TIN TỨC

Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-14 20:31:20
mail facebook google pos stwis
275 lượt xem

NGUYỄN THỊ TỊNH THY   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.

 

Tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa"

 

Nửa đầu thế kỷ XX, trong các công trình khoa học của mình, nhà lý luận M.Bakhtin đã đề ra thuyết đối thoại trong văn học. Qua tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki, M.Bakhtin khẳng định: “Tất cả đều là phương tiện, đối thoại là mục đích. Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại”1. Đối thoại chính là việc “dẫn dắt chủ đề theo một số tiếng nói khác nhau, là bản thân tính nhiều tiếng nói, tính khác tiếng nói về nguyên tắc”. Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Trong những tác phẩm của Trương Văn Dân, đối thoại thể hiện ba mục đích sáng tác rất rõ. Đó là sáng tác để trình bày luận đề, sáng tác để giãi bày tình cảm và sáng tác để chia sẻ tri âm.

Đối thoại với thế sự thể hiện tính luận đề là đặc điểm chung của tiểu thuyết Trương Văn Dân. Trong Bàn tay nhỏ dưới mưaTrò chuyện với thiên thần2, nói như nhà văn Nhất Linh, Trương Văn Dân đã thực hiện cái ý định dùng tiểu thuyết để làm một việc gì đó. “Việc” mà Trương Văn Dân muốn làm, theo thuật ngữ văn học, chính là luận đề tiểu thuyết. Thông qua đối thoại với nhiều hình thức văn bản: văn bản trần thuật, văn bản báo chí, nhật ký, thư tín, thơ ca, báo cáo…, rất nhiều vấn nạn của quốc gia và thế giới, của cá nhân và cộng đồng nhân loại hiển hiện. Đằng sau câu chuyện về một cuộc tình không trọn vẹn của người đàn bà đi qua bao giông bão đời người trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và niềm hạnh phúc lẫn nỗi âu lo đầy trách nhiệm của đôi vợ chồng hiếm muộn trong Trò chuyện với thiên thần, Trương Văn Dân đã luận đề về mọi mặt của đời sống trong “trần gian điên dại này”. Trái đất cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh hiểm nguy, thực phẩm biến đổi gien, con người vô cảm, mặt trái của văn minh và toàn cầu hóa và rất nhiều vấn đề “nóng” thuộc về hậu quả của “cơn điên tăng trưởng” được thể hiện vừa trực diện vừa hàm ẩn cho thấy mối quan tâm và âu lo của nhà văn với cõi nhân sinh.

 

Tiểu thuyết "Trò chuyện với thiên thần"

 

“Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”3. Những điều tốt đẹp lẫn xấu xa trong tiểu thuyết được Trương Văn Dân tích lũy từ vốn sống của cả đời người và đưa vào trang văn của mình chủ yếu thông qua đối thoại. Đó có thể là những vấn đề lớn như “Thảm hoạ hạt nhân”, “Những quái vật nhân tạo”, “Trí tuệ và khoa học”,  “Chính trường và chiến trường”, “Thân và phận”… của “một giống loài khốn khổ” khiến nhà văn thẳng thừng tuyên bố: “Xin các nghị viện quốc tế hãy chấm dứt thảo luận các vấn đề vô bổ. Xin các vị đừng nhắm mắt như con đà điểu vùi đầu dưới cát hay quyết định không quyết định gì để biến di sản Trái đất thành hỏa ngục. Nếu không, khi các người chết đi và để lại cho thế hệ kế tiếp là chúng tôi và con cháu một tương lai đầy rác rưởi, đau khổ. Chúng tôi không thể đồng lõa với tội ác của các người. Và chúng tôi muốn nói với những người có trách nhiệm là chúng tôi đang mang trong lòng một nỗi khinh bỉ vô tận; các người luôn rao giảng đạo đức và khuyên chúng tôi phải sống thế này, thế kia nhưng chính các người đang sống phi đạo đức nhất. Chúng tôi biết các người sẽ chết trước khi chịu trách nhiệm về những điều mình làm. Nhưng chúng tôi sẽ phỉ nhổ lên những bộ xương khô thế hệ đã hành động vô trách nhiệm với Quả địa cầu” (Bàn tay nhỏ dưới mưa). Đó có thể là những vấn đề nhỏ khiến nhà văn day dứt: “Mẹ biết lấy gì nuôi con?” giữa cơ man nào là thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chứa độc tố nếu như ngay bây giờ con “gõ cửa trần gian” (Trò chuyện với thiên thần).

