TIN TỨC
  • Truyện
  • Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-01 20:23:31
mail facebook google pos stwis
2301 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Má ơi!

Đó là tiếng gọi thân thương của đứa con dành cho mẹ, gọi có mục đích hoặc gọi chỉ để mà gọi; là tiếng của nũng nịu, của mè nheo hoặc yêu sách; hay là tiếng kêu của thảng thốt hoặc kinh ngạc; nhưng cũng có thể là tiếng rên rỉ khi nỗi đau ập đến hay nỗi sợ dâng cao; và biết đâu lại là tiếng nức nở mỗi đêm của ai đó hoặc cô đơn, hoặc buồn tủi, hoặc đang mắc kẹt trong hang động của chính mình. Ờ mà không biết chừng, đó còn là tiếng thốt ra bất chợt, “má nó”.

Không biết bạn cảm nhận thế nào khi gọi “Má ơi”, nhưng với tôi, tiếng gọi này luôn như một chiếc hộp bí ẩn. Một chiếc hộp mở ra - đóng lại - mở ra, cứ mỗi lần lại một khác biệt. Rất lâu rồi, từ cái ngày ba giận dữ hét “Đừng gọi má mày nữa, má mày bỏ tụi mày mà đi rồi” - thì chính từ lúc đó, tiếng “Má ơi” của tôi không còn là chính nó nữa mà trở thành tiếng ùng ục trong cổ họng mỗi đêm gió lạnh, ầm ì trong những ngày mưa to giông lớn và ư ử trong suốt chặng đường dài, thật dài để tôi - một cô bé chưa tròn 7 tuổi trở thành một người khác - người lớn.

Một đứa trẻ theo thời gian rồi cũng trở thành người lớn. Và một đứa trẻ trở thành người lớn khi có mẹ hoặc không có mẹ bên cạnh đã có sự khác nhau, thì việc một đứa trẻ lớn lên không có mẹ vì mẹ nó bỏ đi lại trở thành một vấn đề khác hẳn. Trường hợp của tôi là vậy. Ai cũng nói thế. Ngay cả nhỏ bạn duy nhất của tôi cũng nói rằng “mày đang có vấn đề, hãy thay đổi nó đi”. Khỉ thật! Tất nhiên đây là câu nói xúc phạm ghê gớm. Thay đổi ư? Bản thân nó đã là vấn đề.

*

Mùa xuân năm 1981, khi tôi vừa đầy tháng, cha bỏ qua lời can ngăn của ông nội nhất quyết đưa má và ba chị em chúng tôi lên đây, vùng đất núi nắng bụi mưa lầy. Bấy giờ, đây là vùng đất hứa. Gia đình nội tôi đông con, đất ruộng hợp tác xã chia không đủ công làm, cuộc sống vốn đã vất vả càng trở nên chật vật hơn. Việc gia đình có người thoát ly lên các vùng kinh tế mới luôn được địa phương khuyến khích, cha và má tôi thuộc thành phần trí thức không quen cày bừa nên việc đi lên miền đất mới coi như là cơ hội. Cha thuyết phục nội vậy. Rồi cả nhà tôi khăn gói lên đây.

Nông trường S.T thuộc huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Khánh (bây giờ là tỉnh Phú Yên) - là vùng đất núi rừng mới được khai hoang sau giải phóng 1975. Đây là cộng đồng của những người con tứ xứ, họ đều là những người rời xa quê hương gốc gác về đây với “tiếng gọi của Tổ quốc”, nhưng sâu thẳm là mong tìm được một sự thay đổi, hy vọng ở tương lai. Cha má tôi cũng không ngoại lệ. Cha tôi được phân vào dạy học khối cấp 2 thuộc trường cấp 1 và 2 của nông trường, má tuy có lời hứa từ lãnh đạo nông trường sẽ “tìm cho một công việc phù hợp” nhưng trong thời gian chờ đợi, tạm thời cứ biên chế vào đội sản xuất. Ngày nắng làm đất, ngày mưa trỉa bắp trồng khoai.

Giữa năm đó, nông trường xuống giống đại trà cây cà phê vối, má trở thành công nhân trồng cà phê. Cha làm thầy giáo mỗi sáng cắp cặp đi dạy, tối về chong đèn chấm bài soạn giáo án. Má sáng dậy thiệt sớm luộc chín nồi sắn mì, cho bầy heo ăn, thả bầy gà khỏi chuồng, kêu chị Thương anh Hoài dậy sửa soạn đi học, má đưa tôi gửi nhà trẻ rồi vác cuốc ra lô tạo bồn, làm cỏ cho cây cà phê; tối mịt má về lại quay mòng mòng với lũ con, heo và gà, rồi may vá giặt giũ tới khuya. Ngày nắng má xoay mù trong gió bụi, ngày mưa má dầm dề trong bùn sình, nhìn má lúc nào cũng đỏ quạch màu của đất.

Ông ngoại là ông giáo làng ngày trước, má lại là con gái duy nhất trong nhà nên được ngoại cho đi học như mấy cậu. Cha cũng là một trong những học trò của ngoại. Biết cha má thương nhau, ông ngoại hài lòng lắm, chỉ có ông nội thì tỏ ra ngại ngần “đàn bà con gái chữ nghĩa nhiều không biết làm ăn lại dễ sinh tật”. Nhưng rồi cha má cũng nên duyên chồng vợ. Cha là con trai trưởng trong gia đình với 7 đứa em. Má về làm dâu, ngày nông vụ, má cùng ông bà nội và các em ra đồng, ngày nông nhàn má theo bà nội ngày ngày gánh gánh bánh tráng nặng trịu đón xe ngựa xuống chợ bán. Ngày qua ngày, cha học hành theo đuổi công danh sự nghiệp, má học làm nông học buôn bán mưu sinh. Rồi lần lượt chị Thương, anh Hoài, rồi tôi - bé Nhớ ra đời.

Ở vùng đất này thời tiết lạ dữ lắm. Trời tháng 3 đang chang chang nắng bỗng giông đâu kéo tới rầm rĩ, gió xoáy ngược xuôi rồi mưa như trút hờn trút giận. Những chiều mưa không đi ra lô, má ngồi trầm ngâm bên cửa sổ, nhìn ra ngoài trời. Có lần tôi hỏi: “Má ơi, có phải má thích mưa?”. Má ôm tôi vào lòng “Không, má chỉ nhớ”. Tôi hít hà mùi thơm ngọt nồng của má. “Vậy chớ má nhớ gì?”. Má lặng thinh, mắt đỏ hoe. Má nói xứ này mưa làm người ta thấy chạnh lòng quá, mà không bởi vì mưa, là vì đất. Chỉ cần cơn mưa xuống là cuốn trôi sạch banh, vậy mà khi mưa tạnh đất lại bám dính lấy người. Má nói đất sao giống con người ta quá, cứ lưu luyến hoài, cứ day dứt mãi nên dễ ôm phiền ôm lụy. Má không thích những ngày mưa, nhưng tôi biết má thích những đêm trăng sáng. Tôi vẫn nhớ những đêm trăng ngày còn má, cả nhà tôi ra sân ngồi trên tấm chiếu má trải ngay ngắn cùng nghe cha đàn má ngâm thơ hoặc má lại kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe, những câu chuyện của má thường có nàng công chúa và chàng hoàng tử. Những đêm trăng má cũng hay làm thơ, má có một chiếc hộp gỗ nhỏ đựng toàn thơ má viết. Tôi còn nhớ câu thơ của má: “Trăng sáng trên đỉnh núi. Tròn xinh mắt em cười” - Má từng nói, đời má đã vậy rồi chỉ mong đời các con đổi khác. Và những đêm trăng êm đềm nghiễm nhiên trở thành thông lệ của gia đình tôi.

Rồi những thứ tưởng là thông lệ hóa ra trở nên không hợp thời. Ngày ấy người ta dùng ánh trăng để tiết kiệm chút tiền đèn dầu chứ không ai lấy nó ra để ngâm thơ, kể chuyện. Rồi nhà tôi cũng giống như bao gia đình khác, những buổi cả nhà cùng nhau trong sân trăng sáng cười nói ngâm thơ bỗng trở thành xa xỉ, ra sân ngồi dưới trăng cũng chỉ để cây đèn dầu trong nhà được nghỉ ngơi. Và những buổi ấy thường không còn có cha bên cạnh. Dạo gần đây cha đi suốt, thời gian cha có mặt ở nhà thì không khí trong nhà cũng lạnh tanh. Tôi không hiểu tại sao má không còn nói cười như trước nữa. Có lẽ như ông Hai Ngô đội trưởng từng nói trong cuộc họp giao ban rằng, ăn cơm độn mà nói chuyện thơ chuyện ca thì có khác nào tự tát vào cái miệng của mình; hoặc có lẽ vì mấy lời xì xào rằng, cha với cô giáo dạy toán ở trường hình như “có cái gì đó”. Có vì lẽ gì thì với nhận thức của tôi ngày đó làm sao hiểu cho nổi. Tôi chỉ biết rằng thèm, rằng nhớ những đêm trăng ngày trước như thèm như nhớ ổ bánh mì thịt cha mua trong lần đi công tác ở thị xã trở về - một ổ bánh mì thịt cắt ra làm ba cho ba chị em. Mỗi lần nhớ, lại thấy nôn nao.

Má rời bỏ chúng tôi vào đêm trăng thiệt tròn. Đêm đó, trăng đủng đỉnh nhú lên trên núi Mái Nhà từ phía xa xa. Đêm yên bình như bao đêm có má, chỉ có tiếng con ễnh ương ngoài vườn nghe đến thê lương. Tôi bật dậy bởi tiếng còi xe hù hụ xé tan cảnh đêm trăng tĩnh lặng. Má về. Tôi cùng chị và anh mình chạy nhanh ra đầu ngõ, nhảy qua luống khoai lang trước nhà, băng qua hàng cà phê nở hoa thoảng hương mùi má, lao nhanh về hướng chiếc xe đang trờ tới. “Má ơi”. Chiếc xe chở má về, chớp đèn liên hồi rồi dừng lại bên gốc cây sung lớn đầu ngõ. Trăng lắc lẻo trên ngọn cây sung. Dưới ánh trăng lạnh lẽo, má nằm trên băng ca, chiếc khăn phủ lên người má trắng chạch, thõng thượt. “Má ơi”. Cú ngã sấp mặt không làm tôi bật khóc như mọi lần. Chỉ cần có má tôi sẽ không đau.

Cả đêm, người ta để má dưới gốc sung đầu ngõ mà không đưa má vào nhà. Nếu có ai đó thắc mắc thì bà Tư Mái tổ trưởng Công đoàn chỉ ậm ừ, chết kiểu đó làm sao đưa vào nhà cho được. Tôi hỏi chị Thương, chết kiểu đó là kiểu gì nhưng chị không nói không rằng chỉ ôm tôi mà khóc. Anh Hoài mắt đỏ hoe chạy ra vườn nhổ hết đám cải má trồng, mấy cành hoa vàng nằm chỏng chơ dưới nắng. Sau này cũng có người nói vầy: má mày là dân trí thức chịu cực không nổi, quen nghĩ xa xôi; nhưng cũng có kẻ độc miệng hơn thì nói: mấy người thi sĩ văn chương gì đó thích bày trò lãng mạn, không quen thực tế, đến chết cũng khác người. Ở đất này, người ta có thể chết do đói, chết do bệnh, chết do lao động quá sức hoặc có thể chết do say rượu, do chồng đánh…  hoặc có nhiều người “muốn chết” nhưng không dám chết, như vụ cô Ngâu xóm dưới bị chồng đánh nhừ tử hết trận này đến trận khác, ngày nào cũng than trời trách đất “muốn chết” lắm nhưng vẫn cứ phải sống, vẫn cứ phải bị chồng đánh mỗi ngày. Người ở đất nông trường kết luận vầy: sống là phải thực tế - nghĩa là số mình nó sao thì mình sống là vậy.

Ngày má ra đi hoa cà phê nở trắng cả nông trường. Nắng chiều tháng 3 vàng chọe chảy dài trên những đôi má chèm nhẹp nước. Cha ngồi trước với chú Chinh lái xe máy cày. Chị Thương 16, Anh Hoài 14, tôi - bé Nhớ chưa kịp lên 7, ngồi bên quan tài của má trên chiếc rơ-moóc chuyên chở phân bón cho cà phê - xe đi qua ngã tư nông trường, rẽ về hướng tây, nơi nghĩa địa nông trường được quy hoạch nằm sâu dưới chân núi. Nắng vàng đã nhạt từ lâu.

Rồi chuyện má ra đi cũng không còn là câu chuyện đầu làng cuối xóm của người nông trường nữa, ai cũng đầu tắt mặt tối còn thời gian đâu mà nhớ đến chuyện của “người ta”. Chuyện đã trở thành quá khứ. Rồi cha cũng cưới một người vợ mới. Vợ mới của cha là cô giáo Cầm dạy toán của trường. Ngày cha đón cô giáo Cầm về nhà, anh Hoài kéo sập giàn bầu trước sân, bỏ nhà đi mất hai ngày mới về. Sau ngày đó, ông nội lên đưa anh về dưới đồng. Chị Thương cưới vội thầy giáo bên trường vừa học vừa làm mà chị đang theo học, rồi dắt díu  nhau rời khỏi nông trường. Ở với nội hơn năm, anh Hoài cũng bỏ nhà đi, biệt xứ.

*

Đó là chuyện của những ngày 20 năm trước, khi tôi - bé Nhớ còn chưa tới 7 tuổi. Hai mươi năm đủ cho một đứa trẻ trở thành người lớn. Nhưng với một người lớn từng là đứa trẻ bị bỏ rơi liệu có thật sự trưởng thành? Hay dù không nhìn nhận thì dấu ấn ngày xưa vẫn còn đó, len lỏi trong mỗi ngóc ngách của tâm can; đọng lại như cái mọng nước nằm dưới da, quên thì thôi, nhớ đến lại ngứa cồn cào, rồi gãi cho trầy da rỉ máu.

Tôi ghét sự thay đổi nhưng mãi vẫn không ổn định; ghét thơ ca, sợ ánh trăng nhưng lại học ngành ngữ văn như là định mệnh. Công việc thay đổi xoành xoạch bởi thấy cái gì cũng đáng ngờ. Yêu ai cũng sợ người ta thay lòng nhưng chính mình lại nói lời chia tay trước. Cứ vậy đó. Thời gian trôi qua, rồi tôi 27 tuổi. Vài mối tình trôi qua không chút gì đọng lại, có lẽ bởi sợ yêu ai đó quá nhiều rồi nhiễu sự, đa đoan.

Tôi quen anh - Hiện Tại khi còn học chung trường đại học, là lớp đàn anh khoa Báo chí. Anh hơn tôi hai tuổi mà như lớn hơn quá chục, nể nhưng không chơi. Con người anh cũng như cái tên, thấy cứ sao sao, kỳ cục. Gần 5 năm sau, chúng tôi gặp lại trong một buổi ghi hình chương trình từ thiện, rồi cứ tự nhiên vậy mà song hành. Khi bên anh rồi lại thấy anh chững chạc và có vẻ đáng tin - bởi có lẽ anh chưa bao giờ phán xét tôi hay bất kỳ hành động nào của tôi. Chỉ duy nhất một lần trong lúc nói chuyện với nhau, tôi nói với anh: “Em cho rằng thay đổi nghĩa là từ bỏ, rời bỏ cái gì đó”. Ánh mắt anh nhìn khiến tôi bối rối: “Từ bỏ đồng nghĩa với trốn chạy”. Tôi gay gắt: “Vậy theo anh thay đổi nghĩa là gì?”. Anh nhìn thật lâu vào tôi: “Muốn thay đổi trước tiên hãy đối diện, dám đối diện mới thật sự thay đổi”. Và vậy là tôi không còn liên lạc với anh nữa.

Chập chờn sau một đêm thức trắng để cắt cắt dán dán đoạn phim hiện trường, tôi giật mình bởi tiếng chuông réo rắt của chiếc điện thoại. Hy vọng là anh. Đầu bên kia, dì Cẩm thông báo ngắn gọn “Cha ốm nặng”. Mắt tôi giần giật, cảm giác như bị ai đó nhìn qua lớp màng bảo vệ mỏng tang, đâm xuyên thấu. Sau ngày má ra đi rồi anh và chị cũng không còn tin tức, tôi cũng chỉ mong đến mình. Ngày đậu đại học chính là cơ hội. Để rời bỏ vùng đất này hay thoát khỏi ám ảnh của chính mình?

Tôi rời đi vào mùa nông trường đang kỳ thu hoạch cà phê. Những cành trĩu quả, sắc đỏ pha lẫn xanh, mùi ngọt thanh dễ chịu. Cà phê được mùa, giá tốt. Sức sống mới về với nông trường, ai nấy vui mừng khấm khởi. Những ngày ăn củ sắn, cơm độn bắp độn khoai đã xa. Vùng đất đỏ quạch hoang sơ ngày nào giờ xanh bạt ngàn. Nông trường đã đổi khác. Và tôi cũng sẽ khác.

Ngày tôi đi, cha lặng lẽ tiễn tôi đến ngã tư nông trường. Khi chiếc xe đò dừng lại đón khách, cha vội nhét vào túi xách của tôi chiếc phong bì. Rồi những năm sau đó, cha vẫn đều đặn gửi cho tôi một số tiền gọi là phí sinh hoạt. Số tiền cha gửi cộng thêm tiền tôi làm các công việc khác nhau, từ dạy thêm, phụ quán đến dọn đất làm vườn  - tiện tặn, rồi 4 năm đại học cũng trôi qua. Tiết trời Đà Lạt giúp tôi tiết kiệm quần áo rất nhiều. Tôi vượt qua những năm dài đi học, một mình. Và không một lá thư nào gửi về cho cha. Ở nơi xứ lạ, lạnh và ẩm ướt, nỗi cô đơn xâm chiếm lấy tôi thường trực. Không bạn bè, không người thân, thèm yêu thương nhưng lại sợ gần gũi. Và cứ thế, thời gian tiếp tục trôi. Lận đận bao phen và giờ đây tôi thành khách trọ trên đất Sài Gòn.

*

Ngủ gà gật trên chuyến xe xuyên đêm từ Sài Gòn về tới Tuy Hòa, tôi bắt tiếp chuyến xe đò đi Sông Hinh - tuyến xe đi trên con đường số 5 ngày trước (bây giờ là tỉnh lộ 645). 8 giờ sáng, xe tới ngã tư nông trường. Khái niệm chung của những người dân ở đây, đến ngã tư nông trường nghĩa là đến nhà. Tôi đã về nơi tôi đã rời đi.

Chiếc ba lô nhẹ đeo trên lưng, tôi đi bộ trên con đường đất ngày nào giờ đã rải sỏi. Suốt con đường tôi chỉ gặp vài người chạy xe máy ù qua rồi mất hút. Đồng cà phê bạt ngàn ngày nào không còn. Mấy năm qua cà phê rớt giá cộng sâu bệnh hoành hành, nông trường cho chặt bỏ hết những cây xanh năm nào là nguồn sống của những công nhân nơi đây. Hun hút sâu hết tầm mắt là những bãi đất trống, hoang vu và bạc thết. Vài khoảnh đất nhỏ nhà ai bắp đã lên cao ngang đầu gối. Vắng lặng và lạnh lẽo.

Tôi không quẹo đường vào nhà mà đi thẳng về hướng hồ. Con đập khô nức nẻ. Ngày trước, để phục vụ cho tưới tiêu, mỗi đội sản xuất đều được khoét những hồ chứa nước mênh mông với con đập được xây cao cùng những đường ống dẫn nước thật lớn. Ngày còn nhỏ, khi còn má, chị em chúng tôi cùng lũ bạn thường kéo nhau ra đây chơi. Chúng tôi leo lên triền dốc trên cao, đứng lên những tảng đá phẳng nhìn xuống đập và hét lớn. Tiếng chúng tôi hòa với tiếng thác nước vang vọng lại từ bên kia núi.

Chị em tôi đến đây một lần sau ngày không còn má, đó là trước ngày chị Thương lấy chồng. Đứng trên bờ kè bê tông, phía dưới con đập nước trắng xóa, sùng sục, chị Thương ôm tôi và anh Hoài thật chặt. Chị nói đây là nơi má tụi mình ra đi. Tôi hỏi: “Có phải chị cũng bỏ tụi em mà đi luôn không?”. Chị không nói gì, ánh mắt chị nhìn đâu đó vào nơi xa tít tắp, ánh nhìn như má ngày nào.

Rồi cha cũng ra đi, lẳng lặng rời đi như cách của cha. Tôi đến bên giường, cha mở mắt nhìn tôi, ánh mắt lặng lẽ như ngày nào. Cha không có lời sau cùng, chỉ đưa tôi chiếc hộp gỗ - chiếc hộp của má. Đưa cha đến nghĩa trang, tôi đi bộ về nhà. Hiện Tại đang đứng bên đường ở ngã tư nông trường. Nhìn thấy anh, tự dưng nước mắt tôi trào ra, nóng hổi.  Anh ôm chặt tôi vào lòng, lần đầu tiên tôi nhận thấy tiếng thình thịch của trái tim mình.

Trong chiếc hộp của má, ngoài tập thơ má viết, thì tất cả là những tờ giấy lĩnh tiền mặt có ghi chú tên người gửi và những lá thư ngắn - tất cả đều của chị Thương và anh Hoài “Gửi cho bé Nhớ”. Dưới đáy hộp, một tờ giấy đã cũ được gấp đôi. Là nét chữ của má.

“Gửi các con của má. Lựa chọn cái chết là điều dễ dàng. Má xin lỗi đã không can đảm đối diện cuộc sống. Mong các con hãy làm điều đó thay má. Mãi yêu các con!”.

Má ơi! Tôi thầm gọi má, tiếng vang trong lồng ngực.

*

Chúng tôi nắm tay nhau đi trong nắng sớm. “Nông trường này đang cần một luồng gió mới” - Hiện Tại nói. Tôi ngước lên nhìn anh, những tia nắng lung linh. Cơn gió nồm mát dịu.

L.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ta là ai? – Truyện ngắn của Trần Đôn
“Ta là ai?” của Trần Đôn (Bình Dương) là câu chuyện về một thân phận bị đặt giữa hai bờ lịch sử – nơi lựa chọn đôi khi không thuộc về cá nhân, và câu hỏi về căn tính trở thành nỗi day dứt kéo dài suốt một đời người.
Xem thêm
Di ảnh người lính Gạc Ma – Truyện ngắn của Huỳnh Mẫn Chi
Sài Gòn sáng sớm, luồng khí vẫn còn trong trẻo, thanh khiết, thong dong chưa kịp bắt nhịp sống tất bật của ngày mới.
Xem thêm
Dư vang trong đá – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chàng chẳng còn gì. Không ngai vua. Không cả nước. Chỉ còn một thân thể rách nát và một trái tim bị đánh cắp. Không khi nào trong giấc mơ thời trẻ, chàng từng nghĩ tới vương miện, ngai vàng, bảo kiếm. Chàng từng chỉ mong một mái nhà nhỏ giữa rừng, một người bạn tri kỷ, một thư phòng và một chốn hoa nở thơm ngát bốn mùa, trăng in đáy nước để bình thơ. Giấc mơ ấy đã bị đánh cắp – bởi chiến lược, bởi quyền lực, và bởi niềm tin rằng mọi thứ trên đời có thể toan tính được.
Xem thêm
Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Cứu người đẹp – hay cứu một trật tự? Một truyện giả cổ, đọc như ngụ ngôn về luật và lòng người.
Xem thêm
Giờ linh – Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ cuối)
Một ngày tháng Năm, ngôi dinh thự trở nên vắng lặng, cửa khóa ngoài, đã một tuần trôi qua, người ta không thấy những chiếc xe oto ra vào khu dinh thự. Đèn khuôn viên không còn bật sáng, ngôi nhà chìm trong bóng đêm, chỉ còn những tàng cây cổ thụ đong đưa và tiếng côn trùng rền rĩ. Một vòm kiến trúc vốn là niềm tự hào của dân làng Đại Mẫu, nay trở thành địa điểm bỏ hoang, mang màu sắc tâm linh và bí ẩn.
Xem thêm
Giờ linh - Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ 1)
Ánh đèn màu đỏ, ám đục như làn sương mờ ảo, bị bám bụi lâu ngày. Những con phù du bé nhỏ đong đưa ở những quầng sáng le lói để tìm sự sống. Người đàn bà trong ngôi nhà cổ, rêu phong phủ lạnh không gian, thâm sâu như đáy vực, bà ngồi im lặng, phía trước con đường hun hút nhỏ hẹp, lần sâu vào bên trong ngôi nhà, chẳng thấy lối đi, chỉ thấy một màu đặc sệt của bóng đêm. Ngôi nhà này chỉ có duy nhất người đàn bà trú ngụ.
Xem thêm
Thấp thoáng mặt hồ
Truyện đăng Văn nghệ TPHCM và Chuyên đề Viết & Đọc
Xem thêm
Bầu trời tươi sáng của con - Truyện dịch Lam Sương
Một tai nạn bất ngờ xảy đến khiến đôi mắt của Quang không còn nhìn thấy ánh sáng được nữa. Những ngày nằm trên giường bệnh, Quang thất thần, cả ngày chẳng nói một câu. Mẹ cậu ngồi bên giường bệnh, bà an ủi động viên Quang: “Con đừng lo lắng, tất cả rồi sẽ ổn cả thôi”.
Xem thêm
Bản giao hưởng của đại ngàn - Truyện Thuận Ánh
Có những buổi sớm mai, khi dải sương mù còn lười biếng cuộn mình trên những triền đồi lượn sóng của Pleiku, tôi đứng giữa ranh giới của đất và trời, lắng nghe hơi thở của cao nguyên. Đó không phải là một âm thanh đơn điệu, mà là một bản giao hưởng hùng tráng và miên man, được viết nên từ nhựa sống của đất đỏ bazan, từ tiếng gió hú qua kẽ lá và từ những nhịp tim nồng hậu của con người nơi phố núi. Trong bản nhạc ấy, có tiếng reo vui của những cánh rừng cà phê bạt ngàn, có sự thâm trầm của những gốc cổ thụ, và có cả những thanh âm trong trẻo, ngây thơ của những tâm hồn trẻ thơ nơi đại ngàn nắng gió.
Xem thêm
Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường
Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi. Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...
Xem thêm
Đêm Phú Xuân - Truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga
Mệnh lệnh ngược đời này liên tục được đưa ra mỗi đêm Nguyễn vương đến gặp Ngọc Bình. Bởi lẽ quy định nghiệt ngã chốn hậu cung là không một phi tần nào được phép nhìn thẳng vào long nhan. Nguyễn vương muốn kiếm tìm sợ kinh khiếp trong đôi mắt thăm thẳm của Ngọc Bình, hay chí ít là đôi giọt nước mắt đớn đau. Nhưng không, nàng đã ngẩng lên, đã nhìn, nhưng là một ánh nhìn bình thản. Không có bất cứ điều gì trong đôi mắt ấy. Không có bất cứ điều gì cả...
Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm