TIN TỨC

Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-16 01:38:04
mail facebook google pos stwis
10 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.

 

Bìa tập thơ "Nghe mùa thay lá"

 

Tập thơ để lại ấn tượng trong lòng người đọc bởi triết lý nhân sinh mang dấu ấn của triết học phương Đông, đặc biệt là Phật giáo và Lão giáo. Triết lý ấy được thể hiện rõ trong các bài thơ như “Bể dâu”, “Có đủ cho nhau”, “Chở nặng thời gian”, “Nghe mùa thay lá”, “Nhân sinh”... Đọc những bài thơ này, ta thấy thời gian trong thơ Hoàng Thân đã trở thành một thời gian ý niệm, nơi con người đối diện với sự hữu hạn của đời sống. Điều này đã cho thấy sự nhạy cảm của Hoàng Thân đối với thời gian. “Lá về/ theo gió cuốn đi/ Cành còn ở lại/ nuối gì chuyển xoay/ Thời gian khắc tự an bày/ Dòng đời luôn chảy, chẳng ngoài riêng ai” (Bể dâu). Hình ảnh ẩn dụ “Lá về” và “Cành còn ở lại” không dừng lại ở cảm xúc tiếc nuối mà mở ra một chiều sâu triết lý, đó là sự biến dịch là quy luật tất yếu của thời gian. “Bể dâu” không chỉ là biến động của đời sống, mà còn là sự vận động nội tại của tâm thức con người khi đối diện với vô thường. “Vai gầy chải tóc ra hong/ Nghe mùa thay lá bên lòng còn xanh/ Nghe con sóng vỗ đầu gành/ Chợt thương màu nước quẩn quanh bến chiều” (Nghe mùa thay lá). Ở đó, con người vừa lắng nghe nhịp chuyển của thiên nhiên, vừa đối diện với chính mình, nhận ra sự mong manh của kiếp sống và tính hữu hạn của mọi giá trị từng tưởng là bền vững. Đời người, suy cho cùng, chỉ là một hành trình đi qua những biến thiên không thể cưỡng lại, nơi mọi đối cực như được - mất, có - không, vui - buồn đều quy tụ trong quy luật vô thường của “bể dâu”. Chính từ điểm nhìn ấy, cái tôi trữ tình của Hoàng Thân hướng đến một thái độ tự tại, chấp nhận và chiêm nghiệm số phận như một tất yếu của nhân sinh. “Nắng mưa mấy độ đã từng/ Không không có có cũng chừng ấy thôi/ Tôi về nhặt lấy đời tôi/ Tự nhiên như đã, mặc trôi phận người” (Nhân sinh). Hoàng Thân thấu hiểu rằng con người dù khóc hay cười, thành hay bại rốt cuộc vẫn không thoát khỏi quy luật bể dâu. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là thơ Hoàng Thân không dẫn người đọc đến bi quan hay yếm thế, mà gợi ra một thái độ sống tỉnh táo, một cách nhìn điềm tĩnh trước những nghịch lý của đời sống. Bởi thế, khi đọc “Nghe mùa thay lá”, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ, mà còn thấy mình đang đứng trước một hành trình nhận thức. Đó là hành trình con người quay về lắng nghe những chuyển động âm thầm của tâm hồn, đối diện với ký ức, với thời gian và những giá trị đã từng nâng đỡ đời sống tinh thần mình.

Từ chiều sâu ấy, thơ Hoàng Thân mở ra một không gian cảm xúc nơi những rung động cá nhân hòa vào những trải nghiệm phổ quát của con người, đặc biệt là miền ký ức gia đình, nơi neo giữ những yêu thương bền bỉ nhất của đời người. Những bài thơ như “Con về quê mẹ”, “Con thèm tiếng mẹ ru nôi”, “Nhớ cha”… không chỉ là ký ức riêng của nhà thơ, mà còn chạm đến miền ký ức chung của nhiều thế hệ độc giả. Đó là những ký ức về tuổi thơ, về tình mẫu tử, phụ tử và quê hương, những giá trị tinh thần bền bỉ trước dòng chảy thời gian: “Con về quê mẹ chiều nay/ Để nghe hơi ấm vòng tay mẹ gầy/ Tuổi thơ ùa chảy về đây/ Nghe thương, nghe nhớ trải đầy lối xưa” (Con về quê mẹ). Ở những câu thơ này, chất liệu đời sống được chuyển hóa thành cảm xúc nghệ thuật một cách tự nhiên. Hình ảnh thơ bình dị, giọng điệu chân mộc nhưng ẩn chứa trong đó là những tầng nghĩa sâu xa về tình thân, về cội nguồn, nơi con người tìm thấy bản thể của mình giữa thế giới nhiều biến động.

Đọc tập thơ “Nghe mùa thay lá” ta còn cảm nhận được một phương diện khác của triết lí nhân sinh. Đó là tình yêu tuổi học trò trong trẻo, mộng mơ. Ở đó, tình yêu đã trở thành dấu ấn đầu tiên giúp con người ý thức về thời gian, về sự chia xa và về giá trị của những điều không thể nắm giữ. Trong bài “Hạ nhớ”, ký ức về sân trường, tiếng ve, hoa phượng hiện lên như một miền ký ức vừa dịu dàng vừa day dứt: “Niềm mơ nhuộm đỏ bên thềm/ Phượng thêm mấy hạ càng thêm ngọc ngà/ Sân trường ve vẫn thiết tha/ Dõi người xưa cũ phương xa trở về” (Hạ nhớ). Trong cảm thức của Hoàng Thân, tình yêu ấy không chỉ là ký ức khó phai, mà còn là một món nợ ân tình: “Tình còn/ nợ một vòng tay/ Bến khao khát nhớ/ sóng lay vỗ bờ” (Nợ một vòng tay).

Có thể nói, “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân là một tập thơ mang đậm dấu ấn tư duy triết lý nhân sinh nhưng không khô cứng. “Thơ Hoàng Thân luôn có những liên tưởng bất ngờ tạo nên những hình ảnh thơ lạ, găm được vào tâm hồn người đọc” (PGS.TS Trần Hoài Anh)./.

P.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm