TIN TỨC
  • Truyện
  • Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Chiếc hộp của má | Truyện ngắn dự thi của Lưu Trần

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-01 20:23:31
mail facebook google pos stwis
1821 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Má ơi!

Đó là tiếng gọi thân thương của đứa con dành cho mẹ, gọi có mục đích hoặc gọi chỉ để mà gọi; là tiếng của nũng nịu, của mè nheo hoặc yêu sách; hay là tiếng kêu của thảng thốt hoặc kinh ngạc; nhưng cũng có thể là tiếng rên rỉ khi nỗi đau ập đến hay nỗi sợ dâng cao; và biết đâu lại là tiếng nức nở mỗi đêm của ai đó hoặc cô đơn, hoặc buồn tủi, hoặc đang mắc kẹt trong hang động của chính mình. Ờ mà không biết chừng, đó còn là tiếng thốt ra bất chợt, “má nó”.

Không biết bạn cảm nhận thế nào khi gọi “Má ơi”, nhưng với tôi, tiếng gọi này luôn như một chiếc hộp bí ẩn. Một chiếc hộp mở ra - đóng lại - mở ra, cứ mỗi lần lại một khác biệt. Rất lâu rồi, từ cái ngày ba giận dữ hét “Đừng gọi má mày nữa, má mày bỏ tụi mày mà đi rồi” - thì chính từ lúc đó, tiếng “Má ơi” của tôi không còn là chính nó nữa mà trở thành tiếng ùng ục trong cổ họng mỗi đêm gió lạnh, ầm ì trong những ngày mưa to giông lớn và ư ử trong suốt chặng đường dài, thật dài để tôi - một cô bé chưa tròn 7 tuổi trở thành một người khác - người lớn.

Một đứa trẻ theo thời gian rồi cũng trở thành người lớn. Và một đứa trẻ trở thành người lớn khi có mẹ hoặc không có mẹ bên cạnh đã có sự khác nhau, thì việc một đứa trẻ lớn lên không có mẹ vì mẹ nó bỏ đi lại trở thành một vấn đề khác hẳn. Trường hợp của tôi là vậy. Ai cũng nói thế. Ngay cả nhỏ bạn duy nhất của tôi cũng nói rằng “mày đang có vấn đề, hãy thay đổi nó đi”. Khỉ thật! Tất nhiên đây là câu nói xúc phạm ghê gớm. Thay đổi ư? Bản thân nó đã là vấn đề.

*

Mùa xuân năm 1981, khi tôi vừa đầy tháng, cha bỏ qua lời can ngăn của ông nội nhất quyết đưa má và ba chị em chúng tôi lên đây, vùng đất núi nắng bụi mưa lầy. Bấy giờ, đây là vùng đất hứa. Gia đình nội tôi đông con, đất ruộng hợp tác xã chia không đủ công làm, cuộc sống vốn đã vất vả càng trở nên chật vật hơn. Việc gia đình có người thoát ly lên các vùng kinh tế mới luôn được địa phương khuyến khích, cha và má tôi thuộc thành phần trí thức không quen cày bừa nên việc đi lên miền đất mới coi như là cơ hội. Cha thuyết phục nội vậy. Rồi cả nhà tôi khăn gói lên đây.

Nông trường S.T thuộc huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Khánh (bây giờ là tỉnh Phú Yên) - là vùng đất núi rừng mới được khai hoang sau giải phóng 1975. Đây là cộng đồng của những người con tứ xứ, họ đều là những người rời xa quê hương gốc gác về đây với “tiếng gọi của Tổ quốc”, nhưng sâu thẳm là mong tìm được một sự thay đổi, hy vọng ở tương lai. Cha má tôi cũng không ngoại lệ. Cha tôi được phân vào dạy học khối cấp 2 thuộc trường cấp 1 và 2 của nông trường, má tuy có lời hứa từ lãnh đạo nông trường sẽ “tìm cho một công việc phù hợp” nhưng trong thời gian chờ đợi, tạm thời cứ biên chế vào đội sản xuất. Ngày nắng làm đất, ngày mưa trỉa bắp trồng khoai.

Giữa năm đó, nông trường xuống giống đại trà cây cà phê vối, má trở thành công nhân trồng cà phê. Cha làm thầy giáo mỗi sáng cắp cặp đi dạy, tối về chong đèn chấm bài soạn giáo án. Má sáng dậy thiệt sớm luộc chín nồi sắn mì, cho bầy heo ăn, thả bầy gà khỏi chuồng, kêu chị Thương anh Hoài dậy sửa soạn đi học, má đưa tôi gửi nhà trẻ rồi vác cuốc ra lô tạo bồn, làm cỏ cho cây cà phê; tối mịt má về lại quay mòng mòng với lũ con, heo và gà, rồi may vá giặt giũ tới khuya. Ngày nắng má xoay mù trong gió bụi, ngày mưa má dầm dề trong bùn sình, nhìn má lúc nào cũng đỏ quạch màu của đất.

Ông ngoại là ông giáo làng ngày trước, má lại là con gái duy nhất trong nhà nên được ngoại cho đi học như mấy cậu. Cha cũng là một trong những học trò của ngoại. Biết cha má thương nhau, ông ngoại hài lòng lắm, chỉ có ông nội thì tỏ ra ngại ngần “đàn bà con gái chữ nghĩa nhiều không biết làm ăn lại dễ sinh tật”. Nhưng rồi cha má cũng nên duyên chồng vợ. Cha là con trai trưởng trong gia đình với 7 đứa em. Má về làm dâu, ngày nông vụ, má cùng ông bà nội và các em ra đồng, ngày nông nhàn má theo bà nội ngày ngày gánh gánh bánh tráng nặng trịu đón xe ngựa xuống chợ bán. Ngày qua ngày, cha học hành theo đuổi công danh sự nghiệp, má học làm nông học buôn bán mưu sinh. Rồi lần lượt chị Thương, anh Hoài, rồi tôi - bé Nhớ ra đời.

Ở vùng đất này thời tiết lạ dữ lắm. Trời tháng 3 đang chang chang nắng bỗng giông đâu kéo tới rầm rĩ, gió xoáy ngược xuôi rồi mưa như trút hờn trút giận. Những chiều mưa không đi ra lô, má ngồi trầm ngâm bên cửa sổ, nhìn ra ngoài trời. Có lần tôi hỏi: “Má ơi, có phải má thích mưa?”. Má ôm tôi vào lòng “Không, má chỉ nhớ”. Tôi hít hà mùi thơm ngọt nồng của má. “Vậy chớ má nhớ gì?”. Má lặng thinh, mắt đỏ hoe. Má nói xứ này mưa làm người ta thấy chạnh lòng quá, mà không bởi vì mưa, là vì đất. Chỉ cần cơn mưa xuống là cuốn trôi sạch banh, vậy mà khi mưa tạnh đất lại bám dính lấy người. Má nói đất sao giống con người ta quá, cứ lưu luyến hoài, cứ day dứt mãi nên dễ ôm phiền ôm lụy. Má không thích những ngày mưa, nhưng tôi biết má thích những đêm trăng sáng. Tôi vẫn nhớ những đêm trăng ngày còn má, cả nhà tôi ra sân ngồi trên tấm chiếu má trải ngay ngắn cùng nghe cha đàn má ngâm thơ hoặc má lại kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe, những câu chuyện của má thường có nàng công chúa và chàng hoàng tử. Những đêm trăng má cũng hay làm thơ, má có một chiếc hộp gỗ nhỏ đựng toàn thơ má viết. Tôi còn nhớ câu thơ của má: “Trăng sáng trên đỉnh núi. Tròn xinh mắt em cười” - Má từng nói, đời má đã vậy rồi chỉ mong đời các con đổi khác. Và những đêm trăng êm đềm nghiễm nhiên trở thành thông lệ của gia đình tôi.

Rồi những thứ tưởng là thông lệ hóa ra trở nên không hợp thời. Ngày ấy người ta dùng ánh trăng để tiết kiệm chút tiền đèn dầu chứ không ai lấy nó ra để ngâm thơ, kể chuyện. Rồi nhà tôi cũng giống như bao gia đình khác, những buổi cả nhà cùng nhau trong sân trăng sáng cười nói ngâm thơ bỗng trở thành xa xỉ, ra sân ngồi dưới trăng cũng chỉ để cây đèn dầu trong nhà được nghỉ ngơi. Và những buổi ấy thường không còn có cha bên cạnh. Dạo gần đây cha đi suốt, thời gian cha có mặt ở nhà thì không khí trong nhà cũng lạnh tanh. Tôi không hiểu tại sao má không còn nói cười như trước nữa. Có lẽ như ông Hai Ngô đội trưởng từng nói trong cuộc họp giao ban rằng, ăn cơm độn mà nói chuyện thơ chuyện ca thì có khác nào tự tát vào cái miệng của mình; hoặc có lẽ vì mấy lời xì xào rằng, cha với cô giáo dạy toán ở trường hình như “có cái gì đó”. Có vì lẽ gì thì với nhận thức của tôi ngày đó làm sao hiểu cho nổi. Tôi chỉ biết rằng thèm, rằng nhớ những đêm trăng ngày trước như thèm như nhớ ổ bánh mì thịt cha mua trong lần đi công tác ở thị xã trở về - một ổ bánh mì thịt cắt ra làm ba cho ba chị em. Mỗi lần nhớ, lại thấy nôn nao.

Má rời bỏ chúng tôi vào đêm trăng thiệt tròn. Đêm đó, trăng đủng đỉnh nhú lên trên núi Mái Nhà từ phía xa xa. Đêm yên bình như bao đêm có má, chỉ có tiếng con ễnh ương ngoài vườn nghe đến thê lương. Tôi bật dậy bởi tiếng còi xe hù hụ xé tan cảnh đêm trăng tĩnh lặng. Má về. Tôi cùng chị và anh mình chạy nhanh ra đầu ngõ, nhảy qua luống khoai lang trước nhà, băng qua hàng cà phê nở hoa thoảng hương mùi má, lao nhanh về hướng chiếc xe đang trờ tới. “Má ơi”. Chiếc xe chở má về, chớp đèn liên hồi rồi dừng lại bên gốc cây sung lớn đầu ngõ. Trăng lắc lẻo trên ngọn cây sung. Dưới ánh trăng lạnh lẽo, má nằm trên băng ca, chiếc khăn phủ lên người má trắng chạch, thõng thượt. “Má ơi”. Cú ngã sấp mặt không làm tôi bật khóc như mọi lần. Chỉ cần có má tôi sẽ không đau.

Cả đêm, người ta để má dưới gốc sung đầu ngõ mà không đưa má vào nhà. Nếu có ai đó thắc mắc thì bà Tư Mái tổ trưởng Công đoàn chỉ ậm ừ, chết kiểu đó làm sao đưa vào nhà cho được. Tôi hỏi chị Thương, chết kiểu đó là kiểu gì nhưng chị không nói không rằng chỉ ôm tôi mà khóc. Anh Hoài mắt đỏ hoe chạy ra vườn nhổ hết đám cải má trồng, mấy cành hoa vàng nằm chỏng chơ dưới nắng. Sau này cũng có người nói vầy: má mày là dân trí thức chịu cực không nổi, quen nghĩ xa xôi; nhưng cũng có kẻ độc miệng hơn thì nói: mấy người thi sĩ văn chương gì đó thích bày trò lãng mạn, không quen thực tế, đến chết cũng khác người. Ở đất này, người ta có thể chết do đói, chết do bệnh, chết do lao động quá sức hoặc có thể chết do say rượu, do chồng đánh…  hoặc có nhiều người “muốn chết” nhưng không dám chết, như vụ cô Ngâu xóm dưới bị chồng đánh nhừ tử hết trận này đến trận khác, ngày nào cũng than trời trách đất “muốn chết” lắm nhưng vẫn cứ phải sống, vẫn cứ phải bị chồng đánh mỗi ngày. Người ở đất nông trường kết luận vầy: sống là phải thực tế - nghĩa là số mình nó sao thì mình sống là vậy.

Ngày má ra đi hoa cà phê nở trắng cả nông trường. Nắng chiều tháng 3 vàng chọe chảy dài trên những đôi má chèm nhẹp nước. Cha ngồi trước với chú Chinh lái xe máy cày. Chị Thương 16, Anh Hoài 14, tôi - bé Nhớ chưa kịp lên 7, ngồi bên quan tài của má trên chiếc rơ-moóc chuyên chở phân bón cho cà phê - xe đi qua ngã tư nông trường, rẽ về hướng tây, nơi nghĩa địa nông trường được quy hoạch nằm sâu dưới chân núi. Nắng vàng đã nhạt từ lâu.

Rồi chuyện má ra đi cũng không còn là câu chuyện đầu làng cuối xóm của người nông trường nữa, ai cũng đầu tắt mặt tối còn thời gian đâu mà nhớ đến chuyện của “người ta”. Chuyện đã trở thành quá khứ. Rồi cha cũng cưới một người vợ mới. Vợ mới của cha là cô giáo Cầm dạy toán của trường. Ngày cha đón cô giáo Cầm về nhà, anh Hoài kéo sập giàn bầu trước sân, bỏ nhà đi mất hai ngày mới về. Sau ngày đó, ông nội lên đưa anh về dưới đồng. Chị Thương cưới vội thầy giáo bên trường vừa học vừa làm mà chị đang theo học, rồi dắt díu  nhau rời khỏi nông trường. Ở với nội hơn năm, anh Hoài cũng bỏ nhà đi, biệt xứ.

*

Đó là chuyện của những ngày 20 năm trước, khi tôi - bé Nhớ còn chưa tới 7 tuổi. Hai mươi năm đủ cho một đứa trẻ trở thành người lớn. Nhưng với một người lớn từng là đứa trẻ bị bỏ rơi liệu có thật sự trưởng thành? Hay dù không nhìn nhận thì dấu ấn ngày xưa vẫn còn đó, len lỏi trong mỗi ngóc ngách của tâm can; đọng lại như cái mọng nước nằm dưới da, quên thì thôi, nhớ đến lại ngứa cồn cào, rồi gãi cho trầy da rỉ máu.

Tôi ghét sự thay đổi nhưng mãi vẫn không ổn định; ghét thơ ca, sợ ánh trăng nhưng lại học ngành ngữ văn như là định mệnh. Công việc thay đổi xoành xoạch bởi thấy cái gì cũng đáng ngờ. Yêu ai cũng sợ người ta thay lòng nhưng chính mình lại nói lời chia tay trước. Cứ vậy đó. Thời gian trôi qua, rồi tôi 27 tuổi. Vài mối tình trôi qua không chút gì đọng lại, có lẽ bởi sợ yêu ai đó quá nhiều rồi nhiễu sự, đa đoan.

Tôi quen anh - Hiện Tại khi còn học chung trường đại học, là lớp đàn anh khoa Báo chí. Anh hơn tôi hai tuổi mà như lớn hơn quá chục, nể nhưng không chơi. Con người anh cũng như cái tên, thấy cứ sao sao, kỳ cục. Gần 5 năm sau, chúng tôi gặp lại trong một buổi ghi hình chương trình từ thiện, rồi cứ tự nhiên vậy mà song hành. Khi bên anh rồi lại thấy anh chững chạc và có vẻ đáng tin - bởi có lẽ anh chưa bao giờ phán xét tôi hay bất kỳ hành động nào của tôi. Chỉ duy nhất một lần trong lúc nói chuyện với nhau, tôi nói với anh: “Em cho rằng thay đổi nghĩa là từ bỏ, rời bỏ cái gì đó”. Ánh mắt anh nhìn khiến tôi bối rối: “Từ bỏ đồng nghĩa với trốn chạy”. Tôi gay gắt: “Vậy theo anh thay đổi nghĩa là gì?”. Anh nhìn thật lâu vào tôi: “Muốn thay đổi trước tiên hãy đối diện, dám đối diện mới thật sự thay đổi”. Và vậy là tôi không còn liên lạc với anh nữa.

Chập chờn sau một đêm thức trắng để cắt cắt dán dán đoạn phim hiện trường, tôi giật mình bởi tiếng chuông réo rắt của chiếc điện thoại. Hy vọng là anh. Đầu bên kia, dì Cẩm thông báo ngắn gọn “Cha ốm nặng”. Mắt tôi giần giật, cảm giác như bị ai đó nhìn qua lớp màng bảo vệ mỏng tang, đâm xuyên thấu. Sau ngày má ra đi rồi anh và chị cũng không còn tin tức, tôi cũng chỉ mong đến mình. Ngày đậu đại học chính là cơ hội. Để rời bỏ vùng đất này hay thoát khỏi ám ảnh của chính mình?

Tôi rời đi vào mùa nông trường đang kỳ thu hoạch cà phê. Những cành trĩu quả, sắc đỏ pha lẫn xanh, mùi ngọt thanh dễ chịu. Cà phê được mùa, giá tốt. Sức sống mới về với nông trường, ai nấy vui mừng khấm khởi. Những ngày ăn củ sắn, cơm độn bắp độn khoai đã xa. Vùng đất đỏ quạch hoang sơ ngày nào giờ xanh bạt ngàn. Nông trường đã đổi khác. Và tôi cũng sẽ khác.

Ngày tôi đi, cha lặng lẽ tiễn tôi đến ngã tư nông trường. Khi chiếc xe đò dừng lại đón khách, cha vội nhét vào túi xách của tôi chiếc phong bì. Rồi những năm sau đó, cha vẫn đều đặn gửi cho tôi một số tiền gọi là phí sinh hoạt. Số tiền cha gửi cộng thêm tiền tôi làm các công việc khác nhau, từ dạy thêm, phụ quán đến dọn đất làm vườn  - tiện tặn, rồi 4 năm đại học cũng trôi qua. Tiết trời Đà Lạt giúp tôi tiết kiệm quần áo rất nhiều. Tôi vượt qua những năm dài đi học, một mình. Và không một lá thư nào gửi về cho cha. Ở nơi xứ lạ, lạnh và ẩm ướt, nỗi cô đơn xâm chiếm lấy tôi thường trực. Không bạn bè, không người thân, thèm yêu thương nhưng lại sợ gần gũi. Và cứ thế, thời gian tiếp tục trôi. Lận đận bao phen và giờ đây tôi thành khách trọ trên đất Sài Gòn.

*

Ngủ gà gật trên chuyến xe xuyên đêm từ Sài Gòn về tới Tuy Hòa, tôi bắt tiếp chuyến xe đò đi Sông Hinh - tuyến xe đi trên con đường số 5 ngày trước (bây giờ là tỉnh lộ 645). 8 giờ sáng, xe tới ngã tư nông trường. Khái niệm chung của những người dân ở đây, đến ngã tư nông trường nghĩa là đến nhà. Tôi đã về nơi tôi đã rời đi.

Chiếc ba lô nhẹ đeo trên lưng, tôi đi bộ trên con đường đất ngày nào giờ đã rải sỏi. Suốt con đường tôi chỉ gặp vài người chạy xe máy ù qua rồi mất hút. Đồng cà phê bạt ngàn ngày nào không còn. Mấy năm qua cà phê rớt giá cộng sâu bệnh hoành hành, nông trường cho chặt bỏ hết những cây xanh năm nào là nguồn sống của những công nhân nơi đây. Hun hút sâu hết tầm mắt là những bãi đất trống, hoang vu và bạc thết. Vài khoảnh đất nhỏ nhà ai bắp đã lên cao ngang đầu gối. Vắng lặng và lạnh lẽo.

Tôi không quẹo đường vào nhà mà đi thẳng về hướng hồ. Con đập khô nức nẻ. Ngày trước, để phục vụ cho tưới tiêu, mỗi đội sản xuất đều được khoét những hồ chứa nước mênh mông với con đập được xây cao cùng những đường ống dẫn nước thật lớn. Ngày còn nhỏ, khi còn má, chị em chúng tôi cùng lũ bạn thường kéo nhau ra đây chơi. Chúng tôi leo lên triền dốc trên cao, đứng lên những tảng đá phẳng nhìn xuống đập và hét lớn. Tiếng chúng tôi hòa với tiếng thác nước vang vọng lại từ bên kia núi.

Chị em tôi đến đây một lần sau ngày không còn má, đó là trước ngày chị Thương lấy chồng. Đứng trên bờ kè bê tông, phía dưới con đập nước trắng xóa, sùng sục, chị Thương ôm tôi và anh Hoài thật chặt. Chị nói đây là nơi má tụi mình ra đi. Tôi hỏi: “Có phải chị cũng bỏ tụi em mà đi luôn không?”. Chị không nói gì, ánh mắt chị nhìn đâu đó vào nơi xa tít tắp, ánh nhìn như má ngày nào.

Rồi cha cũng ra đi, lẳng lặng rời đi như cách của cha. Tôi đến bên giường, cha mở mắt nhìn tôi, ánh mắt lặng lẽ như ngày nào. Cha không có lời sau cùng, chỉ đưa tôi chiếc hộp gỗ - chiếc hộp của má. Đưa cha đến nghĩa trang, tôi đi bộ về nhà. Hiện Tại đang đứng bên đường ở ngã tư nông trường. Nhìn thấy anh, tự dưng nước mắt tôi trào ra, nóng hổi.  Anh ôm chặt tôi vào lòng, lần đầu tiên tôi nhận thấy tiếng thình thịch của trái tim mình.

Trong chiếc hộp của má, ngoài tập thơ má viết, thì tất cả là những tờ giấy lĩnh tiền mặt có ghi chú tên người gửi và những lá thư ngắn - tất cả đều của chị Thương và anh Hoài “Gửi cho bé Nhớ”. Dưới đáy hộp, một tờ giấy đã cũ được gấp đôi. Là nét chữ của má.

“Gửi các con của má. Lựa chọn cái chết là điều dễ dàng. Má xin lỗi đã không can đảm đối diện cuộc sống. Mong các con hãy làm điều đó thay má. Mãi yêu các con!”.

Má ơi! Tôi thầm gọi má, tiếng vang trong lồng ngực.

*

Chúng tôi nắm tay nhau đi trong nắng sớm. “Nông trường này đang cần một luồng gió mới” - Hiện Tại nói. Tôi ngước lên nhìn anh, những tia nắng lung linh. Cơn gió nồm mát dịu.

L.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm
Đoạn chi ma cước - Truyện ngắn của Châu Đăng Khoa
“Đoạn chi ma cước” dẫn người đọc vào cõi thiền – kiếm huyền bí của Edo, nơi một Ronin tật nguyền đối diện cái chết, ký ức và bản thể. Với bút pháp giàu hình ảnh và triết lý, Châu Đăng Khoa đã tạo nên một truyện ngắn độc đáo, đẹp và ám ảnh như một đường kiếm xé tuyết.
Xem thêm
Bất ngờ - Truyện ngắn của Lê Thúy Hà
Nhìn theo cô giáo trẻ lễ phép, thân thiện gửi xe chỗ ông, rồi bước đi hướng về căn phòng của lão trưởng phòng giáo dục thành phố, lòng ông Thái bỗng dấy lên nỗi bất an, “sao bây giờ vẫn còn có người đẹp tự nhiên, hương sắc mộc mạc thế, khéo lại là món mồi ngon tiếp theo của hắn rồi”. Nhưng ông đang mong muốn cơ hội này xuất hiện từng ngày, mà sao khả năng cao là đang đến, ông lại thấy lo lắng, bất an? Có phải sự mộc mạc, nhân hậu toát ra từ ánh mắt, giọng nói, con người cô giáo trẻ ấy khiến ông thấy bứt rứt.
Xem thêm
Người giữ mùa gió – Truyện Chu Phương Thảo
Con đường làng mùa hạ vẫn bụi mờ và khét nắng như thuở nào. Giữa cánh đồng khô cháy, một cậu bé gầy gò đang lom khom mò cá trong mương nước đục. Chiếc quần vá, đôi chân trần rớm máu vì gai cỏ nhưng ánh mắt sáng, kiên cường như muốn nuốt trọn cả chân trời nắng gắt.“Vũ ơi, về đi con, trưa rồi! Mẹ nấu cơm xong hết rồi đó!” Tiếng người phụ nữ gầy yếu gọi vọng từ xa, lạc giữa gió Lào bỏng rát. Cậu bé quay lại, cười toe toét:“Con bắt thêm con cá nữa thôi mẹ ơi! Tối nay mình có canh cá ăn nha!”
Xem thêm
“Quyền năng của người lớn” – Truyện ngắn Nguyễn Bình An
Giấc ngủ trưa của tôi bị phá tan bằng một thứ âm thanh làm tôi giật thót mình - tiếng mẹ chửi con.Mày đi khỏi nhà tao! Tại sao mày uống ca cà phê mà không dẹp? Đợi tao dẹp ha gì? Tao là mẹ mày hay ở đợ cho mày? Nội dung câu chửi cũng không đến mức khủng khiếp. Nhưng cái giọng chửi thì đáng kinh. Nó the thé, hoằm hoặm. Đó là tiếng chửi mà Bích trút xuống đứa con trai mới tám tuổi của mình - thằng Long. Long ngồi thu mình lại sát góc nhà. Hai tay như đang cố bịt tai. Hai chân dạng, lưng ngả ra sau tìm điểm tựa nơi vách nhà. Mắt mở thao láo, vô hồn. Dù cây cần nước để sống. Nhưng Long như một cây non quằn quại dưới làn nước mạnh liên tục dội tạt vào. Nó oặt mình đi. Bà mẹ trẻ đang dạy con hay đang trút hằn học trong người? Dũng - chồng Bích - đi làm gần hai tháng nay chưa thấy gửi tiền về. Những cuộc điện thoại của Bích gọi đi trong nước mắt nhưng Dũng luôn đáp lại bằng sự hững hờ.
Xem thêm
Nước cuốn bông tràm – truyện ngắn Chinh Văn
Lý do trở về cửa biển nầy của chị là gì?. Mỏi gối chồn chân hay hương tàn sắc nhạt?, nhớ cố hương hay lương tâm lên tiếng?, chính chị cũng không trả lời thỏa đáng. Cũng có thể là tất cả những cái đó thôi thúc chị về quê. Chỉ biết rằng sau những đau khổ chất chồng, sau những tháng ngày bon chen ở đất Sài Gòn, nay chị về vùng U Minh Hạ nầy nương nhờ nhà vợ chồng đứa cháu để sống qua ngày với nghề buôn bán cá khô.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc - Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chiều ở Loa Thành lặng như tờ giấy đã ố màu. Không tiếng người. Không bóng ai. Chỉ gió thổi cỏ lau nghiêng ngả, cuốn theo mùi đất xưa lẫn với mùi tro tàn cổ tích.
Xem thêm
Lời hứa - Truyện cực ngắn của Lê Thanh Huyền
Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 41 tháng 10/2025.
Xem thêm
Ký ức tuổi thơ tôi – Truyện ngắn Vũ Mạnh Định
Có một miền quê nằm bên dòng Hoàng Long lặng lẽ, nơi triền bãi xanh mướt ôm lấy con nước hiền hòa, nơi mỗi chiều vang lên tiếng chuông chùa Thông Linh Tự và mỗi mùa hội đình lại rộn ràng cờ hoa rợp ngõ. Ấy là quê tôi - thôn Thần Thiệu nhỏ bé nhưng chan chứa tình người, nơi đã nuôi dưỡng tuổi thơ tôi bằng tiếng trống hội, bằng mùi khói rơm chiều và những câu chuyện lịch sử vọng về từ ngàn xưa.
Xem thêm
Máu đỏ da vàng – truyện ngắn của Lại Văn Long
“Máu đỏ da vàng” – truyện ngắn của Lại Văn Long không chỉ là bi kịch của một người đàn bà trong vòng xoáy hậu chiến, mà còn là bản hòa ca của lòng nhân và tinh thần hòa giải dân tộc.
Xem thêm
Trạm xá - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Đồng hồ bước qua 7 giờ tối, bên ngoài khuôn viên Trạm xá tối om như mực, bác sĩ Nguyên vẫn còn miệt mài với chồng hồ sơ bệnh án, thỉnh thoảng, anh khẽ ngước mặt nhìn ra khung cửa, từng đợt gió thổi nhẹ mang theo chút mùi hương hoa rừng.
Xem thêm
Bông hoa của bản – Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Trang
Tiếng khóc thút thít của Mai vọng từ phía buồng lại, xóa tan sự tĩnh lặng của đêm. Páo ngồi bên bếp, nồi nước đang sôi ùng ục bốc khói, tay Páo cầm thanh củi cời những viên than hồng rực, ánh mắt vô định nhìn những ngọn lửa bập bùng cháy cũng như lòng Páo lúc này đang không yên. Páo muốn đi vào trong phòng Mai, nói với Mai rằng hãy đứng dậy và bỏ đi cùng anh. Hãy bỏ lại tất cả cuộc sống hiện tại để đến một nơi khác bắt đầu cuộc sống mới như đôi chim cu tự xây tổ mới cho mình, như đôi hoẵng chạy vào rừng sâu sống cuộc sống yên bình... Từ nhỏ Páo đã chứng kiến Mai khổ quá rồi, giờ nếu tiếp tục để Mai chịu khổ hơn nữa anh thấy mình càng vô dụng như khúc gỗ dưới sàn nhà, như cây lá han trong rừng.
Xem thêm
Vùng đất hứa -Truyện Đông Sơn Lữ Khách
Vùng đất hứa – giấc mơ của biết bao người ở một phương trời xa xôi. Nhưng để chạm tới giấc mơ ấy, họ phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu và sinh mạng. Câu chuyện này được viết để nhắc rằng: Hạnh phúc thật sự không nằm nơi đất khách, mà ở chính quê hương, nơi có tình thân và vòng tay chờ đợi.
Xem thêm
Kịch bản hoàn hảo – Truyện Miên Tình
Đây rồi, cung điện Potala hiện ra như một huyền thoại hóa đá, đứng sững trên đỉnh núi Hồng Sơn, giống như một bài thơ viết bằng gió, bằng tuyết và bằng máu của thời gian. Mái ngói đỏ sậm, tường trắng ngà, tầng tầng lớp lớp như những lớp ký ức quyện vào nhau không thể bóc tách. Cô bước chậm từng bậc thang lên, mỗi bước như dấn thêm vào một thế giới không dành cho người vội vã, từng phút giây đều như chờ đợi giống như cô. Trái tim đập chậm lại, chẳng phải vì độ cao, mà vì một cảm giác vô danh của sự u buồn thánh thiện.
Xem thêm
Như là giấc mơ - Truyện ngắn Huỳnh Ngọc Lan
Nguyên nhà giáo, nhà văn Huỳnh Ngọc Lan sinh năm 1952 quê quán ở Huế nhưng sinh ra và lớn lên ở Vinh, bởi ba chị đi tập kết gặp mẹ chị ở Nghệ An. Thời kỳ Đế quốc Mỹ ném bom khốc liệt bất kể ngày đêm từ Vĩnh Linh đến Quảng Bình rồi Hà Tĩnh và Nghệ An. Lúc này chị đang theo học Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên ngành hóa. Thật đau thương khôn xiết, khi Mẹ và ba người em của chị chết trong một trận bom vùi giữa đêm khuya; sau ngày đất nước thống nhất, chị theo ba về ở Huế quê nội.
Xem thêm
Dưới bóng núi – Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Trang
Mùa mưa ở vùng biên như một lời thách thức của thiên nhiên. Những con đường mòn dẫn vào bản bỗng hóa thành dải bùn đặc quánh, trơn như mỡ. Mây sà xuống tận mặt người, núi rừng hùng vĩ, hoang dại, đẹp đến nghẹt thở nhưng cũng dữ dằn không kém. Con đường này Khương đã thuộc đến từng khúc cua, từng con dốc và anh biết chỉ cần lỡ tay là sẽ lao xuống vực sâu hun hút. Vượt qua những khó khăn ấy, bản Khe Nặm hiện ra như nốt nhạc bình yên giữa bản giao hưởng dữ dội của núi rừng.
Xem thêm
Bàn tay vịn - Truyện ngắn của Hội An
Truyện ngắn in ở số 153 tạp chí Văn nghệ TP. HCM
Xem thêm
Bố vợ - truyện cực ngắn của Lê Thanh Huệ
Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 40 tháng 9 năm 2025.
Xem thêm
Chuông chùa Chân Giáo – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mùa đông năm ấy đến sớm. Mới cuối tháng mười âm lịch mà gió bấc đã rít lên từng đợt, khí lạnh xuyên da thịt. Gió quất nghiêng những ngọn cây bồ đề và gốc đại quanh chùa Chân Giáo. Không khí buốt giá và ảm đạm, sương đọng đầy trên cành khô, thấm cả vào đá, vào gạch, vào những pho tượng Phật im lặng như thời gian đã đông cứng lại, đóng khung vào những hình hài cụ thể.
Xem thêm