- Bút ký - Tạp văn
- Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Ảnh Khu du lịch Mũi Cà Mau (Nguồn: Vietourist)
Từ vẻ đẹp huyền thoại miền đất mũi Cà Mau…
Trong một lần đến Cà Mau giúp tôi cảm nhận được nét thú vị hấp dẫn của miền đất này. Nếu điểm cực Bắc nước ta là dãy núi Lũng Cú (Đồng Văn – Tuyên Quang) địa linh hùng vĩ hoang sơ cao trên 1.000m thì đảo Hòn Khoai – cực nam Tổ quốc – cao trên 300m lại cho ta cảm giác trẻ trung êm đềm giàu có. Nằm ở cửa ngõ tiếp giáp giữa biển Đông và vịnh Thái Lan, vùng biển được đánh giá có nguồn lợi hải sản giàu nhất nước, khí hậu quanh năm ôn hòa, thảm thực vật trên đảo còn nguyên sinh và cách mũi Cà Mau chỉ 1 giờ đường biển… có thể nói quần đảo Hòn Khoai (gồm 1 đảo lớn Hòn Khoai có 4km² và 4 đảo nhỏ) đang hứa hẹn là điểm du lịch rất hấp dẫn! Và cửa biển Rạch Gốc của xã Tân An anh hùng – với lịch sử hết sức thân thiết với Hòn Khoai, lại là nơi ngắn nhất nối giữa Hòn Khoai với thành phố Cà Mau – sẽ thu hút ngày càng nhiều du khách tìm về. Người dân Tân An hiền hòa mến khách. Đất rừng, sông biển dồi dào, có nhiều đặc sản quý hiếm như: cá đuối, cua khoai, ba khía, tôm bạc, ốc len… như đang mời gọi du khách muôn phương! Không phải ngẫu nhiên mà thi sĩ Xuân Diệu đã viết nên câu thơ độc đáo: “Tổ quốc tôi như một con tàu, Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau[1]”. Truyền thuyết rằng: khi những cư dân đầu tiên từ miền Trung nước Việt neo lại nơi vùng đất cực Nam xa xôi ngút ngát rừng đước… mọi người thiếp đi vì quá mệt mỏi bởi sóng to, gió chướng. Bỗng trời loé chớp liên tục, trong đêm đen, xuất hiện một đám mây vàng khổng lồ hình con rồng sà xuống hà hơi tiếp sức cho đoàn di dân… Mọi người choàng tỉnh, vội làm lễ tạ trời đất, cho rằng đây là điềm hay, là nơi “đất lành chim đậu”, xin nhận nơi đất mới dưới chân là quê hương thứ hai. Cũng từ đó, mỏm đất này có tên Khai Long. Khai Long chính là bãi đất bồi mũi Cà Mau. Trong khi xung quanh vùng đất mới bồi này (mỗi năm bãi Khai Long tiến ra biển cả trăm mét) là bùn sinh, thì lạ kỳ thay Khai Long lại mềm mại níu chân chúng ta bằng ngàn vạn gợn sóng cát màu đen pha vàng, pha lẫn những bọt biển trắng.…Và về đất biển Cà Mau thấy “Xuồng ghe ngày đêm không ngớt/Người Cà Mau dễ thương vô cùng” (lời ca khúc nổi tiếng “Áo mới Cà Mau”). Những ca từ bài hát này đã thôi thúc tôi về với Năm Căn – Đầm Dơi lừng danh. Nơi đây không chỉ có đất trời thêm rộng lớn đến bao la vô tận mà còn là cái nôi sinh ra những người con anh dũng trưởng thành trong lòng đất Mẹ Việt Nam. Mảnh đất tận cùng, nhỏ nhoi xa xôi này của đất Mẹ, dẫu chỉ mới có tên trên bản đồ nước ta hơn 300 năm – so với hơn 4000 năm lịch sử hào hùng của dân tộc song ai đến cũng chẳng nỡ rời xa:
Đường về Rạch Gốc mịt mùng
Lao xao cảnh đước nao lòng thốt tim
Chèo ghe mái nổi, mái chìm
Thương em nhớ biển bậu tìm không nguôi…
Không ai biết tác giả câu hát ấy là ai, nhưng nghe lên là thấy ngay hồn miền Tây – nồng, sâu và chân tình như dáng người chèo ghe khuất dần dưới hoàng hôn.
…Đến Hà Tiên – An Giang, miền xứ xa của dải đất Việt
Rời Cà Mau, tôi theo quốc lộ 80 – đường hành lang ven biển để đến Hà Tiên – tỉnh An Giang, miền đất có tên nghe đã thấy phảng phất phong vị cổ tích. Chúng tôi đến Phường Hà Tiên – Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang), miền đất hẹp cuối trời Tây Nam tổ quốc vào buổi chiều tà. Không gian lác đác mưa làm cái nắng dịu đi. Mây mù làm nước biển không còn xanh như vốn có. Nhưng thời tiết không làm mất đi cái nhịp sống đang đổi thay của Hà Tiên. Người bạn đồng nghiệp cùng đi với tôi vốn là một người thường xuyên qua lại miền đất này, nhưng hôm đó cũng ngỡ ngàng trước những đổi thay của Hà Tiên. Sau ngày đất nước thống nhất, Hà Tiên chỉ là một thị xã nhỏ bé, vài vạn dân, thưa thớt mấy dãy phố. Nhưng hôm này Hà Tiên đã có một gương mặt mới. Đường phố rộng khang trang, thẳng tắp. Biển đảo vốn là đặc điểm nổi bật của miền đất Hà Tiên. Vùng biển Hà Tiên khá rộng, bờ biển dài khoảng 72 km có nhiều mũi đất nhô ra như Mũi Nai, Bãi Ớt, Ông Thầy. Các mũi đất nối nhau bằng những đường ven biển tạo thành các vịnh nhỏ như vịnh Thuận Yến, Ba Hoà, Hang Tiền, Hòn Trẹn. Đặc biệt, bãi biển Hà Tiên có nhiều cát vàng.
Cùng với đặc trưng về biển, đảo, nhiều người biết đến Hà Tiên không chỉ là mảnh đất có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất qua các thời kỳ giữ nước của dân tộc ta mà nơi đây còn nổi tiếng là một địa danh có nhiều danh thắng lịch sử, cảnh đẹp để tham quan, nghỉ mát như đồi Pháo Đài, Bình San, Chùa Tiêu, Gia Thành, Thạch Động, Châu Nam, Đông Hồ, Nam Phố, Lộc Trĩ, Lư Khê…Bãi Dương, Hòn Trục, Chùa Hang, Hòn Phu đang được chỉnh trang tu bổ tôn tạo. Mỗi địa danh như một cánh cửa mở sâu vào lịch sử của mảnh đất phương xa. Tôi đã từng đọc “Hà Tiên thập cảnh” của Mạc Thiên Tích, có câu: “Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình/Non non nước nước gẫm nên xinh”[2]. Nhưng phải đến khi đứng ở chân núi Bình San, tôi mới hiểu tại sao tiền nhân phương Nam chọn nơi này làm trung tâm văn hóa. Hôm đến Hà Tiên chúng tôi đã chứng kiến từng đoàn người từ TP. Hồ Chí Minh, từ Vĩnh Long, Châu Đốc, Rạch Giá …tới chiêm ngưỡng một vùng núi non hùng vĩ, thơ mộng.
Trong kháng chiến, nơi đây là căn cứ địa cách mạng của quân và dân Hà Tiên, ghi nhiều chiến tích oai hùng. Và trong chuyến đi ấy, tôi không thể không đến khu di tích tưởng niệm chị Sứ (nguyên mẫu Phan Thị Ràng hy sinh khi mới 25 tuổi) – người nữ anh hùng quê Hòn Đất - tại xã Thổ Sơn, tỉnh Kiên Giang (cũ). Từ nguyên mẫu chị đã trở thành nguồn cảm hứng để nhà văn Anh Đức viết nên hình tượng chị Sứ trong tiểu thuyết “Hòn Đất” nổi tiếng. Hình tượng chị đã trở thành biểu tượng khơi dòng lịch sử ghi lại một cách chân thực cách mạng miền Nam trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt cùng với những chiến sĩ giải phóng miền Nam nghĩa khí, bộc trực, nhân ái…Đã 63 năm trôi qua kể từ ngày chị ngã xuống, Hòn Đất hôm nay đã thành xã rộng lớn nhất, nhì tỉnh An Giang, đất lúa mênh mông hơn 60.000 ha, mùa nào cũng trĩu vàng. Những cánh đồng chạy dài ngút tầm mắt. Trẻ em tung tăng trên đường, những chiếc xe chất hàng nặng trĩu chạy về chợ. Từ vùng quê từng khốc liệt, nay hiền bình như hơi thở mẹ ru. Trên con đường trở về, tôi nghĩ nhiều về hai chữ “di sản”. Di sản không chỉ là cảnh đẹp của biển trời, hang động, bãi cát vàng hay rừng đước mênh mang, di sản còn là con người – những người dân Tân An hào sảng, những chiến sĩ Kiên Giang bất khuất, những bà má miền Tây hiền từ chất phác bền bỉ như nước phù sa. Chúng ta đi, để thấy đất nước rộng lớn, để yêu những điều bình dị mà khó quên. Và để một ngày nào đó, khi nhìn lên bản đồ Việt Nam, ta biết rằng mỗi miền đất đều chứa đựng giá trị thiêng liêng của các thế hệ cha ông để lại.
Đất Mũi – mảnh đất cuối trời Nam hay Hà Tiên – miền xứ xa là nơi sóng bể đã và đang viết tiếp những câu chuyện của tiền nhân. Hai miền ấy như hai cánh cửa mở ra tương lai. Giờ đây, thời khắc lịch sử đang mở ra đi đến chân trời mới. Và tôi tin, trong sự phát triển mạnh mẽ của hôm nay, những vùng đất ấy vẫn sẽ giữ được cái hồn sâu thẳm của mình – nơi Tổ quốc vươn mình ra biển lớn, vẫn dâng cho Đất Mẹ Việt Nam biết bao niềm tin yêu muôn đời bất diệt./.
N.P.T