cảng biển, nhiều quốc gia, tiếp xúc với sự đa dạng văn hóa, phong tục, tôn giáo như thể chỉ có đôi mắt và bước chân của người thủy thủ mới khám phá ra được vậy.

Trùng khơi nghe sóng tiếp tục mạch sáng tác về biển của Trương Anh Quốc nhưng với hướng đi mới. Biển lúc này là cái nền cho chiếc giàn khoan, trở thành bối cảnh của lao động kỹ thuật, của va chạm văn hóa và của những thử thách nhân tính. Đặc biệt, với tiểu thuyết này, tính đến thời điểm hiện tại, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, giàn khoan dầu khí được đặt làm trung tâm một tiểu thuyết.

Văn phong riêng khác của Trương Anh Quốc trong Trùng khơi nghe sóng là tiếng cười hóm hỉnh, pha chút cợt nhả mà vẫn giữ được sự tinh tế. Ở Biển và Sóng, chất hài hước đã xuất hiện, song còn nhẹ nhàng, chưa đạt đến độ mạnh và “tới” như trong tiểu thuyết này. Với Trùng khơi nghe sóng, anh khai thác triệt để lối ẩn dụ nhục thể và chơi chữ hai nghĩa tạo nhiều lớp nghĩa vừa dí dỏm vừa trào lộng. Các câu như “Lên nhanh nào, chị cho lái máy bay…”“Khe của ai người ấy cắm, cắm cho đúng khe nghe mày” gợi liên tưởng đến vùng cấm kỵ, nhưng nhờ đặt trong không khí bông đùa, chòng ghẹo nên mang sắc thái tục mà vẫn thanh, không gây phản cảm. Tiếng cười như thang thuốc tinh thần giải tỏa chướng ngại lao động và thể hiện tính cách phong trần, nghịch ngợm của tập thể thủy thủ, công nhân và kỹ sư khoan.

Đọc Trùng khơi nghe sóng của Trương Anh Quốc, tôi nhận ra bóng dáng con người đời thực của anh thấp thoáng trong từng trang viết. Cái duyên ngầm nửa đùa nửa thật, nghịch ngợm nhưng không bật cười thành tiếng khiến người đọc dễ lầm tưởng là nghiêm túc tuyệt đối. Duyên ấy còn ở cách kể chuyện rất giản dị tự nhiên, cứ ngỡ như anh thấy gì nói nấy, có gì kể nấy nhưng thật ra anh đã dẫn dắt khéo léo, khiến người đọc bị cuốn theo mạch kể tưng tửng mà khả tín. Điểm biệt lạ của anh chính là tình yêu và sự am hiểu biển hiếm có. Văn phong phản chiếu phong thái từng trải, linh hoạt, gắn bó trọn vẹn với biển đảo và đủ sức chuyển tải chiều sâu trải nghiệm sống vào tác phẩm. Gấp trang cuối tiểu thuyết, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên một niềm yêu biển cả, yêu thủy thủ lạ lùng. Do đó tôi không ngạc nhiên khi biết Trùng khơi nghe sóng đoạt Giải thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm nay. Giải thưởng là câu chuyện của từng năm, còn với Trùng khơi nghe sóng tôi tin sức cuốn hút dẫn dụ này sẽ theo dòng chữ mà chạm tới nhiều trái tim độc giả trong nhiều năm.

H.T.A

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm