TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi

Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-26 15:36:05
mail facebook google pos stwis
1614 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.

 

Bìa tập truyện ngắn "Rừng Mắm" của nhà văn Bình Nguyên Lộc

 

Truyện ngắn Rừng Mắm kể về một gia đình ba thế hệ, vì nghèo, không có đất, đã lưu lạc tới Cà Mau để lập nghiệp. Đó là gia đình Cộc, một cậu bé mười tuổi, cùng tía má và ông nội cậu. Họ chọn một bờ rạch để định cư và đặt tên nơi này là Ô-Heo vì đấy vốn là hang ổ của loài heo rừng. Sau khi tạm ổn định nơi ăn ở, họ bắt tay vào khai khẩn rừng hoang để trồng lúa và hy vọng vùng đất này sẽ có một tương lai xán lạn bởi người dân các nơi có thể theo chân họ tới đây sinh sống. Thông qua câu chuyện của gia đình Cộc, Bình Nguyên Lộc như tái hiện lại lịch sử vùng đất Nam Bộ thuở những người Việt đầu tiên đến đây khai khẩn, thuần hoá đất đai.

Nhân vật chính của truyện ngắn là Cộc, thế hệ thứ ba của gia đình nông dân nói trên. Việc di cư tới Cà Mau lập nghiệp là chủ trương của ông nội Cộc. Cậu cũng không phải là người đóng vai trò chủ chốt trong những năm đầu tạo lập cuộc sống mới của gia đình. Tuy vậy, nếm trải sâu sắc dư vị cuộc khai khẩn đất từ khi còn là một cậu bé có tâm hồn vô tư, trong sáng và là người kế tục sự nghiệp của ông cha mình nên những gì Cộc đã trải qua, diễn biến tâm lý, tư tưởng của cậu là tấm gương phản chiếu đầy đủ, khách quan hiện thực cuộc sống và cả tương lai của cuộc khai hoang lập nghiệp ấy. Chính vì vậy, khi đọc Rừng Mắm, thông qua nhân vật Cộc, người đọc sẽ hiểu được quá trình chinh phục vùng đất mới của gia đình cậu, và qua đó, tìm về một thời kỳ lịch sử oai hùng của cha ông: thời kỳ khai khẩn vùng đất phương Nam của Tổ quốc.

Cộc là một cậu bé thích khám phá và có tâm hồn nhạy cảm. Những năm tháng đầu tiên sống ở rừng, cậu say mê trước những điều mới lạ. Chăm chú theo dõi con chim thầy bói “câu cá”, Cộc` “thích chí hết sức” trước những động tác kỳ dị và tài tình của nó. Đôi mắt cậu cũng không thể bỏ qua hình ảnh “trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá”. Cộc kịp nhận ra “màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão có sầu não là ngang vai thôi”. Từ chỗ là một cậu bé thơ ngây, những điều đã được chứng kiến gieo vào lòng Cộc một tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên đồng thời khắc ghi vào tâm trí cậu bài học đầu tiên về sự bền gan vững chí trước các thử thách của cuộc đời. Bài học ấy thực sự có ý nghĩa, bởi bên cạnh hình ảnh nên thơ, đầy cuốn hút của thiên nhiên, có một thực tế đầy nghiệt ngã đang diễn ra: “Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cá, từ ông nội nó đến những con sinh vật nhỏ mọn quy tụ quanh các ngọn nước.”

Với tâm hồn nhạy cảm, dù đang thích chí theo dõi con chim thằng chài, nhưng khi có đàn cò bay qua, thấy đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, Cộc quên thằng chài ngay và nhớ tới những kép vó hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mộ cách đây năm năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng. Trong tâm trí Cộc chợt hiện về những hình ảnh thân thương của cuộc sống nơi quê cũ: “Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với”. “Nghĩ tới những năm cũ, thằng Cộc nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm”.

 Những kỷ niệm ấy đã thuộc về dĩ vãng xa xăm khi nó theo ông nội và ba má nó vào rừng sâu lập nghiệp. Đổi lại, là “những chiều nghi ngút sương từ đất lầy bốc lên”, “những đêm mưa gào gió hú”, “những chuyện ma, rợn óc như ăn phải trái bần chua”. Là nơi không có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy. “Con chó săn và mấy con gà giống mang theo đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới”. Khí hậu “tàn ác: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy”. Môi trường sống ấy như là một trong những cái giá đắt phải trả, hoặc là một sự hy sinh không nhỏ, khi Cộc và những người thân của mình từ bỏ cuộc đời cũ để đi tìm tương lai.

Với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt như vậy, công cuộc khai khẩn khu rừng hoang thành đất trồng lúa và cây ăn trái của gia đình Cộc đã gian nan, vất vả, càng gian nan, vất vả hơn. Ngay cả khi đã có đất, việc trồng và thu hoạch lúa cũng hết sức gian truân. Cộc và những người trong gia đình cậu phải suốt ngày căng mình dưới nắng đốt và lội bì bõm trong sình bùn sâu để lao động cật lực. Do đất mặn, năng suất lúa rất thấp, chỉ đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Qua câu chuyện giữa Cộc và những người cậu tình cờ gặp trong rừng, chúng ta được biết, tía Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lúa thêm. Nhiều khi cả nhà phải ăn rắn, ăn rùa trừ cơm. Chè và các thứ đồ ngọt vốn là món ăn bình dân trở thành niềm ước ao ám ảnh tâm trí Cộc. Do thiên nhiên quá khắc nghiệt, cây cối trồng lên bị chết queo. Để tránh nước mặn tràn vào sân, tía Cộc phải “đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất tía nó mang từ xa về” làm chỗ trồng hành, ớt, rau răm, rau ngò om, “là bốn thứ tối cần” làm món gia vị ăn cá. Sống tách biệt với xã hội bên ngoài, những cái giá ba chân và những chiếc nồi đặt trên đó trở thành đồng hồ xác định thời gian: họ nhìn bóng của chúng để đoán giờ giấc trong ngày. Chuyện lao động, ăn uống, sinh hoạt đã vậy, cái mặc của Cộc và các thành viên trong gia đình cũng kham khổ đến cùng cực: “Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Đêm khuya nhờ nó che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da”.

Như một lẽ tự nhiên, dù là đứa bé chịu thương chịu khó, nhưng với môi trường và điều kiện sống như vậy, Cộc không khỏi xao lòng. Những lúc rảnh rỗi sau khi thu hoạch lúa xong, Cộc lại nao nức muốn về làng. Cậu bí mật tiếp xúc với những người bạn thỉnh thoảng gặp trong rừng. Đó là “vài người đờn ông và đờn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông”. “Đờn ông thì đến để gác cuốc, gác nhan sen, còn đờn bà thì để nhổ bồn bồn về làm dưa bán”. “Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại là tất cả sanh hoạt của làng mạc từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như những kỷ niệm xa xôi”.

Một lần, nghe tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng rậm, rồi tiếp theo là tiếng chèo khua nước, “Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về”. Khi gặp “đôi tình nhơn” đang ngồi với nhau trên gò Ô-Heo và nghe người đàn ông hỏi: “Mày về trển hay không Cộc?”, lại nghe người phụ nữ trẻ đẹp bảo:  “Mày mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa”, lòng Cộc nôn nao.

Sau năm năm sinh sống ở rừng, mới bước vào tuổi mười lăm nhưng Cộc cao lớn như người đàn ông đã trưởng thành. “Sự nảy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong nó… Nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà”. Vì vậy, khi nghe chị phụ nữ nói rằng, chị ta có người em gái tên Thôi “ngộ  lắm, trắng lắm”, nếu về “làm rể có công ba năm thì má chị gả con Thôi cho mày liền”, Cộc rất thích chí. Câu nói của chị nhổ bồn bồn và hình ảnh của Thôi - mặc dù chỉ là trong tưởng tượng - cứ hiện lên trong tâm trí Cộc.

Cái gì đến sẽ đến. Trong bữa cơm trưa của gia đình, giữa lúc cả nhà đang hớn hở vui mừng trước thành quả của mùa gặt, diện tích đất canh tác dự kiến sẽ được mở rộng thêm, chuối cũng sắp trổ buồng, báo hiệu đất đai đã khá thuần, năm tới có thể trồng sả, trồng ổi, nghĩa là tương lai tốt đẹp đã cận kề trước mặt, thì Cộc lên tiếng chất vẩn ông nội nó là tại sao mình lại tới đây? Với sự thôi thúc của bao nỗi niềm chất chứa trong lòng, Cộc đã nổi dận nói đi nói lại cái câu làm ông nội nó giật mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng: “Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta”. Có lẽ ông đã trù liệu trước tình huống này. Hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc rằng, để hoàn thành công việc đã đề ra, ông và các thành viên trong gia đình phải trải qua một hành trình vô cùng gian nan, vất vả. Đời sống , khổ ải đã đành, nhiều khi còn là những cuộc đấu tranh đầy gay cấn trong lòng. Ngay như bản thân ông có lúc không kìm nén nổi, thầm than “mình nhớ mồ mả ông bà quá”. Huống chi một cậu bé còn trẻ người non dạ như Cộc.

Để gỡ nút thắt ấy, sau khi dừng bồ cho con cháu đổ lúa khô vào, ông nội Cộc long trọng nói: “Ngày mai ra biển”.

Trải qua một buổi đi xuồng, tới gần mép biển, tía Cộc rút sào cắm xuống bùn theo lịnh ông nội. Cộc được ông nội cậu chỉ và giải thích về sự thay đổi hình thù của rừng cây trước mặt. “Bờ biển dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh núi tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa”. Có những cây “mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công”. Dưới các gốc cây, “bùn đen từng nơi lại trắng xoá những đoá hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp”. Cộc thắc mắc cây gì lạ vậy, lại trổ bông dưới gốc? Ông nội cậu bảo:  “Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy”… Thấy Cộc ngơ ngác không hiểu, ông nội cậu giảng giải: “Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được… Ông với lại tía con là cây mắm, chọn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.

Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận ấy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.

Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?”.

Những lời ông nội nói làm Cộc bừng tỉnh. Cậu nhìn ông nội và “thương không biết bao nhiêu” bởi ông “đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì hục năm năm trong đồng chua, nước mặn của Ô-Heo”. Cộc thích chí khi nghe ông nói về dự kiến tương lai: “Năm tới, đất thuần, ta làm ba mươi công, và sẽ gọi dân cày ở xa để phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu”. Còn chè, món ăn đã mấy năm rồi Cộc luôn mơ ước, ông nội cậu bảo “sẽ có lu bù”.

Từ câu chuyện của gia đình mình, ông nội Cộc liên hệ tới lịch sử của các bậc tiền nhân: “Tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận là cây mắm hết… Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối lội qua lộ nước rộng đắp đường cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phong đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn”.

Những lời ông nội Cộc nói thật thấu tình, đạt lý. Từ quy luật của tự nhiên, ông đã liên hệ và chỉ ra quy luật của cuộc sống, làm cho Cộc thấy rõ con đường mình đang đi. Cộc bất chợt thốt lên tiếng “tía!” bằng một giọng yêu thương trìu mến hết sức. Cậu lo không biết tía cậu sẽ làm tràm như cậu được hay không?.

Trước tình cảm, suy nghĩ và thái độ ứng xử của Cộc, ông nội cậu biết rằng, nút thắt đã được cởi. Cộc, thế hệ nối tiếp của ông và con ông đã thực sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc khai khẩn, thuần hoá đất đai, xây dựng cuộc sống mới, và như vậy, tương lai tươi đẹp của công cuộc ấy chắc chắn sẽ được đảm bảo. Vì vậy, ông ra lệnh “nhổ sào đi về cho kịp con nước”.                              

Với tác phẩm Rừng Mắm, Bình Nguyên Lộc đã thể hiện năng lực viết truyện ngắn bậc thầy của mình. Ông không hề gượng ép, lên gân. Tình tiết câu chuyện tự nhiên, hợp lý. Kết cấu truyện chặt chẽ. Tác giả cũng lồng ghép câu chuyện cùng các diễn biến tâm lý của nhân vật với những triết lý sâu sắc. Có khi đó là phát biểu của người dẫn chuyện về quy luật sinh tồn của con người và các sinh vật khác. Có khi thông qua các cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm. Bình Nguyên Lộc cũng sử dụng hiệu quả kết cấu song hành giữa hiện thực và cảm hứng lãng mạn: bên cạnh cuộc sống gian khổ của Cộc và gia đình cậu là những hình ảnh thơ mộng của thiên nhiên hoang dã, hay ước vọng của họ về tương lai… Tất cả các chi tiết ấy đều tập trung vào việc khắc họa cuộc sống của các nhân vật trong truyện ngắn.

Việc xây dựng hệ thống nhân vật là một gia đình bốn người gồm ba thế hệ là một sáng tạo của tác giả nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng cốt truyện. Mỗi nhân vật có vai trò và tính cách khác nhau. Ông nội Cộc, người chủ trương đi lập nghiệp ở vùng đất mới là người nhìn xa trong rộng, giàu bản lĩnh và ý chí, có tấm lòng độ lượng, bao dung. Ông luôn nắm chắc và làm chủ tình hình, táo bạo nhưng sáng suốt, hoạch định lộ trình chính xác, dự kiến được những khó khăn trắc trở và có niềm tin vững chãi vào tương lai. Vì cuộc sống của các thế hệ con cháu, ông đã chấp nhận mọi sự vất vả hy sinh để dấn thân thực hiện hoài bão lớn. Ông là chỗ dựa tinh thần cho cả gia đình. Khi cần, ông có thể giải quyết nhanh gọn và hiệu quả các xung đột trong đời sống, tình cảm, tư tưởng của các thành viên để hướng tới mục tiêu cao đẹp phía trước mà việc giải toả nỗi niềm trắc ẩn trong lòng Cộc là một minh chứng. Tía má Cộc - lực lượng lao động chính trong gia đình - là những người nông dân hiền lành, chất phác, chí cốt làm ăn, luôn nỗ lực thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh khách quan và có những kinh nghiệm đáng quý trong sản xuất, ổn định cuộc sống. Cộc là cậu bé hồn nhiên, trong sáng, chịu thương chịu khó. Tuy trong lòng Cộc có những xao động và ý nghĩ trái chiều với định hướng của ông nội và tía má cậu nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu và thông cảm vì nó phản ánh đúng quy luật tâm, sinh lý lứa tuổi trước hoàn cảnh. Khi được ông nội giảng giải, khuyên bảo, cậu mau chóng nhận ra vấn đề. Việc tác giả chọn Cộc làm nhân vật chính của truyện ngắn và cách ông xây dựng các tình tiết, lớp lang của câu chuyện xung quanh nhân vật này cũng là một sáng tạo độc đáo. Nội dung truyện được phản chiếu, khúc xạ qua tâm hồn Cộc, một tâm hồn trẻ trung, trong sáng, tạo cho người đọc cảm giác mọi chuyện diễn ra đều khách quan, chân thực, và do đó góp phần nâng cao sức thuyết phục của tác phẩm. Tác giả cũng không cần phải dụng công nhiều để miêu tả những chi tiết cụ thể về cuộc sống và quá trình lao động đầy gian nan thử thách của gia đình Cộc mà vẫn phản ánh một cách sinh động quá trình ấy, qua đó thể hiện đậm nét nội dung, tư tưởng tác phẩm. Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ và ngôn ngữ “đặc sản” của Nam Bộ, khả năng khắc họa tinh tế những phẩm chất bên trong rất đáng yêu của người dân vùng đất này, cùng với lối hành văn bình dị, gần gụi mà khúc chiết, giàu tình cảm của tác giả cũng góp phần tạo nên hồn cốt và sức hấp dẫn của tác phẩm. Nhất là đoạn văn miêu tả cây cối và rừng mắm ở cửa rạch cùng những lời giảng giải mộc mạc nhưng  giàu tâm huyết, có chiều sâu trí tuệ và tâm hồn, đúc kết sâu sắc và minh triết từ lịch sử của ông nội Cộc đã tạo nên bản hùng ca tuyệt đẹp về quá trình khai khẩn, thuần hóa đất đai, xây dựng cuộc sống mới của các thế hệ cha ông ở dải đất phương Nam của Tổ quốc. Đó chắc chắn là một trong những áng văn đẹp nhất, khúc chiết nhất của Bình Nguyên Lộc.

Đọc truyện ngắn Rừng Mắm, chúng ta cảm nhận thật rõ những thử thách, gian truân gia đình Cộc đã phải trải qua và những thành quả họ đạt được. Cũng qua Rừng Mắm, chúng ta như được trở về với những năm tháng gian khổ và hào hùng của các thế hệ cha ông, thấu hiểu sự hy sinh và công lao to lớn của các bậc tiền nhân để non sông đất nước ta được đàng hoàng, tươi đẹp như ngày hôm nay. Từ đó, ta càng thêm yêu quý và tự hào về đất nước, quê hương mình.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm