TIN TỨC

Nghe sóng giữa trùng khơi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-27 23:04:03
mail facebook google pos stwis
328 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.

Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.

 

Bìa cuốn Trùng khơi nghe sóng

 

1. Trùng khơi nghe sóng tái hiện đời sống của các thủy thủ, công nhân, kỹ sư đến từ nhiều quốc gia cùng làm việc trên giàn khoan Biển Xanh. Điểm nhìn của Trương Anh Quốc bao quát, kết nối biển và bờ, đưa giàn khoan trở thành trung tâm của câu chuyện. Tại đây, mọi hỉ nộ ái ố, tham sân si và cả tình người đều được anh thiết dựng sinh động, khách quan.

Dưới mắt một lính mới, giàn khoan Biển Xanh hiện lên “vàng rực như một lâu đài nguy nga trên biển. Một công trình kiên cố mọc lên sừng sững nơi mực biển sâu hàng trăm mét. Một thành phố nổi, choáng ngợp… Trên nóc giàn khoan lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió sớm mai”. Bối cảnh ấy hiện lên sống động nhờ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Đó là âm thanh gầm rít của trực thăng, đó là vị mặn chát của muối biển và đó là cảm giác bỏng rát từ cái nắng gắt gao… Nhịp lao động trên giàn xoay vòng khép kín từ cân hành lý, xem phim an toàn, lên xuống trực thăng ở sân bay bờ và giàn, các công đoạn thi công, bảo trì... Bên cạnh không khí lao động nhộn nhịp, giàn khoan cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Sự cố thiết bị, tai nạn nghề nghiệp có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vì vậy, các quy định an toàn nghiêm ngặt về bảo hộ rất khắt khe. Tất cả liên hợp tạo nên môi trường đặc thù, áp lực và kỷ luật.

Làm việc trong môi trường khắc nghiệt và áp lực không tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn. Trong Trùng khơi nghe sóng, trục xung đột xoay quanh bộ ba Vĩnh, Jet và Malee. Sự xuất hiện của Malee, nữ kỹ sư đo đạc 23 tuổi người Thái Lan đã phá vỡ bầu không khí toàn man-nam và lập tức trở thành tâm điểm chú ý của mọi người. Jet, gã đốc công cơ hội và mưu mô, lợi dụng quyền lực để cưỡng bức Malee, đẩy cô vào vòng xoáy sợ hãi. Trái ngược hắn, kíp trưởng Vĩnh giữ trọn sự chính trực, trở thành điểm tựa duy nhất cho Malee giữa giàn khoan đầy sóng gió. Bi kịch và tình huống càng trở nên oái oăm khi Malee mang thai và đứa con ấy có thể là kết quả tình yêu với Vĩnh, cũng có thể là hệ lụy từ hành vi bạo lực của Jet. Xuyên suốt tiểu thuyết, số phận ba người bị cuốn vào cơn lốc của tình yêu, dục vọng và quyền lực. Và như thường thấy trong sáng tác của anh, cái kết luôn bất ngờ, khiến người đọc không thể lường trước.

Xung đột trung tâm trở thành nền tảng để Trùng khơi nghe sóng dựng nên “xã hội giàn khoan” đầy mâu thuẫn và biến động. Trên giàn khoan, nhịp lao động luôn gấp gáp, ca này nối ca khác không ngừng nghỉ. Ở đó, như trên một sân khấu thử thách, mọi phẩm chất và tật xấu của con người đều có cơ hội phơi bày. Sự thay đổi liên tục về nhân sự cùng những va chạm trong hành xử khiến bầu không khí làm việc luôn căng thẳng và kịch tính. Có người tận tụy, có kẻ buông xuôi; có người dám nhận trách nhiệm, có kẻ chỉ tìm cách né tránh; có người chân thành, có kẻ khôn lỏi, kẻ thật thà, người khó chịu lẫn kẻ vui tính. Đã vậy, sự đối lập giữa tư duy lý trí phương Tây minh bạch, đề cao hiệu quả và tư duy cảm tính phương Đông nặng tình nghĩa, né tránh va chạm càng khoét sâu những xung khắc trong quan hệ con người.

Trong khung cảnh đó, Trương Anh Quốc đã chạm khắc những gương mặt điển hình trong hoàn cảnh điển hình, mỗi người một nét riêng. Stephen, điện trưởng người Úc, hách dịch và thù dai. Đại thuộc kiểu người ưa phô trương, thích thể hiện. Jet, Đồng và Đại cấu kết để mưu lợi. Satiawan, công nhân Indonesia cần mẫn và lặng lẽ làm việc và sùng đạo. Còn James, lái cẩu Mỹ rất đàn ông quân tử, già nua nhưng vẫn bám nghề với sự tận tụy hiếm thấy. Các chân dung ghép lại, dựng nên “xã hội giàn khoan” mang tính toàn cầu chân thực, thô ráp mà phức tạp.

Đằng sau kỷ luật nghiêm ngặt là vô số mánh lới như lách luật, giả chữ ký qua mặt cấp trên, đút lót để thăng tiến, câu cá lén gửi về bờ đem bán… Có thể xem giàn khoan trong Trùng khơi nghe sóng là tấm gương soi, phản chiếu những mặt đối cực giữa trung thực và gian trá, tận tụy và lười nhác, tử tế và vô cảm. Tác phẩm đã vượt ra ngoài phạm vi phản ánh đời thường để vẫy gợi trong lòng mỗi người những cật vấn, trăn trở, chiêm nghiệm nhân sinh. Sức mạnh phẩm giá nào giúp con người vững vàng trước bão tố? Và đâu là mầm mống gặm nhấm bào mòn đưa đẩy nhân tính trượt dần vào ngõ suy đồi?

2. Để nhận diện cá tính, giọng điệu của Trương Anh Quốc có thể đặt Trùng khơi nghe sóng trong sự đối chiếu với các tác phẩm trước đó như Biển và Sóng của anh. Ở Biển, anh dồn nén các lát cắt đời sống thủy thủ ngay trên tàu theo dạng tự sự tuyến tính. Sang Sóng, biên độ mở rộng hơn, loại hình du kí kết hợp thư từ, điện thoại, truyện lồng trong truyện. Người đọc theo chân nhân vật đi qua nhiều cảng biển, nhiều quốc gia, tiếp xúc với sự đa dạng văn hóa, phong tục, tôn giáo như thể chỉ có đôi mắt và bước chân của người thủy thủ mới khám phá ra được vậy.

Trùng khơi nghe sóng tiếp tục mạch sáng tác về biển của Trương Anh Quốc nhưng với hướng đi mới. Biển lúc này là cái nền cho chiếc giàn khoan, trở thành bối cảnh của lao động kỹ thuật, của va chạm văn hóa và của những thử thách nhân tính. Đặc biệt, với tiểu thuyết này, tính đến thời điểm hiện tại, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, giàn khoan dầu khí được đặt làm trung tâm một tiểu thuyết.

Văn phong riêng khác của Trương Anh Quốc trong Trùng khơi nghe sóng là tiếng cười hóm hỉnh, pha chút cợt nhả mà vẫn giữ được sự tinh tế. Ở Biển và Sóng, chất hài hước đã xuất hiện, song còn nhẹ nhàng, chưa đạt đến độ mạnh và “tới” như trong tiểu thuyết này. Với Trùng khơi nghe sóng, anh khai thác triệt để lối ẩn dụ nhục thể và chơi chữ hai nghĩa tạo nhiều lớp nghĩa vừa dí dỏm vừa trào lộng. Các câu như “Lên nhanh nào, chị cho lái máy bay…”“Khe của ai người ấy cắm, cắm cho đúng khe nghe mày” gợi liên tưởng đến vùng cấm kỵ, nhưng nhờ đặt trong không khí bông đùa, chòng ghẹo nên mang sắc thái tục mà vẫn thanh, không gây phản cảm. Tiếng cười như thang thuốc tinh thần giải tỏa chướng ngại lao động và thể hiện tính cách phong trần, nghịch ngợm của tập thể thủy thủ, công nhân và kỹ sư khoan.

Đọc Trùng khơi nghe sóng của Trương Anh Quốc, tôi nhận ra bóng dáng con người đời thực của anh thấp thoáng trong từng trang viết. Cái duyên ngầm nửa đùa nửa thật, nghịch ngợm nhưng không bật cười thành tiếng khiến người đọc dễ lầm tưởng là nghiêm túc tuyệt đối. Duyên ấy còn ở cách kể chuyện rất giản dị tự nhiên, cứ ngỡ như anh thấy gì nói nấy, có gì kể nấy nhưng thật ra anh đã dẫn dắt khéo léo, khiến người đọc bị cuốn theo mạch kể tưng tửng mà khả tín. Điểm biệt lạ của anh chính là tình yêu và sự am hiểu biển hiếm có. Văn phong phản chiếu phong thái từng trải, linh hoạt, gắn bó trọn vẹn với biển đảo và đủ sức chuyển tải chiều sâu trải nghiệm sống vào tác phẩm. Gấp trang cuối tiểu thuyết, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên một niềm yêu biển cả, yêu thủy thủ lạ lùng. Do đó tôi không ngạc nhiên khi biết Trùng khơi nghe sóng đoạt Giải thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm nay. Giải thưởng là câu chuyện của từng năm, còn với Trùng khơi nghe sóng tôi tin sức cuốn hút dẫn dụ này sẽ theo dòng chữ mà chạm tới nhiều trái tim độc giả trong nhiều năm.

H.T.A

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm