TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi

Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-26 15:36:05
mail facebook google pos stwis
1191 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.

 

Bìa tập truyện ngắn "Rừng Mắm" của nhà văn Bình Nguyên Lộc

 

Truyện ngắn Rừng Mắm kể về một gia đình ba thế hệ, vì nghèo, không có đất, đã lưu lạc tới Cà Mau để lập nghiệp. Đó là gia đình Cộc, một cậu bé mười tuổi, cùng tía má và ông nội cậu. Họ chọn một bờ rạch để định cư và đặt tên nơi này là Ô-Heo vì đấy vốn là hang ổ của loài heo rừng. Sau khi tạm ổn định nơi ăn ở, họ bắt tay vào khai khẩn rừng hoang để trồng lúa và hy vọng vùng đất này sẽ có một tương lai xán lạn bởi người dân các nơi có thể theo chân họ tới đây sinh sống. Thông qua câu chuyện của gia đình Cộc, Bình Nguyên Lộc như tái hiện lại lịch sử vùng đất Nam Bộ thuở những người Việt đầu tiên đến đây khai khẩn, thuần hoá đất đai.

Nhân vật chính của truyện ngắn là Cộc, thế hệ thứ ba của gia đình nông dân nói trên. Việc di cư tới Cà Mau lập nghiệp là chủ trương của ông nội Cộc. Cậu cũng không phải là người đóng vai trò chủ chốt trong những năm đầu tạo lập cuộc sống mới của gia đình. Tuy vậy, nếm trải sâu sắc dư vị cuộc khai khẩn đất từ khi còn là một cậu bé có tâm hồn vô tư, trong sáng và là người kế tục sự nghiệp của ông cha mình nên những gì Cộc đã trải qua, diễn biến tâm lý, tư tưởng của cậu là tấm gương phản chiếu đầy đủ, khách quan hiện thực cuộc sống và cả tương lai của cuộc khai hoang lập nghiệp ấy. Chính vì vậy, khi đọc Rừng Mắm, thông qua nhân vật Cộc, người đọc sẽ hiểu được quá trình chinh phục vùng đất mới của gia đình cậu, và qua đó, tìm về một thời kỳ lịch sử oai hùng của cha ông: thời kỳ khai khẩn vùng đất phương Nam của Tổ quốc.

Cộc là một cậu bé thích khám phá và có tâm hồn nhạy cảm. Những năm tháng đầu tiên sống ở rừng, cậu say mê trước những điều mới lạ. Chăm chú theo dõi con chim thầy bói “câu cá”, Cộc` “thích chí hết sức” trước những động tác kỳ dị và tài tình của nó. Đôi mắt cậu cũng không thể bỏ qua hình ảnh “trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá”. Cộc kịp nhận ra “màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi”. Từ chỗ là một cậu bé thơ ngây, những điều đã được chứng kiến gieo vào lòng Cộc một tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đồng thời khắc ghi vào tâm trí cậu bài học đầu tiên về sự bền gan vững chí trước các thử thách của cuộc đời. Bài học ấy thực sự có ý nghĩa, bởi bên cạnh hình ảnh nên thơ, đầy cuốn hút của thiên nhiên, có một thực tế đầy nghiệt ngã đang diễn ra: “Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.”

Với tâm hồn nhạy cảm, dù đang thích chí theo dõi con chim thằng chài, nhưng khi có đàn cò bay qua, thấy đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, Cộc quên thằng chài ngay và nhớ tới những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng. Trong tâm trí Cộc chợt hiện về những hình ảnh thân thương của cuộc sống nơi quê cũ: “Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với”. “Nghĩ tới những năm cũ, thằng Cộc nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm”.

 Những kỷ niệm ấy đã thuộc về dĩ vãng xa xăm khi nó theo ông nội và ba má nó vào rừng sâu lập nghiệp. Đổi lại, là “những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên”, “những đêm mưa gào gió hú”, “những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua”. Là nơi không có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy. “Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới”. Khí hậu “tàn ác: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy”. Môi trường sống ấy như là một trong những cái giá đắt phải trả, hoặc là một sự hy sinh không nhỏ, khi Cộc và những người thân của mình từ bỏ cuộc đời cũ để đi tìm tương lai.

Với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như vậy, công cuộc khai khẩn khu rừng hoang thành đất trồng lúa và cây ăn trái của gia đình Cộc đã gian nan, vất vả, càng gian nan, vất vả hơn. Ngay cả khi đã có đất, việc trồng và thu hoạch lúa cũng hết sức gian truân. Cộc và những người trong gia đình cậu phải suốt ngày căng mình dưới nắng đốt và lội bì bõm trong sình bùn sâu để lao động cật lực. Do đất mặn, năng suất lúa rất thấp, chỉ đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Qua câu chuyện giữa Cộc và những người cậu tình cờ gặp trong rừng, chúng ta được biết, tía Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lúa thêm. Nhiều khi cả nhà phải ăn rắn, ăn rùa trừ cơm. Chè và các thứ đồ ngọt vốn là món ăn bình dân trở thành niềm ước ao ám ảnh tâm trí Cộc. Do thiên nhiên quá khắc nghiệt, cây cối trồng lên bị chết queo. Để tránh nước mặn tràn vào sân, tía Cộc phải “đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về” làm chỗ trồng hành, ớt, rau răm, rau ngò om, “là bốn thứ tối cần” làm món gia vị ăn cá. Sống tách biệt với xã hội bên ngoài, những cái giá ba chân và những chiếc nồi đặt trên đó trở thành đồng hồ xác định thời gian: họ nhìn bóng của chúng để đoán giờ giấc trong ngày. Chuyện lao động, ăn uống, sinh hoạt đã vậy, cái mặc của Cộc và các thành viên trong gia đình cũng kham khổ đến cùng cực: “Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da”.

Như một lẽ tự nhiên, dù là đứa bé chịu thương chịu khó, nhưng với môi trường và điều kiện sống như vậy, Cộc không khỏi xao lòng. Những lúc rảnh rỗi sau khi thu hoạch lúa xong, Cộc lại nao nức muốn về làng. Cậu bí mật tiếp xúc với những người bạn thỉnh thoảng gặp trong rừng. Đó là “vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông”. “Đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán”. “Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại là tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như những kỷ niệm xa xôi”.

Một lần, nghe tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo là tiếng chèo khua nước, “Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về”. Khi gặp “đôi tình nhơn” đang ngồi với nhau trên gò Ô-Heo và nghe người đàn ông hỏi: “Mày về trển hay không Cộc?”, lại nghe người phụ nữ trẻ đẹp bảo:  “Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa”, lòng Cộc nôn nao.

Sau năm năm sinh sống ở rừng, mới bước vào tuổi mười lăm nhưng Cộc cao lớn như người đàn ông đã trưởng thành. “Sự nảy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó… Nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà”. Vì vậy, khi nghe chị phụ nữ nói rằng, chị ta có người em gái tên Thôi “ngộ  lắm, trắng lắm”, nếu về “làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mày liền”, Cộc rất thích chí. Câu nói của chị nhổ bồn bồn và hình ảnh của Thôi - mặc dù chỉ là trong tưởng tượng - cứ hiện lên trong tâm trí Cộc.

Cái gì đến sẽ đến. Trong bữa cơm trưa của gia đình, giữa lúc cả nhà đang hớn hở vui mừng trước thành quả của mùa gặt, diện tích đất canh tác dự kiến sẽ được mở rộng thêm, chuối cũng sắp trổ buồng, báo hiệu đất đai đã khá thuần, năm tới có thể trồng sả, trồng ổi, nghĩa là tương lai tốt đẹp đã cận kề trước mặt, thì Cộc lên tiếng chất vẩn ông nội nó là tại sao mình lại tới đây? Với sự thôi thúc của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng, Cộc đã nổi dận nói đi nói lại cái câu làm ông nội nó giật mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng: “Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta”. Có lẽ ông đã trù liệu trước tình huống này. Hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc rằng, để hoàn thành công việc đã đề ra, ông và các thành viên trong gia đình phải trải qua một hành trình vô cùng gian nan, vất vả. Đời sống , khổ ải đã đành, nhiều khi còn là những cuộc đấu tranh đầy gay cấn trong lòng. Ngay như bản thân ông có lúc không kìm nén nổi, thầm than “mình nhớ mồ mả ông bà quá”. Huống chi một cậu bé còn trẻ người non dạ như Cộc.

Để gỡ nút thắt ấy, sau khi dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội Cộc long trọng nói: “Ngày mai ra biển”.

Trải qua một buổi đi xuồng, tới gần mép biển, tía Cộc rút sào cắm xuống bùn theo lịnh ông nội. Cộc được ông nội cậu chỉ và giải thích về sự thay đổi hình thù của rừng cây trước mặt. “Bờ biển dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa”. Có những cây “mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công”. Dưới các gốc cây, “bùn đen từng nơi lại trắng xoá những đoá hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp”. Cộc thắc mắc cây gì lạ vậy, lại trổ bông dưới gốc? Ông nội cậu bảo:  “Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy”… Thấy Cộc ngơ ngác không hiểu, ông nội cậu giảng giải: “Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được… Ông với lại tía con là cây mắm, chọn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.

Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận ấy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.

Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?”.

Những lời ông nội nói làm Cộc bừng tỉnh. Cậu nhìn ông nội và “thương không biết bao nhiêu” bởi ông “đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của Ô-Heo”. Cộc thích chí khi nghe ông nói về dự kiến tương lai: “Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cày ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu”. Còn chè, món ăn đã mấy năm rồi Cộc luôn mơ ước, ông nội cậu bảo “sẽ có lu bù”.

Từ câu chuyện của gia đình mình, ông nội Cộc liên hệ tới lịch sử của các bậc tiền nhân: “Tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm hết… Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phong đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn”.

Những lời ông nội Cộc nói thật thấu tình, đạt lý. Từ quy luật của tự nhiên, ông đã liên hệ và chỉ ra quy luật của cuộc sống, làm cho Cộc thấy rõ con đường mình đang đi. Cộc bất chợt thốt lên tiếng “tía!” bằng một giọng yêu thương trìu mến hết sức. Cậu lo không biết tía cậu sẽ làm tràm như cậu được hay không?.

Trước tình cảm, suy nghĩ và thái độ ứng xử của Cộc, ông nội cậu biết rằng, nút thắt đã được cởi. Cộc, thế hệ nối tiếp của ông và con ông đã thực sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc khai khẩn, thuần hoá đất đai, xây dựng cuộc sống mới, và như vậy, tương lai tươi đẹp của công cuộc ấy chắc chắn sẽ được đảm bảo. Vì vậy, ông ra lệnh “nhổ sào đi về cho kịp con nước”.                              

Với tác phẩm Rừng Mắm, Bình Nguyên Lộc đã thể hiện năng lực viết truyện ngắn bậc thầy của mình. Ông không hề gượng ép, lên gân. Tình tiết câu chuyện tự nhiên, hợp lý. Kết cấu truyện chặt chẽ. Tác giả cũng lồng ghép câu chuyện cùng các diễn biến tâm lý của nhân vật với những triết lý sâu sắc. Có khi đó là phát biểu của người dẫn chuyện về quy luật sinh tồn của con người và các sinh vật khác. Có khi thông qua các cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm. Bình Nguyên Lộc cũng sử dụng hiệu quả kết cấu song hành giữa hiện thực và cảm hứng lãng mạn: bên cạnh cuộc sống gian khổ của Cộc và gia đình cậu là những hình ảnh thơ mộng của thiên nhiên hoang dã, hay ước vọng của họ về tương lai… Tất cả các chi tiết ấy đều tập trung vào việc khắc họa cuộc sống của các nhân vật trong truyện ngắn.

Việc xây dựng hệ thống nhân vật là một gia đình bốn người gồm ba thế hệ là một sáng tạo của tác giả nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng cốt truyện. Mỗi nhân vật có vai trò và tính cách khác nhau. Ông nội Cộc, người chủ trương đi lập nghiệp ở vùng đất mới là người nhìn xa trong rộng, giàu bản lĩnh và ý chí, có tấm lòng độ lượng, bao dung. Ông luôn nắm chắc và làm chủ tình hình, táo bạo nhưng sáng suốt, hoạch định lộ trình chính xác, dự kiến được những khó khăn trắc trở và có niềm tin vững chãi vào tương lai. Vì cuộc sống của các thế hệ con cháu, ông đã chấp nhận mọi sự vất vả hy sinh để dấn thân thực hiện hoài bão lớn. Ông là chỗ dựa tinh thần cho cả gia đình. Khi cần, ông có thể giải quyết nhanh gọn và hiệu quả các xung đột trong đời sống, tình cảm, tư tưởng của các thành viên để hướng tới mục tiêu cao đẹp phía trước mà việc giải toả nỗi niềm trắc ẩn trong lòng Cộc là một minh chứng. Tía má Cộc - lực lượng lao động chính trong gia đình - là những người nông dân hiền lành, chất phác, chí cốt làm ăn, luôn nỗ lực thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh khách quan và có những kinh nghiệm đáng quý trong sản xuất, ổn định cuộc sống. Cộc là cậu bé hồn nhiên, trong sáng, chịu thương chịu khó. Tuy trong lòng Cộc có những xao động và ý nghĩ trái chiều với định hướng của ông nội và tía má cậu nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu và thông cảm vì nó phản ánh đúng quy luật tâm, sinh lý lứa tuổi trước hoàn cảnh. Khi được ông nội giảng giải, khuyên bảo, cậu mau chóng nhận ra vấn đề. Việc tác giả chọn Cộc làm nhân vật chính của truyện ngắn và cách ông xây dựng các tình tiết, lớp lang của câu chuyện xung quanh nhân vật này cũng là một sáng tạo độc đáo. Nội dung truyện được phản chiếu, khúc xạ qua tâm hồn Cộc, một tâm hồn trẻ trung, trong sáng, tạo cho người đọc cảm giác mọi chuyện diễn ra đều khách quan, chân thực, và do đó góp phần nâng cao sức thuyết phục của tác phẩm. Tác giả cũng không cần phải dụng công nhiều để miêu tả những chi tiết cụ thể về cuộc sống và quá trình lao động đầy gian nan thử thách của gia đình Cộc mà vẫn phản ánh một cách sinh động quá trình ấy, qua đó thể hiện đậm nét nội dung, tư tưởng tác phẩm. Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ và ngôn ngữ “đặc sản” của Nam Bộ, khả năng khắc họa tinh tế những phẩm chất bên trong rất đáng yêu của người dân vùng đất này, cùng với lối hành văn bình dị, gần gụi mà khúc chiết, giàu tình cảm của tác giả cũng góp phần tạo nên hồn cốt và sức hấp dẫn của tác phẩm. Nhất là đoạn văn miêu tả cây cối và rừng mắm ở cửa rạch cùng những lời giảng giải mộc mạc nhưng  giàu tâm huyết, có chiều sâu trí tuệ và tâm hồn, đúc kết sâu sắc và minh triết từ lịch sử của ông nội Cộc đã tạo nên bản hùng ca tuyệt đẹp về quá trình khai khẩn, thuần hóa đất đai, xây dựng cuộc sống mới của các thế hệ cha ông ở dải đất phương Nam của Tổ quốc. Đó chắc chắn là một trong những áng văn đẹp nhất, khúc chiết nhất của Bình Nguyên Lộc.

Đọc truyện ngắn Rừng Mắm, chúng ta cảm nhận thật rõ những thử thách, gian truân gia đình Cộc đã phải trải qua và những thành quả họ đạt được. Cũng qua Rừng Mắm, chúng ta như được trở về với những năm tháng gian khổ và hào hùng của các thế hệ cha ông, thấu hiểu sự hy sinh và công lao to lớn của các bậc tiền nhân để non sông đất nước ta được đàng hoàng, tươi đẹp như ngày hôm nay. Từ đó, ta càng thêm yêu quý và tự hào về đất nước, quê hương mình.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm