TIN TỨC
  • Truyện
  • Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-01 20:23:31
mail facebook google pos stwis
1963 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Má ơi!

Đó là tiếng gọi thân thương của đứa con dành cho mẹ, gọi có mục đích hoặc gọi chỉ để mà gọi; là tiếng của nũng nịu, của mè nheo hoặc yêu sách; hay là tiếng kêu của thảng thốt hoặc kinh ngạc; nhưng cũng có thể là tiếng rên rỉ khi nỗi đau ập đến hay nỗi sợ dâng cao; và biết đâu lại là tiếng nức nở mỗi đêm của ai đó hoặc cô đơn, hoặc buồn tủi, hoặc đang mắc kẹt trong hang động của chính mình. Ờ mà không biết chừng, đó còn là tiếng thốt ra bất chợt, “má nó”.

Không biết bạn cảm nhận thế nào khi gọi “Má ơi”, nhưng với tôi, tiếng gọi này luôn như một chiếc hộp bí ẩn. Một chiếc hộp mở ra - đóng lại - mở ra, cứ mỗi lần lại một khác biệt. Rất lâu rồi, từ cái ngày ba giận dữ hét “Đừng gọi má mày nữa, má mày bỏ tụi mày mà đi rồi” - thì chính từ lúc đó, tiếng “Má ơi” của tôi không còn là chính nó nữa mà trở thành tiếng ùng ục trong cổ họng mỗi đêm gió lạnh, ầm ì trong những ngày mưa to giông lớn và ư ử trong suốt chặng đường dài, thật dài để tôi - một cô bé chưa tròn 7 tuổi trở thành một người khác - người lớn.

Một đứa trẻ theo thời gian rồi cũng trở thành người lớn. Và một đứa trẻ trở thành người lớn khi có mẹ hoặc không có mẹ bên cạnh đã có sự khác nhau, thì việc một đứa trẻ lớn lên không có mẹ vì mẹ nó bỏ đi lại trở thành một vấn đề khác hẳn. Trường hợp của tôi là vậy. Ai cũng nói thế. Ngay cả nhỏ bạn duy nhất của tôi cũng nói rằng “mày đang có vấn đề, hãy thay đổi nó đi”. Khỉ thật! Tất nhiên đây là câu nói xúc phạm ghê gớm. Thay đổi ư? Bản thân nó đã là vấn đề.

*

Mùa xuân năm 1981, khi tôi vừa đầy tháng, cha bỏ qua lời can ngăn của ông nội nhất quyết đưa má và ba chị em chúng tôi lên đây, vùng đất núi nắng bụi mưa lầy. Bấy giờ, đây là vùng đất hứa. Gia đình nội tôi đông con, đất ruộng hợp tác xã chia không đủ công làm, cuộc sống vốn đã vất vả càng trở nên chật vật hơn. Việc gia đình có người thoát ly lên các vùng kinh tế mới luôn được địa phương khuyến khích, cha và má tôi thuộc thành phần trí thức không quen cày bừa nên việc đi lên miền đất mới coi như là cơ hội. Cha thuyết phục nội vậy. Rồi cả nhà tôi khăn gói lên đây.

Nông trường S.T thuộc huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Khánh (bây giờ là tỉnh Phú Yên) - là vùng đất núi rừng mới được khai hoang sau giải phóng 1975. Đây là cộng đồng của những người con tứ xứ, họ đều là những người rời xa quê hương gốc gác về đây với “tiếng gọi của Tổ quốc”, nhưng sâu thẳm là mong tìm được một sự thay đổi, hy vọng ở tương lai. Cha má tôi cũng không ngoại lệ. Cha tôi được phân vào dạy học khối cấp 2 thuộc trường cấp 1 và 2 của nông trường, má tuy có lời hứa từ lãnh đạo nông trường sẽ “tìm cho một công việc phù hợp” nhưng trong thời gian chờ đợi, tạm thời cứ biên chế vào đội sản xuất. Ngày nắng làm đất, ngày mưa trỉa bắp trồng khoai.

Giữa năm đó, nông trường xuống giống đại trà cây cà phê vối, má trở thành công nhân trồng cà phê. Cha làm thầy giáo mỗi sáng cắp cặp đi dạy, tối về chong đèn chấm bài soạn giáo án. Má sáng dậy thiệt sớm luộc chín nồi sắn mì, cho bầy heo ăn, thả bầy gà khỏi chuồng, kêu chị Thương anh Hoài dậy sửa soạn đi học, má đưa tôi gửi nhà trẻ rồi vác cuốc ra lô tạo bồn, làm cỏ cho cây cà phê; tối mịt má về lại quay mòng mòng với lũ con, heo và gà, rồi may vá giặt giũ tới khuya. Ngày nắng má xoay mù trong gió bụi, ngày mưa má dầm dề trong bùn sình, nhìn má lúc nào cũng đỏ quạch màu của đất.

Ông ngoại là ông giáo làng ngày trước, má lại là con gái duy nhất trong nhà nên được ngoại cho đi học như mấy cậu. Cha cũng là một trong những học trò của ngoại. Biết cha má thương nhau, ông ngoại hài lòng lắm, chỉ có ông nội thì tỏ ra ngại ngần “đàn bà con gái chữ nghĩa nhiều không biết làm ăn lại dễ sinh tật”. Nhưng rồi cha má cũng nên duyên chồng vợ. Cha là con trai trưởng trong gia đình với 7 đứa em. Má về làm dâu, ngày nông vụ, má cùng ông bà nội và các em ra đồng, ngày nông nhàn má theo bà nội ngày ngày gánh gánh bánh tráng nặng trịu đón xe ngựa xuống chợ bán. Ngày qua ngày, cha học hành theo đuổi công danh sự nghiệp, má học làm nông học buôn bán mưu sinh. Rồi lần lượt chị Thương, anh Hoài, rồi tôi - bé Nhớ ra đời.

Ở vùng đất này thời tiết lạ dữ lắm. Trời tháng 3 đang chang chang nắng bỗng giông đâu kéo tới rầm rĩ, gió xoáy ngược xuôi rồi mưa như trút hờn trút giận. Những chiều mưa không đi ra lô, má ngồi trầm ngâm bên cửa sổ, nhìn ra ngoài trời. Có lần tôi hỏi: “Má ơi, có phải má thích mưa?”. Má ôm tôi vào lòng “Không, má chỉ nhớ”. Tôi hít hà mùi thơm ngọt nồng của má. “Vậy chớ má nhớ gì?”. Má lặng thinh, mắt đỏ hoe. Má nói xứ này mưa làm người ta thấy chạnh lòng quá, mà không bởi vì mưa, là vì đất. Chỉ cần cơn mưa xuống là cuốn trôi sạch banh, vậy mà khi mưa tạnh đất lại bám dính lấy người. Má nói đất sao giống con người ta quá, cứ lưu luyến hoài, cứ day dứt mãi nên dễ ôm phiền ôm lụy. Má không thích những ngày mưa, nhưng tôi biết má thích những đêm trăng sáng. Tôi vẫn nhớ những đêm trăng ngày còn má, cả nhà tôi ra sân ngồi trên tấm chiếu má trải ngay ngắn cùng nghe cha đàn má ngâm thơ hoặc má lại kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe, những câu chuyện của má thường có nàng công chúa và chàng hoàng tử. Những đêm trăng má cũng hay làm thơ, má có một chiếc hộp gỗ nhỏ đựng toàn thơ má viết. Tôi còn nhớ câu thơ của má: “Trăng sáng trên đỉnh núi. Tròn xinh mắt em cười” - Má từng nói, đời má đã vậy rồi chỉ mong đời các con đổi khác. Và những đêm trăng êm đềm nghiễm nhiên trở thành thông lệ của gia đình tôi.

Rồi những thứ tưởng là thông lệ hóa ra trở nên không hợp thời. Ngày ấy người ta dùng ánh trăng để tiết kiệm chút tiền đèn dầu chứ không ai lấy nó ra để ngâm thơ, kể chuyện. Rồi nhà tôi cũng giống như bao gia đình khác, những buổi cả nhà cùng nhau trong sân trăng sáng cười nói ngâm thơ bỗng trở thành xa xỉ, ra sân ngồi dưới trăng cũng chỉ để cây đèn dầu trong nhà được nghỉ ngơi. Và những buổi ấy thường không còn có cha bên cạnh. Dạo gần đây cha đi suốt, thời gian cha có mặt ở nhà thì không khí trong nhà cũng lạnh tanh. Tôi không hiểu tại sao má không còn nói cười như trước nữa. Có lẽ như ông Hai Ngô đội trưởng từng nói trong cuộc họp giao ban rằng, ăn cơm độn mà nói chuyện thơ chuyện ca thì có khác nào tự tát vào cái miệng của mình; hoặc có lẽ vì mấy lời xì xào rằng, cha với cô giáo dạy toán ở trường hình như “có cái gì đó”. Có vì lẽ gì thì với nhận thức của tôi ngày đó làm sao hiểu cho nổi. Tôi chỉ biết rằng thèm, rằng nhớ những đêm trăng ngày trước như thèm như nhớ ổ bánh mì thịt cha mua trong lần đi công tác ở thị xã trở về - một ổ bánh mì thịt cắt ra làm ba cho ba chị em. Mỗi lần nhớ, lại thấy nôn nao.

Má rời bỏ chúng tôi vào đêm trăng thiệt tròn. Đêm đó, trăng đủng đỉnh nhú lên trên núi Mái Nhà từ phía xa xa. Đêm yên bình như bao đêm có má, chỉ có tiếng con ễnh ương ngoài vườn nghe đến thê lương. Tôi bật dậy bởi tiếng còi xe hù hụ xé tan cảnh đêm trăng tĩnh lặng. Má về. Tôi cùng chị và anh mình chạy nhanh ra đầu ngõ, nhảy qua luống khoai lang trước nhà, băng qua hàng cà phê nở hoa thoảng hương mùi má, lao nhanh về hướng chiếc xe đang trờ tới. “Má ơi”. Chiếc xe chở má về, chớp đèn liên hồi rồi dừng lại bên gốc cây sung lớn đầu ngõ. Trăng lắc lẻo trên ngọn cây sung. Dưới ánh trăng lạnh lẽo, má nằm trên băng ca, chiếc khăn phủ lên người má trắng chạch, thõng thượt. “Má ơi”. Cú ngã sấp mặt không làm tôi bật khóc như mọi lần. Chỉ cần có má tôi sẽ không đau.

Cả đêm, người ta để má dưới gốc sung đầu ngõ mà không đưa má vào nhà. Nếu có ai đó thắc mắc thì bà Tư Mái tổ trưởng Công đoàn chỉ ậm ừ, chết kiểu đó làm sao đưa vào nhà cho được. Tôi hỏi chị Thương, chết kiểu đó là kiểu gì nhưng chị không nói không rằng chỉ ôm tôi mà khóc. Anh Hoài mắt đỏ hoe chạy ra vườn nhổ hết đám cải má trồng, mấy cành hoa vàng nằm chỏng chơ dưới nắng. Sau này cũng có người nói vầy: má mày là dân trí thức chịu cực không nổi, quen nghĩ xa xôi; nhưng cũng có kẻ độc miệng hơn thì nói: mấy người thi sĩ văn chương gì đó thích bày trò lãng mạn, không quen thực tế, đến chết cũng khác người. Ở đất này, người ta có thể chết do đói, chết do bệnh, chết do lao động quá sức hoặc có thể chết do say rượu, do chồng đánh…  hoặc có nhiều người “muốn chết” nhưng không dám chết, như vụ cô Ngâu xóm dưới bị chồng đánh nhừ tử hết trận này đến trận khác, ngày nào cũng than trời trách đất “muốn chết” lắm nhưng vẫn cứ phải sống, vẫn cứ phải bị chồng đánh mỗi ngày. Người ở đất nông trường kết luận vầy: sống là phải thực tế - nghĩa là số mình nó sao thì mình sống là vậy.

Ngày má ra đi hoa cà phê nở trắng cả nông trường. Nắng chiều tháng 3 vàng chọe chảy dài trên những đôi má chèm nhẹp nước. Cha ngồi trước với chú Chinh lái xe máy cày. Chị Thương 16, Anh Hoài 14, tôi - bé Nhớ chưa kịp lên 7, ngồi bên quan tài của má trên chiếc rơ-moóc chuyên chở phân bón cho cà phê - xe đi qua ngã tư nông trường, rẽ về hướng tây, nơi nghĩa địa nông trường được quy hoạch nằm sâu dưới chân núi. Nắng vàng đã nhạt từ lâu.

Rồi chuyện má ra đi cũng không còn là câu chuyện đầu làng cuối xóm của người nông trường nữa, ai cũng đầu tắt mặt tối còn thời gian đâu mà nhớ đến chuyện của “người ta”. Chuyện đã trở thành quá khứ. Rồi cha cũng cưới một người vợ mới. Vợ mới của cha là cô giáo Cầm dạy toán của trường. Ngày cha đón cô giáo Cầm về nhà, anh Hoài kéo sập giàn bầu trước sân, bỏ nhà đi mất hai ngày mới về. Sau ngày đó, ông nội lên đưa anh về dưới đồng. Chị Thương cưới vội thầy giáo bên trường vừa học vừa làm mà chị đang theo học, rồi dắt díu  nhau rời khỏi nông trường. Ở với nội hơn năm, anh Hoài cũng bỏ nhà đi, biệt xứ.

*

Đó là chuyện của những ngày 20 năm trước, khi tôi - bé Nhớ còn chưa tới 7 tuổi. Hai mươi năm đủ cho một đứa trẻ trở thành người lớn. Nhưng với một người lớn từng là đứa trẻ bị bỏ rơi liệu có thật sự trưởng thành? Hay dù không nhìn nhận thì dấu ấn ngày xưa vẫn còn đó, len lỏi trong mỗi ngóc ngách của tâm can; đọng lại như cái mọng nước nằm dưới da, quên thì thôi, nhớ đến lại ngứa cồn cào, rồi gãi cho trầy da rỉ máu.

Tôi ghét sự thay đổi nhưng mãi vẫn không ổn định; ghét thơ ca, sợ ánh trăng nhưng lại học ngành ngữ văn như là định mệnh. Công việc thay đổi xoành xoạch bởi thấy cái gì cũng đáng ngờ. Yêu ai cũng sợ người ta thay lòng nhưng chính mình lại nói lời chia tay trước. Cứ vậy đó. Thời gian trôi qua, rồi tôi 27 tuổi. Vài mối tình trôi qua không chút gì đọng lại, có lẽ bởi sợ yêu ai đó quá nhiều rồi nhiễu sự, đa đoan.

Tôi quen anh - Hiện Tại khi còn học chung trường đại học, là lớp đàn anh khoa Báo chí. Anh hơn tôi hai tuổi mà như lớn hơn quá chục, nể nhưng không chơi. Con người anh cũng như cái tên, thấy cứ sao sao, kỳ cục. Gần 5 năm sau, chúng tôi gặp lại trong một buổi ghi hình chương trình từ thiện, rồi cứ tự nhiên vậy mà song hành. Khi bên anh rồi lại thấy anh chững chạc và có vẻ đáng tin - bởi có lẽ anh chưa bao giờ phán xét tôi hay bất kỳ hành động nào của tôi. Chỉ duy nhất một lần trong lúc nói chuyện với nhau, tôi nói với anh: “Em cho rằng thay đổi nghĩa là từ bỏ, rời bỏ cái gì đó”. Ánh mắt anh nhìn khiến tôi bối rối: “Từ bỏ đồng nghĩa với trốn chạy”. Tôi gay gắt: “Vậy theo anh thay đổi nghĩa là gì?”. Anh nhìn thật lâu vào tôi: “Muốn thay đổi trước tiên hãy đối diện, dám đối diện mới thật sự thay đổi”. Và vậy là tôi không còn liên lạc với anh nữa.

Chập chờn sau một đêm thức trắng để cắt cắt dán dán đoạn phim hiện trường, tôi giật mình bởi tiếng chuông réo rắt của chiếc điện thoại. Hy vọng là anh. Đầu bên kia, dì Cẩm thông báo ngắn gọn “Cha ốm nặng”. Mắt tôi giần giật, cảm giác như bị ai đó nhìn qua lớp màng bảo vệ mỏng tang, đâm xuyên thấu. Sau ngày má ra đi rồi anh và chị cũng không còn tin tức, tôi cũng chỉ mong đến mình. Ngày đậu đại học chính là cơ hội. Để rời bỏ vùng đất này hay thoát khỏi ám ảnh của chính mình?

Tôi rời đi vào mùa nông trường đang kỳ thu hoạch cà phê. Những cành trĩu quả, sắc đỏ pha lẫn xanh, mùi ngọt thanh dễ chịu. Cà phê được mùa, giá tốt. Sức sống mới về với nông trường, ai nấy vui mừng khấm khởi. Những ngày ăn củ sắn, cơm độn bắp độn khoai đã xa. Vùng đất đỏ quạch hoang sơ ngày nào giờ xanh bạt ngàn. Nông trường đã đổi khác. Và tôi cũng sẽ khác.

Ngày tôi đi, cha lặng lẽ tiễn tôi đến ngã tư nông trường. Khi chiếc xe đò dừng lại đón khách, cha vội nhét vào túi xách của tôi chiếc phong bì. Rồi những năm sau đó, cha vẫn đều đặn gửi cho tôi một số tiền gọi là phí sinh hoạt. Số tiền cha gửi cộng thêm tiền tôi làm các công việc khác nhau, từ dạy thêm, phụ quán đến dọn đất làm vườn  - tiện tặn, rồi 4 năm đại học cũng trôi qua. Tiết trời Đà Lạt giúp tôi tiết kiệm quần áo rất nhiều. Tôi vượt qua những năm dài đi học, một mình. Và không một lá thư nào gửi về cho cha. Ở nơi xứ lạ, lạnh và ẩm ướt, nỗi cô đơn xâm chiếm lấy tôi thường trực. Không bạn bè, không người thân, thèm yêu thương nhưng lại sợ gần gũi. Và cứ thế, thời gian tiếp tục trôi. Lận đận bao phen và giờ đây tôi thành khách trọ trên đất Sài Gòn.

*

Ngủ gà gật trên chuyến xe xuyên đêm từ Sài Gòn về tới Tuy Hòa, tôi bắt tiếp chuyến xe đò đi Sông Hinh - tuyến xe đi trên con đường số 5 ngày trước (bây giờ là tỉnh lộ 645). 8 giờ sáng, xe tới ngã tư nông trường. Khái niệm chung của những người dân ở đây, đến ngã tư nông trường nghĩa là đến nhà. Tôi đã về nơi tôi đã rời đi.

Chiếc ba lô nhẹ đeo trên lưng, tôi đi bộ trên con đường đất ngày nào giờ đã rải sỏi. Suốt con đường tôi chỉ gặp vài người chạy xe máy ù qua rồi mất hút. Đồng cà phê bạt ngàn ngày nào không còn. Mấy năm qua cà phê rớt giá cộng sâu bệnh hoành hành, nông trường cho chặt bỏ hết những cây xanh năm nào là nguồn sống của những công nhân nơi đây. Hun hút sâu hết tầm mắt là những bãi đất trống, hoang vu và bạc thết. Vài khoảnh đất nhỏ nhà ai bắp đã lên cao ngang đầu gối. Vắng lặng và lạnh lẽo.

Tôi không quẹo đường vào nhà mà đi thẳng về hướng hồ. Con đập khô nức nẻ. Ngày trước, để phục vụ cho tưới tiêu, mỗi đội sản xuất đều được khoét những hồ chứa nước mênh mông với con đập được xây cao cùng những đường ống dẫn nước thật lớn. Ngày còn nhỏ, khi còn má, chị em chúng tôi cùng lũ bạn thường kéo nhau ra đây chơi. Chúng tôi leo lên triền dốc trên cao, đứng lên những tảng đá phẳng nhìn xuống đập và hét lớn. Tiếng chúng tôi hòa với tiếng thác nước vang vọng lại từ bên kia núi.

Chị em tôi đến đây một lần sau ngày không còn má, đó là trước ngày chị Thương lấy chồng. Đứng trên bờ kè bê tông, phía dưới con đập nước trắng xóa, sùng sục, chị Thương ôm tôi và anh Hoài thật chặt. Chị nói đây là nơi má tụi mình ra đi. Tôi hỏi: “Có phải chị cũng bỏ tụi em mà đi luôn không?”. Chị không nói gì, ánh mắt chị nhìn đâu đó vào nơi xa tít tắp, ánh nhìn như má ngày nào.

Rồi cha cũng ra đi, lẳng lặng rời đi như cách của cha. Tôi đến bên giường, cha mở mắt nhìn tôi, ánh mắt lặng lẽ như ngày nào. Cha không có lời sau cùng, chỉ đưa tôi chiếc hộp gỗ - chiếc hộp của má. Đưa cha đến nghĩa trang, tôi đi bộ về nhà. Hiện Tại đang đứng bên đường ở ngã tư nông trường. Nhìn thấy anh, tự dưng nước mắt tôi trào ra, nóng hổi.  Anh ôm chặt tôi vào lòng, lần đầu tiên tôi nhận thấy tiếng thình thịch của trái tim mình.

Trong chiếc hộp của má, ngoài tập thơ má viết, thì tất cả là những tờ giấy lĩnh tiền mặt có ghi chú tên người gửi và những lá thư ngắn - tất cả đều của chị Thương và anh Hoài “Gửi cho bé Nhớ”. Dưới đáy hộp, một tờ giấy đã cũ được gấp đôi. Là nét chữ của má.

“Gửi các con của má. Lựa chọn cái chết là điều dễ dàng. Má xin lỗi đã không can đảm đối diện cuộc sống. Mong các con hãy làm điều đó thay má. Mãi yêu các con!”.

Má ơi! Tôi thầm gọi má, tiếng vang trong lồng ngực.

*

Chúng tôi nắm tay nhau đi trong nắng sớm. “Nông trường này đang cần một luồng gió mới” - Hiện Tại nói. Tôi ngước lên nhìn anh, những tia nắng lung linh. Cơn gió nồm mát dịu.

L.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm
Đoạn chi ma cước - Truyện ngắn của Châu Đăng Khoa
“Đoạn chi ma cước” dẫn người đọc vào cõi thiền – kiếm huyền bí của Edo, nơi một Ronin tật nguyền đối diện cái chết, ký ức và bản thể. Với bút pháp giàu hình ảnh và triết lý, Châu Đăng Khoa đã tạo nên một truyện ngắn độc đáo, đẹp và ám ảnh như một đường kiếm xé tuyết.
Xem thêm
Bất ngờ - Truyện ngắn của Lê Thúy Hà
Nhìn theo cô giáo trẻ lễ phép, thân thiện gửi xe chỗ ông, rồi bước đi hướng về căn phòng của lão trưởng phòng giáo dục thành phố, lòng ông Thái bỗng dấy lên nỗi bất an, “sao bây giờ vẫn còn có người đẹp tự nhiên, hương sắc mộc mạc thế, khéo lại là món mồi ngon tiếp theo của hắn rồi”. Nhưng ông đang mong muốn cơ hội này xuất hiện từng ngày, mà sao khả năng cao là đang đến, ông lại thấy lo lắng, bất an? Có phải sự mộc mạc, nhân hậu toát ra từ ánh mắt, giọng nói, con người cô giáo trẻ ấy khiến ông thấy bứt rứt.
Xem thêm