- Lý luận - Phê bình
- Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
NGUYỄN QUẾ
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.

Bìa tập truyện ngắn "Rừng Mắm" của nhà văn Bình Nguyên Lộc
Truyện ngắn Rừng Mắm kể về một gia đình ba thế hệ, vì nghèo, không có đất, đã lưu lạc tới Cà Mau để lập nghiệp. Đó là gia đình Cộc, một cậu bé mười tuổi, cùng tía má và ông nội cậu. Họ chọn một bờ rạch để định cư và đặt tên nơi này là Ô-Heo vì đấy vốn là hang ổ của loài heo rừng. Sau khi tạm ổn định nơi ăn ở, họ bắt tay vào khai khẩn rừng hoang để trồng lúa và hy vọng vùng đất này sẽ có một tương lai xán lạn bởi người dân các nơi có thể theo chân họ tới đây sinh sống. Thông qua câu chuyện của gia đình Cộc, Bình Nguyên Lộc như tái hiện lại lịch sử vùng đất Nam Bộ thuở những người Việt đầu tiên đến đây khai khẩn, thuần hoá đất đai.
Nhân vật chính của truyện ngắn là Cộc, thế hệ thứ ba của gia đình nông dân nói trên. Việc di cư tới Cà Mau lập nghiệp là chủ trương của ông nội Cộc. Cậu cũng không phải là người đóng vai trò chủ chốt trong những năm đầu tạo lập cuộc sống mới của gia đình. Tuy vậy, nếm trải sâu sắc dư vị cuộc khai khẩn đất từ khi còn là một cậu bé có tâm hồn vô tư, trong sáng và là người kế tục sự nghiệp của ông cha mình nên những gì Cộc đã trải qua, diễn biến tâm lý, tư tưởng của cậu là tấm gương phản chiếu đầy đủ, khách quan hiện thực cuộc sống và cả tương lai của cuộc khai hoang lập nghiệp ấy. Chính vì vậy, khi đọc Rừng Mắm, thông qua nhân vật Cộc, người đọc sẽ hiểu được quá trình chinh phục vùng đất mới của gia đình cậu, và qua đó, tìm về một thời kỳ lịch sử oai hùng của cha ông: thời kỳ khai khẩn vùng đất phương Nam của Tổ quốc.
Cộc là một cậu bé thích khám phá và có tâm hồn nhạy cảm. Những năm tháng đầu tiên sống ở rừng, cậu say mê trước những điều mới lạ. Chăm chú theo dõi con chim thầy bói “câu cá”, Cộc` “thích chí hết sức” trước những động tác kỳ dị và tài tình của nó. Đôi mắt cậu cũng không thể bỏ qua hình ảnh “trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá”. Cộc kịp nhận ra “màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi”. Từ chỗ là một cậu bé thơ ngây, những điều đã được chứng kiến gieo vào lòng Cộc một tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đồng thời khắc ghi vào tâm trí cậu bài học đầu tiên về sự bền gan vững chí trước các thử thách của cuộc đời. Bài học ấy thực sự có ý nghĩa, bởi bên cạnh hình ảnh nên thơ, đầy cuốn hút của thiên nhiên, có một thực tế đầy nghiệt ngã đang diễn ra: “Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.”
Với tâm hồn nhạy cảm, dù đang thích chí theo dõi con chim thằng chài, nhưng khi có đàn cò bay qua, thấy đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, Cộc quên thằng chài ngay và nhớ tới những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng. Trong tâm trí Cộc chợt hiện về những hình ảnh thân thương của cuộc sống nơi quê cũ: “Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với”. “Nghĩ tới những năm cũ, thằng Cộc nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm”.
Những kỷ niệm ấy đã thuộc về dĩ vãng xa xăm khi nó theo ông nội và ba má nó vào rừng sâu lập nghiệp. Đổi lại, là “những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên”, “những đêm mưa gào gió hú”, “những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua”. Là nơi không có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy. “Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới”. Khí hậu “tàn ác: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy”. Môi trường sống ấy như là một trong những cái giá đắt phải trả, hoặc là một sự hy sinh không nhỏ, khi Cộc và những người thân của mình từ bỏ cuộc đời cũ để đi tìm tương lai.
Với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như vậy, công cuộc khai khẩn khu rừng hoang thành đất trồng lúa và cây ăn trái của gia đình Cộc đã gian nan, vất vả, càng gian nan, vất vả hơn. Ngay cả khi đã có đất, việc trồng và thu hoạch lúa cũng hết sức gian truân. Cộc và những người trong gia đình cậu phải suốt ngày căng mình dưới nắng đốt và lội bì bõm trong sình bùn sâu để lao động cật lực. Do đất mặn, năng suất lúa rất thấp, chỉ đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Qua câu chuyện giữa Cộc và những người cậu tình cờ gặp trong rừng, chúng ta được biết, tía Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lúa thêm. Nhiều khi cả nhà phải ăn rắn, ăn rùa trừ cơm. Chè và các thứ đồ ngọt vốn là món ăn bình dân trở thành niềm ước ao ám ảnh tâm trí Cộc. Do thiên nhiên quá khắc nghiệt, cây cối trồng lên bị chết queo. Để tránh nước mặn tràn vào sân, tía Cộc phải “đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về” làm chỗ trồng hành, ớt, rau răm, rau ngò om, “là bốn thứ tối cần” làm món gia vị ăn cá. Sống tách biệt với xã hội bên ngoài, những cái giá ba chân và những chiếc nồi đặt trên đó trở thành đồng hồ xác định thời gian: họ nhìn bóng của chúng để đoán giờ giấc trong ngày. Chuyện lao động, ăn uống, sinh hoạt đã vậy, cái mặc của Cộc và các thành viên trong gia đình cũng kham khổ đến cùng cực: “Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da”.
Như một lẽ tự nhiên, dù là đứa bé chịu thương chịu khó, nhưng với môi trường và điều kiện sống như vậy, Cộc không khỏi xao lòng. Những lúc rảnh rỗi sau khi thu hoạch lúa xong, Cộc lại nao nức muốn về làng. Cậu bí mật tiếp xúc với những người bạn thỉnh thoảng gặp trong rừng. Đó là “vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông”. “Đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán”. “Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại là tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như những kỷ niệm xa xôi”.
Một lần, nghe tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo là tiếng chèo khua nước, “Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về”. Khi gặp “đôi tình nhơn” đang ngồi với nhau trên gò Ô-Heo và nghe người đàn ông hỏi: “Mày về trển hay không Cộc?”, lại nghe người phụ nữ trẻ đẹp bảo: “Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa”, lòng Cộc nôn nao.
Sau năm năm sinh sống ở rừng, mới bước vào tuổi mười lăm nhưng Cộc cao lớn như người đàn ông đã trưởng thành. “Sự nảy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó… Nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà”. Vì vậy, khi nghe chị phụ nữ nói rằng, chị ta có người em gái tên Thôi “ngộ lắm, trắng lắm”, nếu về “làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mày liền”, Cộc rất thích chí. Câu nói của chị nhổ bồn bồn và hình ảnh của Thôi - mặc dù chỉ là trong tưởng tượng - cứ hiện lên trong tâm trí Cộc.
Cái gì đến sẽ đến. Trong bữa cơm trưa của gia đình, giữa lúc cả nhà đang hớn hở vui mừng trước thành quả của mùa gặt, diện tích đất canh tác dự kiến sẽ được mở rộng thêm, chuối cũng sắp trổ buồng, báo hiệu đất đai đã khá thuần, năm tới có thể trồng sả, trồng ổi, nghĩa là tương lai tốt đẹp đã cận kề trước mặt, thì Cộc lên tiếng chất vẩn ông nội nó là tại sao mình lại tới đây? Với sự thôi thúc của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng, Cộc đã nổi dận nói đi nói lại cái câu làm ông nội nó giật mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng: “Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta”. Có lẽ ông đã trù liệu trước tình huống này. Hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc rằng, để hoàn thành công việc đã đề ra, ông và các thành viên trong gia đình phải trải qua một hành trình vô cùng gian nan, vất vả. Đời sống , khổ ải đã đành, nhiều khi còn là những cuộc đấu tranh đầy gay cấn trong lòng. Ngay như bản thân ông có lúc không kìm nén nổi, thầm than “mình nhớ mồ mả ông bà quá”. Huống chi một cậu bé còn trẻ người non dạ như Cộc.
Để gỡ nút thắt ấy, sau khi dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội Cộc long trọng nói: “Ngày mai ra biển”.
Trải qua một buổi đi xuồng, tới gần mép biển, tía Cộc rút sào cắm xuống bùn theo lịnh ông nội. Cộc được ông nội cậu chỉ và giải thích về sự thay đổi hình thù của rừng cây trước mặt. “Bờ biển dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa”. Có những cây “mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công”. Dưới các gốc cây, “bùn đen từng nơi lại trắng xoá những đoá hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp”. Cộc thắc mắc cây gì lạ vậy, lại trổ bông dưới gốc? Ông nội cậu bảo: “Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy”… Thấy Cộc ngơ ngác không hiểu, ông nội cậu giảng giải: “Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được… Ông với lại tía con là cây mắm, chọn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.
Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận ấy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?”.
Những lời ông nội nói làm Cộc bừng tỉnh. Cậu nhìn ông nội và “thương không biết bao nhiêu” bởi ông “đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của Ô-Heo”. Cộc thích chí khi nghe ông nói về dự kiến tương lai: “Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cày ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu”. Còn chè, món ăn đã mấy năm rồi Cộc luôn mơ ước, ông nội cậu bảo “sẽ có lu bù”.
Từ câu chuyện của gia đình mình, ông nội Cộc liên hệ tới lịch sử của các bậc tiền nhân: “Tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm hết… Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phong đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn”.
Những lời ông nội Cộc nói thật thấu tình, đạt lý. Từ quy luật của tự nhiên, ông đã liên hệ và chỉ ra quy luật của cuộc sống, làm cho Cộc thấy rõ con đường mình đang đi. Cộc bất chợt thốt lên tiếng “tía!” bằng một giọng yêu thương trìu mến hết sức. Cậu lo không biết tía cậu sẽ làm tràm như cậu được hay không?.
Trước tình cảm, suy nghĩ và thái độ ứng xử của Cộc, ông nội cậu biết rằng, nút thắt đã được cởi. Cộc, thế hệ nối tiếp của ông và con ông đã thực sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc khai khẩn, thuần hoá đất đai, xây dựng cuộc sống mới, và như vậy, tương lai tươi đẹp của công cuộc ấy chắc chắn sẽ được đảm bảo. Vì vậy, ông ra lệnh “nhổ sào đi về cho kịp con nước”.
Với tác phẩm Rừng Mắm, Bình Nguyên Lộc đã thể hiện năng lực viết truyện ngắn bậc thầy của mình. Ông không hề gượng ép, lên gân. Tình tiết câu chuyện tự nhiên, hợp lý. Kết cấu truyện chặt chẽ. Tác giả cũng lồng ghép câu chuyện cùng các diễn biến tâm lý của nhân vật với những triết lý sâu sắc. Có khi đó là phát biểu của người dẫn chuyện về quy luật sinh tồn của con người và các sinh vật khác. Có khi thông qua các cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm. Bình Nguyên Lộc cũng sử dụng hiệu quả kết cấu song hành giữa hiện thực và cảm hứng lãng mạn: bên cạnh cuộc sống gian khổ của Cộc và gia đình cậu là những hình ảnh thơ mộng của thiên nhiên hoang dã, hay ước vọng của họ về tương lai… Tất cả các chi tiết ấy đều tập trung vào việc khắc họa cuộc sống của các nhân vật trong truyện ngắn.
Việc xây dựng hệ thống nhân vật là một gia đình bốn người gồm ba thế hệ là một sáng tạo của tác giả nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng cốt truyện. Mỗi nhân vật có vai trò và tính cách khác nhau. Ông nội Cộc, người chủ trương đi lập nghiệp ở vùng đất mới là người nhìn xa trong rộng, giàu bản lĩnh và ý chí, có tấm lòng độ lượng, bao dung. Ông luôn nắm chắc và làm chủ tình hình, táo bạo nhưng sáng suốt, hoạch định lộ trình chính xác, dự kiến được những khó khăn trắc trở và có niềm tin vững chãi vào tương lai. Vì cuộc sống của các thế hệ con cháu, ông đã chấp nhận mọi sự vất vả hy sinh để dấn thân thực hiện hoài bão lớn. Ông là chỗ dựa tinh thần cho cả gia đình. Khi cần, ông có thể giải quyết nhanh gọn và hiệu quả các xung đột trong đời sống, tình cảm, tư tưởng của các thành viên để hướng tới mục tiêu cao đẹp phía trước mà việc giải toả nỗi niềm trắc ẩn trong lòng Cộc là một minh chứng. Tía má Cộc - lực lượng lao động chính trong gia đình - là những người nông dân hiền lành, chất phác, chí cốt làm ăn, luôn nỗ lực thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh khách quan và có những kinh nghiệm đáng quý trong sản xuất, ổn định cuộc sống. Cộc là cậu bé hồn nhiên, trong sáng, chịu thương chịu khó. Tuy trong lòng Cộc có những xao động và ý nghĩ trái chiều với định hướng của ông nội và tía má cậu nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu và thông cảm vì nó phản ánh đúng quy luật tâm, sinh lý lứa tuổi trước hoàn cảnh. Khi được ông nội giảng giải, khuyên bảo, cậu mau chóng nhận ra vấn đề. Việc tác giả chọn Cộc làm nhân vật chính của truyện ngắn và cách ông xây dựng các tình tiết, lớp lang của câu chuyện xung quanh nhân vật này cũng là một sáng tạo độc đáo. Nội dung truyện được phản chiếu, khúc xạ qua tâm hồn Cộc, một tâm hồn trẻ trung, trong sáng, tạo cho người đọc cảm giác mọi chuyện diễn ra đều khách quan, chân thực, và do đó góp phần nâng cao sức thuyết phục của tác phẩm. Tác giả cũng không cần phải dụng công nhiều để miêu tả những chi tiết cụ thể về cuộc sống và quá trình lao động đầy gian nan thử thách của gia đình Cộc mà vẫn phản ánh một cách sinh động quá trình ấy, qua đó thể hiện đậm nét nội dung, tư tưởng tác phẩm. Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ và ngôn ngữ “đặc sản” của Nam Bộ, khả năng khắc họa tinh tế những phẩm chất bên trong rất đáng yêu của người dân vùng đất này, cùng với lối hành văn bình dị, gần gụi mà khúc chiết, giàu tình cảm của tác giả cũng góp phần tạo nên hồn cốt và sức hấp dẫn của tác phẩm. Nhất là đoạn văn miêu tả cây cối và rừng mắm ở cửa rạch cùng những lời giảng giải mộc mạc nhưng giàu tâm huyết, có chiều sâu trí tuệ và tâm hồn, đúc kết sâu sắc và minh triết từ lịch sử của ông nội Cộc đã tạo nên bản hùng ca tuyệt đẹp về quá trình khai khẩn, thuần hóa đất đai, xây dựng cuộc sống mới của các thế hệ cha ông ở dải đất phương Nam của Tổ quốc. Đó chắc chắn là một trong những áng văn đẹp nhất, khúc chiết nhất của Bình Nguyên Lộc.
Đọc truyện ngắn Rừng Mắm, chúng ta cảm nhận thật rõ những thử thách, gian truân gia đình Cộc đã phải trải qua và những thành quả họ đạt được. Cũng qua Rừng Mắm, chúng ta như được trở về với những năm tháng gian khổ và hào hùng của các thế hệ cha ông, thấu hiểu sự hy sinh và công lao to lớn của các bậc tiền nhân để non sông đất nước ta được đàng hoàng, tươi đẹp như ngày hôm nay. Từ đó, ta càng thêm yêu quý và tự hào về đất nước, quê hương mình.
N.Q