- Lý luận - Phê bình
- Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
NGUYỄN THỊ TỊNH THY
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
.jpg)
Tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa"
Nửa đầu thế kỷ XX, trong các công trình khoa học của mình, nhà lý luận M.Bakhtin đã đề ra thuyết đối thoại trong văn học. Qua tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki, M.Bakhtin khẳng định: “Tất cả đều là phương tiện, đối thoại là mục đích. Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại”1. Đối thoại chính là việc “dẫn dắt chủ đề theo một số tiếng nói khác nhau, là bản thân tính nhiều tiếng nói, tính khác tiếng nói về nguyên tắc”. Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Trong những tác phẩm của Trương Văn Dân, đối thoại thể hiện ba mục đích sáng tác rất rõ. Đó là sáng tác để trình bày luận đề, sáng tác để giãi bày tình cảm và sáng tác để chia sẻ tri âm.
Đối thoại với thế sự thể hiện tính luận đề là đặc điểm chung của tiểu thuyết Trương Văn Dân. Trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và Trò chuyện với thiên thần2, nói như nhà văn Nhất Linh, Trương Văn Dân đã thực hiện cái ý định dùng tiểu thuyết để làm một việc gì đó. “Việc” mà Trương Văn Dân muốn làm, theo thuật ngữ văn học, chính là luận đề tiểu thuyết. Thông qua đối thoại với nhiều hình thức văn bản: văn bản trần thuật, văn bản báo chí, nhật ký, thư tín, thơ ca, báo cáo…, rất nhiều vấn nạn của quốc gia và thế giới, của cá nhân và cộng đồng nhân loại hiển hiện. Đằng sau câu chuyện về một cuộc tình không trọn vẹn của người đàn bà đi qua bao giông bão đời người trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và niềm hạnh phúc lẫn nỗi âu lo đầy trách nhiệm của đôi vợ chồng hiếm muộn trong Trò chuyện với thiên thần, Trương Văn Dân đã luận đề về mọi mặt của đời sống trong “trần gian điên dại này”. Trái đất cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh hiểm nguy, thực phẩm biến đổi gien, con người vô cảm, mặt trái của văn minh và toàn cầu hóa và rất nhiều vấn đề “nóng” thuộc về hậu quả của “cơn điên tăng trưởng” được thể hiện vừa trực diện vừa hàm ẩn cho thấy mối quan tâm và âu lo của nhà văn với cõi nhân sinh.

Tiểu thuyết "Trò chuyện với thiên thần"
“Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”3. Những điều tốt đẹp lẫn xấu xa trong tiểu thuyết được Trương Văn Dân tích lũy từ vốn sống của cả đời người và đưa vào trang văn của mình chủ yếu thông qua đối thoại. Đó có thể là những vấn đề lớn như “Thảm hoạ hạt nhân”, “Những quái vật nhân tạo”, “Trí tuệ và khoa học”, “Chính trường và chiến trường”, “Thân và phận”… của “một giống loài khốn khổ” khiến nhà văn thẳng thừng tuyên bố: “Xin các nghị viện quốc tế hãy chấm dứt thảo luận các vấn đề vô bổ. Xin các vị đừng nhắm mắt như con đà điểu vùi đầu dưới cát hay quyết định không quyết định gì để biến di sản Trái đất thành hỏa ngục. Nếu không, khi các người chết đi và để lại cho thế hệ kế tiếp là chúng tôi và con cháu một tương lai đầy rác rưởi, đau khổ. Chúng tôi không thể đồng lõa với tội ác của các người. Và chúng tôi muốn nói với những người có trách nhiệm là chúng tôi đang mang trong lòng một nỗi khinh bỉ vô tận; các người luôn rao giảng đạo đức và khuyên chúng tôi phải sống thế này, thế kia nhưng chính các người đang sống phi đạo đức nhất. Chúng tôi biết các người sẽ chết trước khi chịu trách nhiệm về những điều mình làm. Nhưng chúng tôi sẽ phỉ nhổ lên những bộ xương khô thế hệ đã hành động vô trách nhiệm với Quả địa cầu” (Bàn tay nhỏ dưới mưa). Đó có thể là những vấn đề nhỏ khiến nhà văn day dứt: “Mẹ biết lấy gì nuôi con?” giữa cơ man nào là thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chứa độc tố nếu như ngay bây giờ con “gõ cửa trần gian” (Trò chuyện với thiên thần).
Trò chuyện với thiên thần là một cuộc đối thoại (tâm tình) dài giữa ba nhân vật: người cha, người mẹ với thai nhi. Hai đấng sinh thành đã nói lên những âu lo, trăn trở, buồn nản về thế giới loài người những năm tháng này. Thế giới ấy không có chỗ nào, lĩnh vực nào an toàn cho con trẻ trú ngụ. Ba mẹ nói hết với con về tất cả những gì chờ đón con, để con chuẩn bị tinh thần trước khi trở thành thành viên của cõi đời này. Bạo lực, tham nhũng, ô nhiễm, bất công… bao phủ lên bầu khí quyển mà con sẽ hít thở. Hiểu tất cả rồi, con có quyền chọn lựa nên hay không nên làm người. Đây quả là một ý tưởng táo bạo theo motif hỏi ý kiến thai nhi trước khi chào đời trong Xã hội thủy quái Kappa của nhà văn Nhật Bản R.Akutagawa và quan điểm “Sinh ra tôi sao không hỏi ý kiến tôi” của triết gia J.P.Sartre. Sử dụng hình thức tự sự đối thoại qua trần thuật đa chủ thể, Trương Văn Dân đã phác họa bức tranh màu xám của thế giới từ suy nghĩ và ngôn ngữ đậm màu sắc triết học của nhân vật.
Từng mẫu đối thoại, khi ngắn gọn khắc khoải; khi dằng dặc miên man, Trò chuyện với thiên thần chất chứa tầng tầng lớp lớp những luận đề mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Tất cả đều thể hiện một tấm lòng mượn nghệ thuật để luận nhân sinh đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết và vô cùng thiết tha của nhà văn.
Đối thoại với lòng mình ăm ắp tình cảm được Trương Văn Dân tập trung ở mảng tùy bút, đặc biệt là tùy bút về người thân. Trong bút ký Tia nắng mùa đông của tập truyện Hành trang ngày trở lại, tình cảm gia đình, lịch sử gia đình trải dài cùng dòng tâm tình được viết theo mô thức “vi đối thoại” (đối thoại với chính mình) qua một sự cố buồn đau: cái chết của người anh trai. Tình cảm, lòng biết ơn, nỗi xót xa pha lẫn ân hận đối với người anh chất chứa trong tim và vỡ òa trên trang viết. Ở tản văn mang tính riêng tư này, chắc chắn Trương Văn Dân không viết cho độc giả. Ông viết cho chính mình, viết về nỗi đau thương của dân tộc, gia tộc và cá nhân. Đây không phải là lúc, là chỗ để thi triển tài nghệ văn chương hay tô trát phấn son chữ nghĩa. Tuy vậy, bằng tất cả xúc cảm chân thành được dồn nén bấy lâu, Trương Văn Dân đã chắt chiu những con chữ yêu thương để trao về người yêu thương. Và, những con chữ giàu sức nặng nội tâm ấy lại thể hiện nét bút tài hoa của một người khiêm tốn tự nhận rằng mình viết văn với vốn liếng tiếng Việt của năm mười tám tuổi - năm rời xa tổ quốc - và hơn bốn mươi năm sau mới cất bước trở về.
Tia nắng mùa đông tỏ rõ thế mạnh của văn viết về cảm xúc của Trương Văn Dân. Ba mươi lăm trang viết cuốn hút người đọc không chỉ bằng nỗi lòng tử biệt sinh ly gây xúc động mà còn bằng thứ tiếng Việt “mười tám tuổi” đẹp đẽ một cách vừa non tơ vừa già dặn: “Vậy thì anh hãy đi đi!… Anh sẽ ngủ một giấc dài… Kết thúc mọi nghiệp chướng tiền oan. Anh sẽ không còn phải băn khoăn, nhọc lòng quyết định một việc gì. Anh sẽ mãi mãi không còn tự ép mình, thôi thúc mình, buộc phải làm những điều mình không muốn như đã phải từng làm trong suốt sự hiện hữu đầy khổ đau và nhẫn nhục của anh. Anh sẽ không còn phải sống những bi kịch bi đát của nội tâm vò xé, suy gẫm về những mâu thuẫn của bổn phận và nhiệm vụ… Thôi, hãy bỏ lại tất cả những phù phiếm đó, cho tất cả tan vào hư không, anh nhé!”… “Tất cả cuộc đời của thế hệ chúng tôi hỗn tạp một cách kỳ lạ đến nỗi phải gánh lấy những trách nhiệm và ưu tư quá lớn trước khi đến tuổi trưởng thành... Rồi bỗng nhiên tôi muốn khóc, muốn để mặc cho những giọt nước mắt chảy dài, để có thể nức nở rồi chìm sâu vào cơn sóng tuyệt vọng rồi quỵ ngã trong nỗi đau cùng cực. Tôi muốn được tự do gào thét, nằm duỗi người hai chân vùng vẫy, đạp liên hồi trên thảm cỏ như một đứa bé thảm sầu trong cơn cuồng nộ...”
Tia nắng mùa đông như là tản văn đại diện cho phong cách ngôn từ nghệ thuật của Trương Văn Dân trong toàn tập truyện Hành trang ngày trở lại. Tác phẩm này có những ưu điểm của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Đó là văn phong. Trương Văn Dân có vốn từ ngữ biểu cảm rất phong phú và dồi dào, như thể đó là vốn từ của người Việt chưa hề rời xa quê hương, dù chỉ một giây phút. Ông lại có một bút lực rất mạnh với khả năng viết, khả năng diễn đạt cảm xúc bền bỉ hiếm có. Buổi chiều trên nghĩa trang cũng thế. Nó giản dị nhưng bộc lộ được tâm hồn người viết. Trong văn chương của mình, Trương Văn Dân hay viện dẫn nhiều triết lý. Tuy vậy, ông chinh phục người đọc bằng chính những câu chữ bình dị nhất - câu chữ của tình yêu. Bởi, như ông từng nhận định trong bài viết về người bạn đời của mình: “Tình yêu là hằng số cuộc đời”.
Những đối thoại với bạn bè, đặc biệt là bạn văn chương, lại gây bất ngờ về một Trương Văn Dân rộn ràng, sôi nổi, tinh nhạy và dí dỏm trong những bình luận chính xác về chất người và chất văn của người khác. Huỳnh Kim Bửu và Tiếng hạc bay qua trên dòng sông Côn, Nguyên Minh - Một cuộc đời với văn chương… và đặc biệt là Kiệt Tấn, đôi khi thèm chết nhưng vẫn mê đời cho thấy năng khiếu tạc dựng chân dung bằng ngôn từ của Trương Văn Dân. Đây là bút ký chân dung thành công về mọi mặt, từ nhan đề, tiêu đề cho đến ngôn ngữ, giọng điệu; lột tả được cả phẩm cách của người viết lẫn người được viết. Từ tính cách rất cá biệt “chỉ biết ham sống”, “si tình và đam mê đàn bà”, “điên có bằng cấp hẳn hoi” để “cười vào mũi cuộc đời” bằng “những ý nghĩ cuốn theo gió ngược chiều” của nhà văn Kiệt Tấn, Trương Văn Dân khái quát được cái “nết” rất chung của những người cầm bút: “Ngẫm cho cùng, người viết nào mà không ngu ngu và điên điên? Có lẽ chính trong sự ‘cô-đơn-sáng-tạo’ đó họ đã tìm thấy chính mình… Những trang viết giúp họ lướt qua những ngày thống khổ của kiếp người!”
Các nhân vật trong những tùy bút của tác phẩm Milano Sài Gòn, đang về hay sang? đều có hình có sắc, sống động đến bất ngờ đã bộc lộ một sở trường khác của Trương Văn Dân. Đồng thời, qua những tùy bút này, người đọc còn nhận ra khả năng thẩm bình tác phẩm của ông. Câu chuyện bàn rượu về “những thằng già nhớ mẹ” lột tả được cái hồn cốt của văn phong “sặc mùi ethanol” của Vũ Thế Thành: “Anh viết như người say. Mà té ra rất tỉnh… bằng giọng điệu của kẻ “buôn dưa lê” có chút “duyên” ngầm,… thể hiện những điều mình đề cập bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh khiến người đọc cứ phải buồn vui theo dõi”. Vũ Thế Thành viết: “Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buộc miệng ‘Mẹ ở…’ (… nhà con đi làm đây!). Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi…”. Vũ Thế Thành thật và hay đến choáng váng. Trương Văn Dân cũng thấu cảm thế này: “Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân khi đọc đoạn văn này! Giọng văn sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm lửng sau hai chữ “rồi đi” giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy trên trang viết…”. Bình luận và phân tích như thế, thật chẳng uổng phí văn chương của người khác.
Theo tôi, đối thoại với các nhà văn và tác phẩm trong phần tùy bút là mảng đề tài thành công nhất của toàn tập văn nhiều thể loại Milano Sài Gòn, đang về hay sang? Chính mảng đề tài này đã thắp lên ngọn lửa đủ sưởi ấm cho cái giá lạnh của phần truyện ngắn và những trích đoạn từ tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa ở phần phụ lục.
Nếu đánh giá thật đầy đủ và chính xác về hoạt động văn học của Trương Văn Dân, cần phải kể đến vai trò và tâm huyết của ông với tập san văn học nghệ thuật Quán Văn; đồng thời, không thể bỏ qua thành tựu dịch thuật từ tiếng Ý với tiểu thuyết Mùa hè tươi đẹp của Cesare Pavese, nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tùy bút của Dino Buzzati, Elena Pucillo Truong và các tác giả khác. Tiếc thay, không mấy người cùng lúc rành rẽ cả tiếng Ý lẫn tiếng Việt để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò của Trương Văn Dân với tư cách là một dịch giả văn chương. Ở phương diện sáng tác, Trương Văn Dân là người sáng tác có tư tưởng, có nền tảng văn hóa và triết học. Cái chết, sự hy sinh, tình thương, sự vô cảm và cảm nghiệm nhân sinh như mộng là nỗi ám ảnh xuyên suốt, trở thành tâm thức sáng tác của ông. Đọc tác phẩm của Trương Văn Dân, ta thấy được nỗi day dứt, nghe được tiếng kêu cứu vì môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, môi trường xã hội đang bị suy thoái về mọi mặt. Đó chính là sự nhạy cảm, là trách nhiệm của nhà văn “nghệ thuật vị nhân sinh”. Về nghệ thuật sáng tác, thế mạnh của Trương Văn Dân là văn biểu cảm - cảm xúc và cảm giác. Đi liền với nó là văn miêu tả tính dục đầy cảm xúc, giàu nhục cảm nhưng không sa vào dung tục tầm thường (Bàn tay nhỏ dưới mưa).
Tuy nhiên, để tiếp tục cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa, Trương Văn Dân còn phải khắc phục, gọt giũa ngòi bút của mình nhiều để có thể thu về những hạt thóc tròn trịa hơn. Vì vậy, chúng tôi dành phần kết của bài viết này để đối thoại cùng tác giả với thiện chí mong muốn được đón nhận nhiều tác phẩm hoàn thiện hơn của ông. Sâu và sắc, nén và bung, chặt chẽ trong từng chi tiết nhỏ đến cấu trúc lớn là những nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải kỳ công theo đuổi. Tiểu thuyết luận đề là con dao hai lưỡi. Nếu không giỏi điều khiển trận đồ chữ nghĩa, tác phẩm văn chương sẽ trở thành những văn bản tuyên truyền, giáo điều, phê phán và thậm chí là mạt sát mang đậm dấu ấn của “tác giả thực tế”; trong khi văn chương hư cấu rất cần “tác giả ẩn tàng” và “người kể chuyện”. “Cái chết của tác giả” trong lý thuyết của M.Foucault và R.Barthes luôn là nguyên tắc vàng của tác phẩm hư cấu. Mục đích của tiểu thuyết luận đề là diễn giải cho một tư tưởng hoặc một quan điểm có trước, vì thế, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ những chỗ gượng gạo, khiên cưỡng, áp đặt. Bậc thầy tiểu thuyết luận đề Nhất Linh cũng đã từng tiếc nuối rằng vì mải theo luận đề mà không cố viết cho đúng tâm lý, tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Lạnh lùng. Ông “chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài” và chỉ dùng những chi tiết nào có lợi cho cái ý chứng tỏ luận đề của mình, “không theo sát cuộc đời thực”… mà đổi cuộc đời thực cho luận đề4.
“Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó. Nhà văn có khi sẵn sàng hy sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình”5. Dẫu biết vậy, nhưng Trương Văn Dân đã “hy sinh” hơi quá, khiến hai tiểu thuyết của ông rơi vào ôm đồm (vì luận quá nhiều vấn đề). Nhìn tổng thể, hai tác phẩm (đặc biệt là Trò chuyện với thiên thần) đều mắc lỗi dài dòng và trùng lặp ý, trích dẫn nhiều, chuộng diễn giải và nhận định chủ quan; đặc biệt là chưa thật sự thể hiện chủ đề thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tình tiết, sự kiện. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn yêu cầu “less is more”, nghĩa là viết ít nhất nhưng biểu đạt nhiều nhất, cô đúc tiết chế nhất nhưng mở rộng và lan tỏa nhất. Tất cả phải toát lên từ hình tượng, nếu thoát ly hình tượng, nếu để cái biểu đạt ngang bằng với cái được biểu đạt thì nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa.
Trong xây dựng tính cách nhân vật, khát vọng gửi gắm những suy nghĩ của mình đến với người đọc rất mạnh mẽ, đầy tâm huyết và nhiệt tình đã khiến nhà văn Trương Văn Dân thiên về thi pháp “Schiller hóa” hơn là “Shakespeare hóa”6. Nghĩa là biến nhân vật thành những “cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn”7. Điều đó đã khiến cho nhân vật không bộc lộ được tính cách, tác phẩm cũng vì thế mà trở nên đơn điệu, không trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.
Trương Văn Dân là người am hiểu lý luận sáng tác, có vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú. Chúng ta tin rằng, nhà văn Trương Văn Dân sẽ còn tiếp tục trao cho người đọc những bản dịch hay, những sáng tác mới - những đối thoại mới - hoàn hảo hơn, xứng đáng với tâm huyết chọn văn chương để thể hiện trách nhiệm với cuộc đời của ông.
--------------------------------------------
CHÚ THÍCH
1. Bakhtin M. (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, tr.235.
2. Tiểu thuyết đang ở dạng bản thảo
3&4. Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết,
5. Nguyễn Thị Phương Thuý, Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3604%3
6. “Shakespeare hóa” là khái niệm chỉ phương thức tư duy nghệ thuật đối lập với phương thức “Schiller hóa”, nghĩa là phải “cá tính hóa nhân vật thật cụ thể, sinh động, sắc nét”… để tác phẩm văn học trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.
7. Đặng Thị Hảo và tgk (2004), Từ điển văn học, NXB Thế giới, tr. 1542.
Nguồn: Bài đăng trong ts Quán Văn 61 ( ra mắt ngày 13.1.2019)
N.T.T.T