Trò chuyện với thiên thần là một cuộc đối thoại (tâm tình) dài giữa ba nhân vật: người cha, người mẹ với thai nhi. Hai đấng sinh thành đã nói lên những âu lo, trăn trở, buồn nản về thế giới loài người những năm tháng này. Thế giới ấy không có chỗ nào, lĩnh vực nào an toàn cho con trẻ trú ngụ. Ba mẹ nói hết với con về tất cả những gì chờ đón con, để con chuẩn bị tinh thần trước khi trở thành thành viên của cõi đời này. Bạo lực, tham nhũng, ô nhiễm, bất công… bao phủ lên bầu khí quyển mà con sẽ hít thở. Hiểu tất cả rồi, con có quyền chọn lựa nên hay không nên làm người. Đây quả là một ý tưởng táo bạo theo motif hỏi ý kiến thai nhi trước khi chào đời trong Xã hội thủy quái Kappa của nhà văn Nhật Bản R.Akutagawa và quan điểm “Sinh ra tôi sao không hỏi ý kiến tôi” của triết gia J.P.Sartre. Sử dụng hình thức tự sự đối thoại qua trần thuật đa chủ thể, Trương Văn Dân đã phác họa bức tranh màu xám của thế giới từ suy nghĩ và ngôn ngữ đậm màu sắc triết học của nhân vật.  

Từng mẫu đối thoại, khi ngắn gọn khắc khoải; khi dằng dặc miên man, Trò chuyện với thiên thần chất chứa tầng tầng lớp lớp những luận đề mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Tất cả đều thể hiện một tấm lòng mượn nghệ thuật để luận nhân sinh đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết và vô cùng thiết tha của nhà văn.

Đối thoại với lòng mình ăm ắp tình cảm được Trương Văn Dân tập trung ở mảng tùy bút, đặc biệt là tùy bút về người thân. Trong bút ký Tia nắng mùa đông của tập truyện Hành trang ngày trở lại, tình cảm gia đình, lịch sử gia đình trải dài cùng dòng tâm tình được viết theo mô thức “vi đối thoại” (đối thoại với chính mình) qua một sự cố buồn đau: cái chết của người anh trai. Tình cảm, lòng biết ơn, nỗi xót xa pha lẫn ân hận đối với người anh chất chứa trong tim và vỡ òa trên trang viết. Ở tản văn mang tính riêng tư này, chắc chắn Trương Văn Dân không viết cho độc giả. Ông viết cho chính mình, viết về nỗi đau thương của dân tộc, gia tộc và cá nhân. Đây không phải là lúc, là chỗ để thi triển tài nghệ văn chương hay tô trát phấn son chữ nghĩa. Tuy vậy, bằng tất cả xúc cảm chân thành được dồn nén bấy lâu, Trương Văn Dân đã chắt chiu những con chữ yêu thương để trao về người yêu thương. Và, những con chữ giàu sức nặng nội tâm ấy lại thể hiện nét bút tài hoa của một người khiêm tốn tự nhận rằng mình viết văn với vốn liếng tiếng Việt của năm mười tám tuổi - năm rời xa tổ quốc - và hơn bốn mươi năm sau mới cất bước trở về.

Tia nắng mùa đông tỏ rõ thế mạnh của văn viết về cảm xúc của Trương Văn Dân. Ba mươi lăm trang viết cuốn hút người đọc không chỉ bằng nỗi lòng tử biệt sinh ly gây xúc động mà còn bằng thứ tiếng Việt “mười tám tuổi” đẹp đẽ một cách vừa non tơ vừa già dặn: “Vậy thì anh hãy đi đi!… Anh sẽ ngủ một giấc dài… Kết thúc mọi nghiệp chướng tiền oan. Anh sẽ không còn phải băn khoăn, nhọc lòng quyết định một việc gì. Anh sẽ mãi mãi không còn tự ép mình, thôi thúc mình, buộc phải làm những điều mình không muốn như đã phải từng làm trong suốt sự hiện hữu đầy khổ đau và nhẫn nhục của anh. Anh sẽ không còn phải sống những bi kịch bi đát của nội tâm vò xé, suy gẫm về những mâu thuẫn của bổn phận và nhiệm vụ… Thôi, hãy bỏ lại tất cả những phù phiếm đó, cho tất cả tan vào hư không, anh nhé!”… “Tất cả cuộc đời của thế hệ chúng tôi hỗn tạp một cách kỳ lạ đến nỗi phải gánh lấy những trách nhiệm và ưu tư quá lớn trước khi đến tuổi trưởng thành... Rồi bỗng nhiên tôi muốn khóc, muốn để mặc cho những giọt nước mắt chảy dài, để có thể nức nở rồi chìm sâu vào cơn sóng tuyệt vọng rồi quỵ ngã trong nỗi đau cùng cực. Tôi muốn được tự do gào thét, nằm duỗi người hai chân vùng vẫy, đạp liên hồi trên thảm cỏ như một đứa bé thảm sầu trong cơn cuồng nộ...

Tia nắng mùa đông như là tản văn đại diện cho phong cách ngôn từ nghệ thuật của Trương Văn Dân trong toàn tập truyện Hành trang ngày trở lại. Tác phẩm này có những ưu điểm của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Đó là văn phong. Trương Văn Dân có vốn từ ngữ biểu cảm rất phong phú và dồi dào, như thể đó là vốn từ của người Việt chưa hề rời xa quê hương, dù chỉ một giây phút. Ông lại có một bút lực rất mạnh với khả năng viết, khả năng diễn đạt cảm xúc bền bỉ hiếm có. Buổi chiều trên nghĩa trang cũng thế. Nó giản dị nhưng bộc lộ được tâm hồn người viết. Trong văn chương của mình, Trương Văn Dân hay viện dẫn nhiều triết lý. Tuy vậy, ông chinh phục người đọc bằng chính những câu chữ bình dị nhất - câu chữ của tình yêu. Bởi, như ông từng nhận định trong bài viết về người bạn đời của mình: “Tình yêu là hằng số cuộc đời”.  

Những đối thoại với bạn bè, đặc biệt là bạn văn chương, lại gây bất ngờ về một Trương Văn Dân rộn ràng, sôi nổi, tinh nhạy và dí dỏm trong những bình luận chính xác về chất người và chất văn của người khác. Huỳnh Kim Bửu và Tiếng hạc bay qua trên dòng sông Côn, Nguyên Minh - Một cuộc đời với văn chương… và đặc biệt là Kiệt Tấn, đôi khi thèm chết nhưng vẫn mê đời cho thấy năng khiếu tạc dựng chân dung bằng ngôn từ của Trương Văn Dân. Đây là bút ký chân dung thành công về mọi mặt, từ nhan đề, tiêu đề cho đến ngôn ngữ, giọng điệu; lột tả được cả phẩm cách của người viết lẫn người được viết. Từ tính cách rất cá biệt “chỉ biết ham sống”, “si tình và đam mê đàn bà”, “điên có bằng cấp hẳn hoi” để “cười vào mũi cuộc đời” bằng “những ý nghĩ cuốn theo gió ngược chiều” của nhà văn Kiệt Tấn, Trương Văn Dân khái quát được cái “nết” rất chung của những người cầm bút: “Ngẫm cho cùng, người viết nào mà không ngu ngu và điên điên? Có lẽ chính trong sự ‘cô-đơn-sáng-tạo’ đó họ đã tìm thấy chính mình… Những trang viết giúp họ lướt qua những ngày thống khổ của kiếp người!”  

Các nhân vật trong những tùy bút của tác phẩm Milano Sài Gòn, đang về hay sang? đều có hình có sắc, sống động đến bất ngờ đã bộc lộ một sở trường khác của Trương Văn Dân. Đồng thời, qua những tùy bút này, người đọc còn nhận ra khả năng thẩm bình tác phẩm của ông. Câu chuyện bàn rượu về “những thằng già nhớ mẹ” lột tả được cái hồn cốt của văn phong “sặc mùi ethanol” của Vũ Thế Thành: “Anh viết như người say. Mà té ra rất tỉnh… bằng giọng điệu của kẻ “buôn dưa lê” có chút “duyên” ngầm,… thể hiện những điều mình đề cập bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh khiến người đọc cứ phải buồn vui theo dõi”. Vũ Thế Thành viết: “Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buộc miệng ‘Mẹ ở…’ (… nhà con đi làm đây!). Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi…”. Vũ Thế Thành thật và hay đến choáng váng. Trương Văn Dân cũng thấu cảm thế này: “Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân khi đọc đoạn văn này! Giọng văn sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm lửng sau hai chữ “rồi đi” giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy trên trang viết…”. Bình luận và phân tích như thế, thật chẳng uổng phí văn chương của người khác.

Theo tôi, đối thoại với các nhà văn và tác phẩm trong phần tùy bút là mảng đề tài thành công nhất của toàn tập văn nhiều thể loại Milano Sài Gòn, đang về hay sang? Chính mảng đề tài này đã thắp lên ngọn lửa đủ sưởi ấm cho cái giá lạnh của phần truyện ngắn và những trích đoạn từ tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa ở phần phụ lục.

Nếu đánh giá thật đầy đủ và chính xác về hoạt động văn học của Trương Văn Dân, cần phải kể đến vai trò và tâm huyết của ông với tập san văn học nghệ thuật Quán Văn; đồng thời, không thể bỏ qua thành tựu dịch thuật từ tiếng Ý với tiểu thuyết Mùa hè tươi đẹp của Cesare Pavese, nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tùy bút của Dino Buzzati, Elena Pucillo Truong và các tác giả khác. Tiếc thay, không mấy người cùng lúc rành rẽ cả tiếng Ý lẫn tiếng Việt để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò của Trương Văn Dân với tư cách là một dịch giả văn chương. Ở phương diện sáng tác, Trương Văn Dân là người sáng tác có tư tưởng, có nền tảng văn hóa và triết học. Cái chết, sự hy sinh, tình thương, sự vô cảm và cảm nghiệm nhân sinh như mộng là nỗi ám ảnh xuyên suốt, trở thành tâm thức sáng tác của ông. Đọc tác phẩm của Trương Văn Dân, ta thấy được nỗi day dứt, nghe được tiếng kêu cứu vì môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, môi trường xã hội đang bị suy thoái về mọi mặt. Đó chính là sự nhạy cảm, là trách nhiệm của nhà văn “nghệ thuật vị nhân sinh”. Về nghệ thuật sáng tác, thế mạnh của Trương Văn Dân là văn biểu cảm - cảm xúc và cảm giác. Đi liền với nó là văn miêu tả tính dục đầy cảm xúc, giàu nhục cảm nhưng không sa vào dung tục tầm thường (Bàn tay nhỏ dưới mưa).

Tuy nhiên, để tiếp tục cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa, Trương Văn Dân còn phải khắc phục, gọt giũa ngòi bút của mình nhiều để có thể thu về những hạt thóc tròn trịa hơn. Vì vậy, chúng tôi dành phần kết của bài viết này để đối thoại cùng tác giả với thiện chí mong muốn được đón nhận nhiều tác phẩm hoàn thiện hơn của ông. Sâu và sắc, nén và bung, chặt chẽ trong từng chi tiết nhỏ đến cấu trúc lớn là những nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải kỳ công theo đuổi. Tiểu thuyết luận đề là con dao hai lưỡi. Nếu không giỏi điều khiển trận đồ chữ nghĩa, tác phẩm văn chương sẽ trở thành những văn bản tuyên truyền, giáo điều, phê phán và thậm chí là mạt sát mang đậm dấu ấn của “tác giả thực tế”; trong khi văn chương hư cấu rất cần “tác giả ẩn tàng” và “người kể chuyện”. “Cái chết của tác giả” trong lý thuyết của M.Foucault và R.Barthes luôn là nguyên tắc vàng của tác phẩm hư cấu. Mục đích của tiểu thuyết luận đề là diễn giải cho một tư tưởng hoặc một quan điểm có trước, vì thế, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ những chỗ gượng gạo, khiên cưỡng, áp đặt. Bậc thầy tiểu thuyết luận đề Nhất Linh cũng đã từng tiếc nuối rằng vì mải theo luận đề mà không cố viết cho đúng tâm lý, tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết Đoạn tuyệtLạnh lùng. Ông “chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài” và chỉ dùng những chi tiết nào có lợi cho cái ý chứng tỏ luận đề của mình, “không theo sát cuộc đời thực”… mà đổi cuộc đời thực cho luận đề4.

“Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó. Nhà văn có khi sẵn sàng hy sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình”5. Dẫu biết vậy, nhưng Trương Văn Dân đã “hy sinh” hơi quá, khiến hai tiểu thuyết của ông rơi vào ôm đồm (vì luận quá nhiều vấn đề). Nhìn tổng thể, hai tác phẩm (đặc biệt là Trò chuyện với thiên thần) đều mắc lỗi dài dòng và trùng lặp ý, trích dẫn nhiều, chuộng diễn giải và nhận định chủ quan; đặc biệt là chưa thật sự thể hiện chủ đề thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tình tiết, sự kiện. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn yêu cầu “less is more”, nghĩa là viết ít nhất nhưng biểu đạt nhiều nhất, cô đúc tiết chế nhất nhưng mở rộng và lan tỏa nhất. Tất cả phải toát lên từ hình tượng, nếu thoát ly hình tượng, nếu để cái biểu đạt ngang bằng với cái được biểu đạt thì nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa.

Trong xây dựng tính cách nhân vật, khát vọng gửi gắm những suy nghĩ của mình đến với người đọc rất mạnh mẽ, đầy tâm huyết và nhiệt tình đã khiến nhà văn Trương Văn Dân thiên về thi pháp “Schiller hóa” hơn là “Shakespeare hóa”6. Nghĩa là biến nhân vật thành những “cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn”7. Điều đó đã khiến cho nhân vật không bộc lộ được tính cách, tác phẩm cũng vì thế mà trở nên đơn điệu, không trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.

Trương Văn Dân là người am hiểu lý luận sáng tác, có vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú. Chúng ta tin rằng, nhà văn Trương Văn Dân sẽ còn tiếp tục trao cho người đọc những bản dịch hay, những sáng tác mới - những đối thoại mới - hoàn hảo hơn, xứng đáng với tâm huyết chọn văn chương để thể hiện trách nhiệm với cuộc đời của ông.

--------------------------------------------

CHÚ THÍCH

1. Bakhtin M. (1993),  Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, tr.235.

2. Tiểu thuyết đang ở dạng bản thảo

3&4. Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết,

5. Nguyễn Thị Phương Thuý, Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3604%3

6. “Shakespeare hóa” là khái niệm chỉ phương thức tư duy nghệ thuật đối lập với phương thức “Schiller hóa”, nghĩa là phải “cá tính hóa nhân vật thật cụ thể, sinh động, sắc nét”… để tác phẩm văn học trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.

7. Đặng Thị Hảo và tgk (2004), Từ điển văn học, NXB Thế giới, tr. 1542.

Nguồn: Bài đăng trong ts Quán Văn 61  ( ra mắt ngày 13.1.2019)

N.T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm