TIN TỨC

Tiểu luận Võ Quốc Việt: Vài cảm nhận về Cuộc thi Thơ 1-2-3

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-03-03 17:10:49
mail facebook google pos stwis
1202 lượt xem

Cuộc thi Thơ 1-2-3 (The 1-2-3 Poetry Style/ Phannist Poetry) năm 2024 – 2025 đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các tác giả trong lẫn ngoài nước và đã công bố kết quả. Nhà lý luận phê bình, nhà thơ Võ Quốc Việt – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Ban Chung khảo đã có bài tiểu luận công phu, sâu sắc mang tính tổng kết về cuộc thi. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

1. Bẩm thụ khí chất quê hương Phú Yên – “một thời trấn biên trên hành trình khẩn hoang mở cõi về phương Nam của dân tộc” – nhà thơ Phan Hoàng luôn cho thấy ý hướng cách tân, vươn mình về phía tương lai. Trên hành trình văn chương hơn ba thập kỷ, thể thơ 1-2-3 ra đời chính trong ý hướng như vậy. Nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ: “Năm 2018 là một năm đầy “biến động” đối với tôi. Từ bỏ nhiều hoạt động xã hội, tôi tranh thủ thời gian du lịch nhiều nơi, tập trung đọc sách, nghiên cứu tìm con đường mới cho sáng tác. Sau chuyến tham quan hai thành phố lớn Moskva và Saint Petersburg đầy ấn tượng về văn hoá Nga, trên chuyến bay trở về khi ngang vịnh Ba Tư ở Trung Đông tự dưng tôi nảy ra ý tưởng thể nghiệm một hình thức thơ mới gọi là Thơ 1-2-3”[1]. Có thể nói, thơ 1-2-3 là thể nghiệm khởi đi từ khát vọng đổi mới thi ca đương thời.

Thể thơ 1-2-3 được nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng từ mùa thu năm 2018. Đến nay, thể loại này đã được hưởng ứng và phát triển rộng rãi. Chỉ trong thời gian ngắn, thể thơ 1-2-3 phát triển đa dạng về thi tài, thi liệu, thi hứng,… góp phần làm phong phú sinh hoạt thi ca hiện nay. Tiến sĩ Nguyễn Minh Ca cho rằng: “Cần có nhiều thời gian hơn để thẩm định giá trị và ảnh hưởng của nó với thơ ca Việt Nam hiện đại, nhưng với tinh thần đổi mới, những đóng góp và ảnh hưởng của thơ 1-2-3 đến phong trào sáng tác thể loại này trong vài năm trở lại đây là đáng được ghi nhận”[2]. Trải qua quá trình vận động phát triển, thơ 1-2-3 dần khẳng định giá trị nghệ thuật. Trên phương diện ngôn từ nghệ thuật, nhà nghiên cứu Bảo Bình nhận thấy thể thơ này “phóng khoáng trong sự mực thước, nửa phần bay lượn tự do, nửa phần còn lại là vẫn phải bay trong khung trời cho phép”[3]. Thơ 1-2-3 được hưởng ứng như vậy phần nào cho thấy sự phát triển và nhu cầu cách tân thi ca của thi giới hiện nay. Điều này ít nhiều ấn chứng cho sự dịch chuyển của sinh cảnh thơ Việt đương thời.

Chính thế, việc tổ chức Cuộc thi Thơ 1-2-3 như sự hồi ứng tự nhiên. Cuộc thi thơ không chỉ giúp thi giới 1-2-3 có cơ hội thể hiện phong cách thi ca mà còn góp phần cho sự phát triển chung của thể loại này.

2. Với tinh thần đó, Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần thứ I do trang Nhịp Sống Văn Học và Văn Học Sài Gòn tổ chức từ tháng 9.2024 đến tháng 1.2025. Liên tục từ đầu tháng 9.2024 tới 24 giờ ngày 23.01.2025, sau gần 5 tháng phát động, Ban Tổ chức Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần thứ I đã nhận được sự hưởng ứng sôi nổi của anh chị em làm thơ trong và ngoài nước với gần 619 bài thơ sáng tác theo thể thơ 1-2-3.

Qua cuộc thi, sự hưởng ứng của thi giới đối với thể loại thơ 1-2-3 trước hết biểu hiện ở quang cảnh thi ca sống động với nhiều chủ đề đa dạng: từ tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, vẻ đẹp thiên nhiên; cho đến triết lý sống, triết lý về nghệ thuật và những hoài niệm về đời người. Thế nhưng điểm nổi bật: thể thơ 1-2-3 thể hiện sự kết dệt, giao thoa, cộng hưởng nhiều suy tư khác nhau về đời sống của giới cầm bút. Điều này cho thấy những nhà thơ tham gia cuộc thi có sự chiêm nghiệm, trăn trở và ưu tư về tự thân, tha nhân và đời người.

Nhà thơ Phan Hoàng và nhà lý luận phê bình Trần Hoài Anh – Trưởng ban Chung khảo Cuộc thi Thơ 1-2-3

Thêm nữa, quan niệm nghệ thuật của thi giới 1-2-3 trong cuộc thi này trang trải trên nhiều phương diện: thế giới quan, nhân sinh quan, thẩm mỹ quan, đạo đức quan,… Những bài thơ 1-2-3 tham gia cuộc thi này còn cho thấy giới cầm bút đồng thời phóng chiếu trên hai chiều kích thời gian: (1) sự hồi vọng quá khứ, chiêm nghiệm về kỷ niệm quá vãng, niềm thương nhớ sơ xưa; (2) sự cộng hưởng với thời đương đại cho thấy hơi thở đời sống đang diễn ra với niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai. Bên cạnh đó nhiều bài thơ thể hiện chiều hướng đào sâu vào nội tâm con người. Từ những vỉa tầng sâu kín tâm hồn, các nhà thơ không chỉ góp phần giúp bạn đọc thấu hiểu thêm trầm tích hồn người mà còn thông qua đó hướng bạn đọc đến những giá trị chân-thiện-mỹ. Với Cuộc thi Thơ 1-2-3 lần đầu tiên được tổ chức, những chiều kích suy tưởng như vậy là điều đáng ghi nhận.

Bên cạnh đó, các nhà thơ tham gia cuộc thi còn cho thấy sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa dân tộc và phản ánh niềm tin tưởng lạc quan vào nhịp sống thời đương đại. Những dòng thơ như “Anh bộ đội nâng niu nụ cười con trẻ/ nụ cười như mọc lên từ trong bùn đất/ một tượng đài sừng sững thiêng liêng tỏa sáng tình người” (Nguyễn Kim Thịnh); hay “Đồng đội, người thân tìm anh / Suốt một đời mải miết/ Đến lúc họ đi hết rồi anh vẫn giữ đất quê hương” (Nguyễn Thái Bảo) đã tiếp nối tinh thần yêu nước của dân tộc ta từ thời khói lửa đến lúc thanh bình. Nhiều bài thơ bộc lộ lòng trân quý đối với truyền thống văn hóa dân tộc, như: “em ngắt câu dân ca cắm vào hồn thiêng xứ sở/ cây lúa trổ đồng thơm hương thì con gái/ con sông Hậu hiền hòa tắm mát cả mùa xuân” (Hồ Trung Chính); “Những cánh hoa cà phê trổ trắng trong ký ức phơi khô/ Dưới bóng bạch đàn ai gói nhớ vào ngọn gió nóng bỏng đầu mùa/ Đêm trở mình hương bánh căn lẫn mùi khói củi gọi về quê xa” (Võ Thị Như Mai);… Với cảm hứng thế sự, các nhà thơ thể hiện nhiều suy ngẫm trước nhịp sống thời đại: “Trường Sa, Hoàng Sa đảo nổi đảo chìm/ Lịch sử mấy ngàn năm đất nước Rồng Tiên/ Non nước vững âu vàng vạn kỷ” (Chu Minh);  “Thời đại tự do yêu có nhiều lý do cần đến sex/ Cho nhận, trải nghiệm là cùng nhau và vì nhau” (Đoàn Thị Diễm Thuyên).

Không chỉ vậy, các nhà thơ cũng khai thác những cung bậc đời thường, qua đó bạn đọc có dịp cảm thấu và chiêm nghiệm lại giá trị tình cảm quý giá của đời người. “Con rô ăn sao búng nước ao khuya tĩnh mịch/ Cơn gió nhón gót xào xạc bụi chuối tiêu già/ Lược trăng đầu tháng la đà chải mái tóc mẹ ta trắng buốt…” (Dương Vũ); “Con bật que diêm lòng mình, đốt ngọn lửa tự tàn tro/ Kê bên chân mẹ âu lửa hồng, nhìn khói cay vào mắt/ Mẹ như cánh đồng lênh láng đầy trăng, soi con bước” (Phan Minh Thoại). Cùng với đó, phần nhiều bài thơ 1-2-3 tham gia cuộc thi này cho thấy khả năng khai thác cảm xúc vi tế. Các nhà thơ không chỉ có cách tiếp cận thực tại rất cá tính mà còn cho thấy độ nhạy bén trong cảm quan nghệ thuật. “Đem quá khứ rải dưới chân, hái nụ cười thiên hạ/ Gieo hạt từ tâm soi vào mình làm tựa/ Gặt ước mơ ở tuổi xuân thì” (Trần Thị Thùy Vy); hay “Em đậu xuống khu vườn anh/ Hồn nhiên nhành xuân không vết tuổi/ Ngụ cư anh vương quốc thanh tân” (Vũ Trần Anh Thư). Do đó, mỗi bài thơ đều thể hiện nhãn quan đời sống và cá tính nghệ thuật rất riêng. Đến với thi ca một cách chân thành, mỗi bài thơ, mỗi tiếng thơ đều đáng quý, đáng trân trọng!

Nhà lý luận phê bình, nhà thơ trẻ Võ Quốc Việt

Và sự hưởng ứng của giới cầm bút dành cho thể thơ này còn biểu hiện qua lực lượng sáng tác. Lực lượng sáng tác đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp và nơi cư trú (từ trong nước đến hải ngoại). Dù hoàn cảnh sống khác nhau và lĩnh vực nghề nghiệp riêng, song tất cả các nhà thơ tham gia cuộc thi đều bộc lộ tình yêu thi ca chân thành, đằm thắm. Trên hết, các nhà thơ thể hiện tinh thần nghiêm túc trong thực hành sáng tạo; thể hiện nhận thức tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển chung của thể loại. Thơ 1-2-3 không chỉ là thể nghiệm cá nhân mà các nhà thơ trong cuộc thi này còn góp phần tạo nên hiện tượng đáng chú ý trong sinh cảnh văn chương hiện nay.

3. Tựu trung, Cuộc thi Thơ 1-2-3 do trang Nhịp Sống Văn Học và Văn Học Sài Gòn tổ chức đã góp phần thúc đẩy sinh hoạt thi ca sôi nổi, lành mạnh, tinh thần lạc quan, niềm tin tưởng tươi sáng vào đời sống xã hội hiện nay. Sinh hoạt thơ 1-2-3 qua cuộc thi này còn cho thấy tâm hồn yêu thi ca khởi đi từ truyền thống vốn có của người Việt. Thông qua cuộc thi, giới cầm bút cho thấy thế giới quan rộng mở, phản ánh hiện thực đời sống với chất giọng vừa trữ tình vừa triết lý. Nhiều bài thơ thể hiện sự chiêm nghiệm về đời người, những nỗi niềm, những cung bậc cảm xúc giữa dòng đời.

Bên cạnh đó, nhiều cây bút bộc lộ cảm thức về thiên nhiên, biểu thị mỹ cảm giao hòa với thiên nhiên tạo vật. Nổi bật hơn hết, các sáng tác tham gia cuộc thi này bộc lộ tình yêu quê hương sâu nặng; sự trân trọng tình cảm con người và thượng tôn tính người trong sáng tốt đẹp; cùng với đó là sự ghi ơn và tự hào về lịch sử đất nước, về văn hóa truyền thống dân tộc và về lịch sử đấu tranh hào hùng của thế hệ đi trước.

Rừng Dầu, 28.II.2025

VÕ QUỐC VIỆT

_________________________________

[1] Nguyễn Tham Thiện Kế (phỏng vấn, 2021). Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng: Tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho bạn trẻ. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn: https://vanvn.vn/nha-tho-nha-bao-phan-hoang-toi-muon-gop-phan-tiep-them-dong-luc-cho-ban-tre/

[2] Nguyễn Minh Ca (2024). Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại Việt Nam. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn: https://vanvn.vn/tho-1-2-3-trong-khong-gian-van-hoc-duong-dai-viet-nam/

[3] Bảo Bình (2024). Thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo của nghệ thuật ngôn từ đương đại. Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Nguồn: https://vanvn.vn/tho-1-2-3-the-tho-doc-dao-cua-nghe-thuat-ngon-tu-duong-dai-tieu-luan-bao-binh/

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm