TIN TỨC

Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-21 03:44:14
mail facebook google pos stwis
306 lượt xem

                    NGUYỄN HOÀN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.

Bút tích Hàn Mặc Tử - Ảnh tư liệu. 

 

Cả hai có mặt trong nhóm “Bàn thành tứ hữu” (bốn người bạn ở thành Đồ Bàn, Bình Định) gồm: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan và Quách Tấn. Vì yêu quý tình bạn, tình thơ của nhóm này, có người đã dùng tên của bộ tứ linh “long, lân, quy, phụng” để đặt cho từng người trong nhóm: Hàn Mặc Tử là rồng (long), Chế Lan Viên là phụng, Yến Lan là lân và Quách Tấn là rùa (quy). Tên tứ linh chỉ là “đặt chơi” nhưng đã thể hiện đúng về con người và văn nghiệp của mỗi người, trong đó, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên là rồng, phụng. Và rồi, cả hai đều có mặt trong Trường thơ Loạn, một hiện tượng độc đáo của phong trào Thơ Mới. Ở đây, “Loạn” chính là tìm kiếm cái mới lạ, kỳ dị, siêu thực. Theo nhà thơ Quách Tấn: “Trường thơ Loạn ra đời năm 1938, lúc bấy giờ Chế Lan Viên đã xuất bản tập “Điêu tàn”, Hàn Mặc Tử đã hoàn chỉnh tập “Thơ điên”, Yến Lan đã hoàn thành tập “Giếng loạn”. Nhân đó ba bạn Hàn - Chế - Yến mới cao hứng dựng nên Trường thơ Loạn. Bài tựa tập “Điêu tàn” và bài tựa tập “Thơ điên” thay thế lời tuyên ngôn lúc Trường thơ mở cửa” (Quách Tấn, Bóng ngày qua, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 5). Qua hai bài tựa “tuyên ngôn” về xu hướng, tính chất của Trường thơ Loạn này, cho thấy cách nghĩ tương đồng của Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử trong việc làm thơ, trong cùng “trường thơ”. Khi viết lời tựa cho tập thơ “Điêu tàn”, Chế Lan Viên nghĩ ngay đến Hàn Mặc Tử, người bạn chủ trương “thơ điên”: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”. Cùng mối hoà điệu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử khi viết tựa tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” đã tỏ nỗi bàng hoàng, “mê sảng” khi được sống tận cùng nhờ thơ, vì thơ: “Tôi làm thơ? Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống”, “vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh”.

 

Nhà văn Vũ Thị Thường (vợ nhà thơ Chế Lan Viên) ghi cảm tưởng vào sổ lưu niệm tại Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên. Người đứng phía sau là tác giả bài viết - Ảnh: P.V

 

Hàn Mặc Tử là đàn anh của Chế Lan Viên (hơn Chế Lan Viên 8 tuổi), “vốn Hàn coi Chế như em ruột và quý như bạn thân” (Quách Tấn). Khi tập thơ “Điêu tàn” xuất hiện, Hàn Mặc Tử đã nhiệt thành chào đón và khen ngợi hết mực. Hàn Mặc Tử đã làm bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Chế Bồng Hoan (tên Hàn Mặc Tử đặt cho Chế Lan Viên), lột tả cái hay lạ lùng của “Điêu tàn”: “Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng/ Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô/ Tiếng ngọc địch nhớ nhung còn uyển chuyển/ Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ/ Người thổn thức tiếc buồn bao cảnh sắc”. Hàn Mặc Tử còn viết bài “Chế Lan Viên - một thi sĩ “điên” (Tựa tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên)” đăng trên báo “Công luận”, số 7800, ra ngày 9/9/1938 với nhiều dòng phấn khích trước tài thơ độc đáo của Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên quả là một tướng giặc đã can đảm xách giáo, mang gươm, xông vào trận mạc để chém lão tướng “Đường”, quét “thất luật”, đánh “kháng vận”, dẹp “tám câu”, chặt “năm vần”. Chế Lan Viên quả là một dũng sĩ, dám xông pha giữa cung cấm, gào thét trong khi các “lá ngọc cành vàng” yên lặng ngủ… ”, “sau khi đọc xong quyển “Điêu tàn” của anh thì bao nhiêu cái buồn, cái chán, cái rùng rợn, cái hãi hùng đã làm cho tôi khóc, tôi cười, tôi vui, tôi khổ!”. Hàn Mặc Tử qua bài thơ “Trường thọ” còn vẽ nên hình ảnh Chế Lan Viên quỳ nguyện Thần Thơ, tức là Khúc Tinh chiếu mạng cho người thơ có được nguồn thơ sáng láng, chan chứa ly tao và sống mãi, trường thọ (theo Tử vi Đẩu số, Khúc Tinh là hai sao Văn Khúc, Vũ Khúc chiếu mạng ai thì người đó văn hay chữ tốt): “Chế Lan Viên quỳ dâng tràng chuỗi hột/ Cầu Khúc Tinh hằng chiếu mạng người thơ/ Nên đường trăng sáng láng tự bao giờ/ Lạy chín phẩm thiên thần xin chứng giám!”.  

Với tập thơ đầu tay “Điêu tàn”, Chế Lan Viên có được tiếng tăm và vị trí trang trọng trên chiếu thơ của làng Thơ mới, như Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định: “Quyển “Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”, “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 221, 225). Khác với Chế Lan Viên, đường thơ Hàn Mặc Tử gặp ít nhiều “sóng gió”. Thơ Hàn Mặc Tử mới lạ mà cái mới ban đầu đâu dễ vào được với số đông? Hoài Thanh - Hoài Chân cho biết: “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm”. Đến như Xuân Diệu, một chủ tướng của Thơ mới đã không hiểu được Hàn Mặc Tử lại còn “bóng gió” chê thơ Hàn Mặc Tử: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”. Nhưng thơ hay thì không thiếu tri kỷ, nhất là tri kỷ ở “cấp độ” Bá Nha - Tử Kỳ. “Đương thời không ai yêu Hàn Mặc Tử hơn Chế Lan Viên” (Ngô Văn Phú). Trong hồi ức thẳm sâu của mình, Quách Tấn nhớ đến lúc Chế Lan Viên nằm gối đầu lên vế Quách Tấn mà ngâm thơ Hàn Mặc Tử. Giọng ngâm của Chế Lan Viên rất hay, trong và cao, khi ngâm thường nhấn vào những chữ tuyệt bút trong bài thơ làm tăng sức truyền cảm. Chế Lan Viên thích ngâm nhất là bài “Một nửa trăng” của Hàn Mặc Tử: “Hôm nay có một nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ mình xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi”. Quách Tấn cho biết, thơ Hàn Mặc Tử bấy giờ chưa xuất bản, nhưng được nhiều người nhớ, nhiều người thuộc, đó là nhờ Chế Lan Viên. Từ hồi còn ngồi trên ghế trường Quy Nhơn, Chế Lan Viên đã chép thơ Hàn Mặc Tử đem vào trường phổ biến. Học sinh xúm nhau chép và học thuộc lòng. “Thơ Tử từ trường Quy Nhơn bay ra trường Khải Định, trường Đồng Khánh Huế. Lần lần thơ Tử lan rộng ra ngoài. Thanh danh Tử được truyền trong giới trí thức” (Quách Tấn, sđd, tr. 134). Sau khi Hàn Mặc Tử mất trong cô độc vì bệnh nan y, chỉ hơn mươi hôm sau, Chế Lan Viên đã viết bài “Những kỷ niệm về Hàn Mặc Tử”, khóc Tử thống thiết và tỏ rõ “chính kiến” đầy bản lĩnh của mình khi xưng tụng Tử là một thiên tài với tài thơ vượt thời gian: “Tử là một thiên tài. Tử mới chính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nước này”, “Tử không có tăm tiếng. Tử không được nâng chiều, nhưng đó chỉ là bây giờ mà thôi. Chứ mai sau, tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”. Cho dẫu còn có những ý kiến khác nhau về bài viết này, Quách Tấn đã bày tỏ sự tán đồng cao với Chế Lan Viên trong đánh giá về Hàn Mặc Tử: “Bài của Lan Viên được chú ý nhiều là vì có nhiều ý kiến trái với phần đông các thi sĩ đương thời… Thật là táo bạo nhưng cũng thật là chân thành. Nếu lời nói ấy là của một kẻ tầm thường thì người ta sẽ cho là một lời đại ngôn, vô giá trị. Nhưng đây là lời một thiên tài đã có tác phẩm đảm bảo chắc chắn, lời một người chưa hề ca tụng ai. Do đó mà người ta bàn tán nhiều. Kẻ biểu đồng, người phản đối. Lúc ấy tôi chưa quen thân cùng Chế Lan Viên, nhưng đọc văn tôi rất khoái ý, khoái không phải vì Tử được khen mà chính vì được nghe một lời nói khác thường” (Quách Tấn, sđd, tr. 97-98).

 

Học sinh Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia tour du lịch văn học “Tìm hiểu nhà thơ Chế Lan Viên - Từ quê hương đã hóa tâm hồn” do Amazing English Tour tổ chức tại Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên, xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị - Ảnh: Web Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn.

 

Cảo thơm lần giở trước đèn” (Nguyễn Du). Năm 1987, Chế Lan Viên lần giở thơ Hàn, tuyển chọn, viết lời giới thiệu để làm “Tuyển tập Hàn Mặc Tử”. Bài “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” của Chế Lan Viên viết cho tuyển tập này là một bài viết công phu, tài hoa, đánh giá khá đầy đủ và đúng tầm về thơ Hàn Mặc Tử: “May thay Tử là một đỉnh cao, loà chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ”. Chế Lan Viên đã nêu bật hành trình thơ Hàn Mặc Tử, từ một nhà thơ vốn làm thơ Đường luật, được cụ Phan Bội Châu ca ngợi và hoạ thơ cùng, Hàn Mặc Tử đã tiến đến thơ hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. Cho rằng, Hàn Mặc Tử trước sau vẫn là nhà thơ lãng mạn nhưng Chế Lan Viên đánh giá thơ Hàn Mặc Tử dùng nhiều yếu tố siêu thực và “chưa có ai dùng đậm đặc như anh”, “anh vẫn là của hiếm”. Đặc biệt, Chế Lan Viên nhấn mạnh cái siêu thực của Hàn Mặc Tử không đến từ lý thuyết sách vở mà từ chính trải nghiệm sống đầy đau thương của Hàn Mặc Tử: “Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời còn Hàn Mặc Tử thì bằng máu: Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”, “siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ châu Âu đến, mà từ thảm kịch của anh mà ra”. Qua cảm nghiệm sâu về chất thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đã thấy rõ một chân lý nghệ thuật: “Tân là mới. Nhưng sau tân, lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ)”. Trong bài viết “Thơ Bích Khê”, Chế Lan Viên có một phát hiện sâu sắc, tinh nhạy: Bích Khê “làm thơ”, còn Hàn Mặc Tử “bị thơ làm”. Chính Hàn Mặc Tử, qua lời tựa viết cho tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” của mình đã bộc bạch: “Nàng (tức là Nàng Thơ - chú thích của người viết) đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?”. Tức là thơ đã “ốp đồng” lên hồn Hàn Mặc Tử, cho ra loại thơ dị thường, khiến người đọc cộng cảm, “lên đồng” theo nhà thơ kỳ tài.

Từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, phải chờ đến năm mươi năm sau (tức là năm 1990, dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử), “thiên tài trác tuyệt ấy mới được công nhận trong cả nước” (Nguyễn Viết Lãm). Nhưng ngay từ năm 1940, lúc Hàn Mặc Tử mới mất, Chế Lan Viên đã sớm “tiên tri” về sức sống “vượt thời gian” của thơ Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên đã giữ bền mối tri kỷ với Hàn Mặc Tử lúc Tử còn sống và cả sau khi Tử về cõi thiên thu. Một mối tri kỷ hiếm có của hai tài thơ vào loại hiếm của đất nước. Một mối tri kỷ “biệt nhãn liên tài” dành cho nhau của hai thiên tài có chung ý hướng đem đến cho thơ ca Việt Nam một dòng thơ mới mẻ, tân kỳ và hiện đại. Ở xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị có Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên. Nơi đây trưng bày khá nhiều hình ảnh, hiện vật, tác phẩm của Chế Lan Viên, thể hiện phong phú về cuộc đời và sự nghiệp Chế Lan Viên. Nhưng nơi đây cần bổ sung trưng bày sâu, có tính chuyên đề về “Chế Lan Viên với Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử với Chế Lan Viên” để làm rõ hơn về mối tri kỷ thơ đặc biệt của hai nhà thơ lớn này, nhất là khi cả hai đã về với nhau trong tỉnh Quảng Trị. Việc hiểu sâu về hai nhà thơ độc đáo này giúp bạn đọc có những cơn sảng khoái “toát mồ hôi” trí tuệ khi đọc thơ Chế Lan Viên và mê sảng “toát mồ hôi” thần trí khi đọc thơ Hàn Mặc Tử: “Thơ chưa ra khỏi bút/ Giọt mực đã rụng rồi... / Lòng tôi chưa kịp nói/ Giấy đã toát mồ hôi... ” (Mùa thương - Hàn Mặc Tử).

N.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm