TIN TỨC

Chữ của Dạ Ngân | Lê Hoài Lương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-30 09:22:49
mail facebook google pos stwis
2523 lượt xem

LÊ HOÀI LƯƠNG

“Bao giờ ti vi cũng cho thấy một hình ảnh biển người. Không gì khác hơn. Muốn xem nhiều hơn cũng không có, muốn nhìn sâu hơn cũng không thể. Và chính vì vậy mà họ không giống ai trên thế giới này. Thật là một đất nước bí ẩn. Bí ẩn hay cá biệt hay dị biệt, hay dị dạng? Hoặc là một biển phụ nữ áo hồng váy xòe vẫy hoa hát múa. Hoặc là một biển trai lính sống áo màu cỏ rầm rập rầm rập ghê răng. Như cố ý, như mô hình, như rô bốt. Xếp đặt quá thành khó tin, trình diễn quá thành khả nghi và đồng phục quá thành phi nhân là cái chắc”. (Đi hàng một). Với lượng chữ không nhiều ấy, người đọc hầu như đã có hình dung căn bản nhất về một đất nước, một mô hình xã hội. Và nhất là, cộng đồng ấy có thực sự được xây dựng vì lợi ích của con người như nỗ lực của hầu khắp trên thế giới hay không. Sao một đoạn văn ngắn lại có thể chuyển tải được nhiều thông tin và nhận thức, cảm xúc vậy? Nó tuyệt nhiên không có bất kỳ từ ngữ nào khó hiểu, từ ngữ phô diễn “trí tuệ”, “cao siêu” nào. Nó bình thường như ngôn ngữ thường nhật. Nhưng chân xác, vừa đủ, điều muốn mô tả. Và tỏa ra ánh sáng của trí tuệ.

Đó là chữ của nhà văn Dạ Ngân, một đoạn trong hàng trăm tạp bút của bà. Cũng văn phong ấy, chữ nghĩa ấy.

Hoặc đây là đoạn văn trong Con chó và vụ ly hôn, một truyện ngắn khá “đình đám” của bà, thời đầu cầm bút: “Chị còn yêu anh không? Chắc là còn. Trước đó, hồi mới cưới nhau, chị đã yêu anh, tình yêu rạo rực của lứa tuổi thấy cái gì cũng đẹp, lứa tuổi dễ vừa ý với mình và với chung quanh. Anh và chị đều mê mẩn khám phá nhau. Vài năm sau, chị có thất vọng đôi chút nhưng vẫn yêu anh, tình yêu tự nhiên của người phụ nữ đối với người đàn ông làm chủ thân thể mình, tình yêu bổn phận đối với người tạo ra đứa con mình, tình yêu ấm áp và bao dung đối với những cái tốt và cái xấu mơ hồ trong anh. Và yêu những kỷ niệm”. Các cung bậc thay đổi của “yêu” được diễn tả thật dung dị, đầy thuyết phục. Hoặc một truyện ngắn khác gần đây, khi bà đã rất danh tiếng, Ai người Hà Nội, cũng chuyện tình cảm nhưng không phải suy gẫm về nó, mà là những tinh tế trong đối thoại, va chạm, tâm lý, tâm trạng: “Tuần trăng mật năm sáu mươi sáu ấy, lần đầu tiên “theo anh ta thì về” ấy, khi hai người nhảy xuống từ một chiếc xe đạp ông mượn ở ga Vinh và đối mặt chiếc cầu treo, cô vợ thất sắc, không ngờ, thấy như bị chơi khăm./ –Anh dân miền núi, ư?/ Người chồng cười ngất, sảng khoái, tự đắc:/ - Miền núi thì sao nào?/ Cô vợ, nghe như mình vừa vấp một hạt sạn, hạt sạn đầu tiên trong cuộc hôn nhân của mình”. Rồi đoạn sau, tiếp diễn: “Gì cũng nhất, mở miệng ra là con cá lá rau tình người đều nhất nhưng người đỗ đạt thì không chịu quay về. Mỗi khi bà nói toạc ra với ông ý nghĩ ấy, ông thường cau mày không chấp và quay sang mô tả gió Lào để bà tự hiểu. Đây rồi những khóm tre bảo vệ của từng nhà, thứ tre mà ông bảo đã cứa vào nhau trong gió ngày hè và tự phát hỏa. Thảo nào! Thảo nào cái gì? Ông lừ khừ đay lại. Bà ý tứ làm thinh, nếu bà nói thêm về cái tính hay phát hỏa thì giữa hai người có âm thanh súng ống chứ không chỉ là sự va chạm của những hạt sạn”.

Tính cách nhân vật, cụ thể, rặt kiểu “đồ Nghệ” giỏi dang, khó tính; sự ấm ức và thấu hiểu, dung hòa của người vợ, đã hiện lên sinh động, thú vị trong đoạn văn phối hợp nhiều tạng kỹ thuật của truyện ngắn. Nó bật ra cuốn hút, giản dị, tài tình, bằng thứ ngôn ngữ có sẵn, chỉ việc xếp vào đúng chỗ.

Hãy khoan nói chuyện tư tưởng: sử dụng chữ chân xác, đắc địa, là một biểu hiện rõ rệt của tài năng văn chương. Còn “đẻ” chữ mới cho một tiếng nói, chữ viết, như kiểu đúc kết sự nghiệp sáng tác vĩ đại của Pushkin nâng tầm đáng kể kho từ vựng tiếng Nga chẳng hạn, thì hoặc là thiên tài hiếm hoi, hoặc còn nhiều hệ thuộc vào sự phát triển của ngôn ngữ ấy, thời điểm ấy. Nhưng đó là chuyện khác.

Tôi muốn nói đến những cây bút sính chữ, nhiều khi thiên về lớp vỏ ngôn ngữ, khoái trá tìm thấy chữ độc, lạ như chơi chữ, trình diễn chữ. Có tài thì thành phong cách, một thời tán tụng kiểu Nguyễn Tuân; làng nhàng thành ra điệu đàng, múa chữ, như khoe mẽ, nhưng che giấu sự cạn cợt ý tưởng.

Cổ nhân có câu “công dục thiệt kỳ sự tất tiên lợi kỳ khí”- người thợ muốn làm ra sản phẩm tốt phải có đồ nghề tinh xảo. Công cụ của nhà văn là chữ, tất nhiên bạn có thể coi ý tưởng cũng là công cụ, nhưng chữ là phương tiện chuyển tải. Nhiều người viết “không tới” thường bị nhận xét “thiếu chữ”, “không có chữ”. Bởi cứ theo lối mòn thiên thu, những “dòng sông đỏ nặng phù sa”, những “hoang hoải”, những “nhân văn”…, quả đáng chán. Làm gì có chữ sang, chữ hèn; chỉ có ngôn ngữ học thuật, hàn lâm, ngôn ngữ đời sống, dân dã, bụi đời, phương ngữ…; xài đúng chỗ là hay, ngược lại là kém, là lạm chữ. Đôi khi chữ bị ghét, bị kỳ thị một cách oan uổng, thậm chí nhiều người né tránh không sử dụng, tìm từ khác như gần đây cư dân mạng chế giễu “hoang hoải” chẳng hạn…

Thực ra về căn bản, chữ là trí khôn muôn đời, là kho tàng sẵn có, vốn thường vượt tầm chữ một nhà văn. Vấn đề là biết sử dụng thế nào cho theo kịp thực tế cuộc sống. Tôi hình dung cách dùng chữ của nhà văn Dạ Ngân như nhặt những vỏ ốc các loại trong rổ ốc quen thuộc; bà chỉ việc nhặt ra, đúng loại mình cần về hình dáng, màu sắc, và sắp xếp thành hình khối, thành bức tranh cuộc sống hay thân phận con người. Không cần đi tìm ốc lạ, ốc hiếm, ốc hóa thạch đâu đó... Quen về chất liệu, nhưng khác biệt một sản phẩm.

2.

Đề tài phụ nữ đeo đẳng trong những sáng tác của Dạ Ngân: những người phụ nữ, người mẹ, người vợ, con gái,… trong truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn; thời chiến tranh, thời hậu chiến, thời điểm khó nghèo bao cấp, hay xu thế hiện đại. Như chắt lòng mà viết. Trong mắt con gái, bà mẹ mọi thời không bao giờ là trẻ và lạc hậu; trong xu thế cứ tiến về phía trước, “Ai chạy thì chạy, chỉ có các bà mẹ thì chậm rãi theo sau con mình, không ai có thể ngang bằng được với chúng. Vì đó là quy luật”. Nếu vậy, cũng là chung chung, có thể ở bất kỳ trang viết nào. Nhưng Dạ Ngân tiếp tục phát triển, người mẹ luôn tự ý thức và gắng gỏi không ngừng, một lòng mẹ bao dung, một bền bỉ phi thường, in dấu sâu đậm vào tâm trí người đọc như cách diễn đạt này: “Chính vì vậy mà không ít lần đứa con lớn tiếng với má việc này việc kia mỗi khi đụng chạm đến những thứ thuộc về kỹ năng của cuộc sống đã khác xưa nhiều. Má không chấp, má không để bụng, má thấu hiểu hơn ta tưởng bởi vì má vẫn âm thầm cố gắng để tiếp cận và thích nghi với cái bậc thềm mà đám con đang khiến má phải ngước nhìn”. (Ngâu và mẹ). Nhà văn nữ nào cũng là đứa con, rồi làm mẹ. Đoạn văn cho thấy bà đã nhập cả hai vai, là con, là má. Chữ là sự thấu hiểu, là tấm lòng. Hãy đọc lại câu sau của đoạn văn sẽ thấy nó thật lung linh, bởi được viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị nhất mà mẫn tiệp nhất!

Phải rồi. Chính ánh sáng trí tuệ, độ sắc sảo trong mỗi nhìn nhận, suy gẫm vấn đề khiến những con chữ bình thường đã gánh vác sức nặng nhiều hơn ngữ nghĩa chính nó. Khả năng của chữ thật kỳ diệu.

Một ví dụ khác. Khi khó xử trước việc mình sắp đi dự lễ tang một nhà văn đáng kính, gặp chuyện bị níu chân: chủ căn hộ tầng dưới nhờ ở nhà để thợ “quá bộ” vô sửa cái mái ban công, ngày mai chính rằm “tụi cháu còn cúng bái ông bà tổ tiên với cô hồn phù hộ cho nữa” - cái lý do rất chính đáng. Nói việc mình phải có mặt ở đó giờ đó, và có biết nhà văn Sơn Nam không, cô gái lắc đầu, rồi chống chế, “có nghe loáng thoáng”, bà hạ bút: “Một người gần gũi với cư dân Sài Gòn như Sơn Nam mà không thật được nhiều người biết đến sao? Người bình dân họ bận bịu hay vốn dĩ bạc bẽo?” (Khoảng trống kỳ nhân). Cũng tạp bút này nhắc tới trường hợp khác, về mấy bà giới bình dân một chung cư ngoài Hà Nội: “Mấy chục năm đi về với nhau một cầu thang mà họ thực sự không biết người đàn ông lầm lũi cô độc kia là giáo sư triết học Trần Đức Thảo. Cho đến hôm nhà đài ầm ĩ báo tang ông. Các bà hàng xóm ấy hồn nhiên: “Người ta cũng Đức Thảo mà vang danh thế còn ông Đức Thảo chung cư nhà mình thì cứ như một lão dở hơi kiết xác!” Sự việc ở hai thành phố lớn nhất nước là vậy, và cảm giác những con đường “côi vắng” khi không còn họ đi về; cái “khoảng trống” không sao bù đắp nổi khi thiếu bóng những kỳ nhân… Bà đã viết những dòng thấm thía, sâu hút: “Có những người thực sự vang danh nhưng họ không thể là kỳ nhân. Chừng như sự cô độc thường trực gần với lập dị của nghệ sĩ mới làm ra một kỳ nhân. Cô độc mà vẫn nghe thấy chúng sinh, điều đó mới khó, mới thật phi thường. Như Solzennhitxyn luôn cô độc trên đất Mỹ. Như Trịnh Công Sơn cô độc với mọi thứ thuộc về đời thường. Như Bùi Giáng cô độc với cái xác phàm của mình. Như Trang Thế Hy sớm an lòng với vườn dừa để khỏi xà xận chốn trường văn trận bút. Và như Sơn Nam. Bởi vì bản thân sự cô độc của họ đã là tuyên ngôn, là nhân cách”.

Khó thể viết hay hơn. Vì mỗi bề ngoài chữ nghĩa bình thường nhất ấy như đã được tinh luyện như luyện đan. À không, không phải viên kim đan lấp lánh sắc vàng, là tim là óc chưng cất, từng giọt, đặc sánh. Sức lay động ngôn từ thật kinh sợ!

3.

Người đọc nhanh chóng bị chữ nghĩa gây cảm giác, nhưng điều đọng lại luôn phía sau chữ: vùng không gian âm hưởng, cái xôn xao dư ba thường hình thành muộn hơn: nó là ý, nối dài. Khi mải mê tìm kiếm vẻ ngoài có vẻ đỏm dáng, chải chuốt của chữ, chữ cũng có hiệu ứng về hùa với nhau, nối tiếp sánh vai, cái sâu xa muốn đạt tới thường đứng nánh sang một bên hoặc biến mất. Người ta nói tới văn chương tối giản, không chỉ kiệm lời mà còn là bình thường lời, sao cho điều kỳ vĩ nhất, sâu sắc nhất được diễn tả dung dị nhất, dễ hiểu nhất. Những nhà văn lớn của thế giới đều viết như vậy. Những nhà văn thành công trong nước đều đi qua tâm lý muốn thể hiện chữ nghĩa thời đầu cầm bút của mình.

Chuyện đề tài, tư tưởng trong văn xuôi, tức cái vấn đề hướng tới ấy, cũng là loay hoay tìm kiếm của nhiều người. Qua rồi cái tốt cái xấu đơn giản thời địch ta, chính diện phản diện phân minh, văn chương đi sâu vào khám phá con người đa diện, đa nhân cách, vào những va đập sáng tối; vào các vấn đề có tính triết luận, về ý thức hệ, về bản ngã; vào văn hóa, bản sắc… Riêng đề tài chiến tranh và hậu chiến còn được khai thác nhiều, đương nhiên cũng ở góc nhìn “có độ lùi” về thời gian. Tâm thế thời đại cũng thay đổi, với tất cả.

Có thể thấy, Dạ Ngân trước sau viết về những điều bình thường của đời sống quanh mình, về chính mình- người phụ nữ bị cuốn vào cuộc chiến rồi hậu chiến; về thế hệ mình; về tình yêu, gia đình, những nỗi niềm, trắc ẩn trong cuộc sống; về thiên chức làm mẹ, làm vợ… Nói chung, những va đập trực tiếp vào “cái tôi” bị cuốn vào dòng chảy thời đại, bị động và chủ ý mỗi quan sát, tư duy, với sự am tường nhất. Bà tìm thấy cái bình thường cao sâu ngay chính từ những quan sát, những trải nghiệm sống của mình.

Cái hấp dẫn của văn Dạ Ngân không phải từ “vấn đề” nó nói, mà từ cách nói. Nên các trang viết của bà có thể đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn cuốn hút, vẫn xúc động. Chữ đã làm nên điều ấy.

Như chuyện một trung đội trưởng già dặn trận mạc được cấp vũ khí chống tăng mới là quả pháo dù, quá thích, có thể chơi giáp lá cà với bọn tăng kiêu ngạo, đã cùng mấy chiến sĩ trẻ khác tò mò “khám phá”, nó phát nổ. Tai nạn thế này không ít trong chiến tranh. Có gì đáng nói đâu giữa cuộc chiến tàn khốc những máu xương? Nhưng tiếng nổ ấy với Dạ Ngân là đáng nói, có cách nói để thành truyện ngắn Một lát cắt. Cái chết chưng hửng, cái tổn thất vô lý. Lại trong bối cảnh yên bình hiếm hoi, có thời gian để loay hoay “thán phục” người nghĩ ra loại vũ khí này, và… Hãy đọc hai mảng đối lập: “Sáng sớm hôm ấy không có máy bay trinh sát, không có bom bừa cũng không có trực thăng đổ quân. Nghe thấy tiếng không gian giãn ra thư thái. Nghe thấy tiếng cỏ reo trên cánh đồng để hoang, nghe thấy tiếng những con cá sống sót đớp mồi trong mương liếp, nghe thấy tiếng con sông thong thả rì rầm”. Và: “Một tiếng nổ. Giữa trời quang mây tạnh đã vang lên một tiếng nổ kinh hoàng. Những tiếng nổ từ người mình gây ra bao giờ cũng mồ côi, đanh và gọn như vậy. Nó báo hiệu những tổn thất thê thảm. Những chàng trai khát khao khám phá đã tan tành”. Các thứ “tiếng” của khoảng lặng trong chiến tranh và tiếng nổ “mồ côi, đanh và gọn” từ người mình gây ra, là cái hoàn chỉnh lưu dấu của chữ. Chứ không gì khác. Đôi khi một chi tiết ngang tầm một hình tượng. Và thường khi chữ quyết định giá trị chi tiết ấy!

Và đây, cảnh những người vợ lính Miền Tây, tất tả kiếm ăn, hướng về những chuyến thăm chồng nơi mặt trận: “Sáng sớm thức dậy dội phân heo xuống sông, nước đó múc lên, giặt giũ và lắng phèn nấu ăn. Không kịp chờ xem cứt người và cứt heo trên dòng chảy ấy có trôi xa chưa, ai cũng quáng quàng cơm nước để còn phóng xuống vỏ lãi về với ruộng vườn trồng tỉa thu hoạch. Chân đi như chạy, tay làm như máy, miệng nhai, để có cái vào bụng nhưng bụng thì luôn nhớ đến người đang ở rất xa”. (Vợ lính). Nhanh, gãy gọn, những câu văn có độ dồn nén đáng ngạc nhiên để theo kịp thực tế khắc nghiệt. Và bật ra tâm trạng.

Còn khi cần, nó hòa trộn các biểu hiện xốc nổi, cấn cá, và mềm mại cả quyết… Có thể nói bất kỳ trang văn nào của Dạ Ngân cũng luôn hướng tới sự thấu đáo mỗi trạng thái, tình huống, mô tả, và nhiều suy gợi. Là bởi, với bà dường như chữ như một sinh thể có đời sống của nó: nhà văn cư xử với chữ bằng sự cẩn trọng, nâng niu. Không thừa thãi, phí phạm. Nó chân xác và tinh anh nhất có thể. Nhưng thật gần gũi, thành thật với cảm xúc và không xa lạ với người đọc.

4.

Dạ Ngân có dụng công không? Có, đương nhiên. Dụng công lớn nhất là xóa dấu vết dụng công, trong bày tỏ ý mình và chữ. Cái tinh tế của Dạ Ngân trong sắc sảo, và dữ dội. Quyết liệt mà nhân tình, chính trực. Dấu ấn của gái thời loạn chăng: mười bốn tuổi đã ngấm đủ những ly tan, lăn lộn cùng chiến cuộc? Hay tính cách người Miền Tây ngay thật, hòa ái, trượng nghĩa?

Có lẽ bà gần gũi và yêu tự nhiên, được nuôi dưỡng trong bầu dưỡng khí miệt vườn từ nhỏ: sắc mạ đẹp mê tơi, những cây ổi trong vườn hương hỏa, mênh mang sông nước, những khóm lục bình, những chiếc vỏ lãi, bao nhiêu con vật thân thiết: chó, mèo, le le, rồi bầy trâu rừng, đàn sư tử, con linh cẩu trên ti vi, cả con cóc xấu xí… Và cái nôi miệt vườn ấy được ông nội - một lưu dân gốc gác từ Bình Định - dắt dìu, ngấm đẫm sự hàm ơn đất mới: “Ông nhắc nhở: phù sa kia mới đáng ham thích, phù sa là kho báu, phù sa là ngọn nguồn, con người chỉ có thể đắp đập, đặt bộng, lên liếp, be bờ chứ không tự làm ra được phù sa, vì vậy mà con người cần phải tri ân trời đất chứ đừng có hờn trách, lại càng không được kêu ca, oán thán”. (Nước chum). Hay cúi xuống, để tri nhận sâu xa từ một sinh linh lành hiền như con cóc: “Lắm lúc ngồi viết bỗng thấy có một chiếc lưỡi nhỏ đang dọn muỗi dưới chân mình, êm ái, dễ chịu một cách kỳ lạ. Đưa tay đỡ cóc lên, nhìn vào đôi mắt hiền từ của nó, chợt hiểu vì sao ông trời còn phải sợ. Vì nó quá hiền, chưa thấy cóc hại ai, trừ lũ muỗi. Hiền như cóc mà phải nổi giận tức là ông trời cũng nhiều lúc tác oai tác quái lắm”. (Con cóc ở hốc nhà).

Đọc Dạ Ngân để tin yêu điều thiện, cái đẹp, cái cao cả: “Đã từng biết trên mây xốp là trời xanh thông thống, mọi ý niệm về trời về Thượng đế đều dễ lung lay, thậm chí ngoái nhìn từ ngoài bầu khí quyển thì quả đất quá mong manh. Thế nhưng mây trắng ở Chùa Đồng lại khiến ta tin trời cao đất dày và có sự gột rửa”. (Chỗ tin yêu). Và đau đớn, phẫn nộ, khi con người cư xử với đồng loại, với thiên nhiên tệ mạt: “Đó là màu xanh của xã hội ăn chơi, mươi héc-ta đất chỉ để phục vụ một nhúm người, hạ dân không được bén mảng đến. Không hiểu vì sao đất của mạ lại dễ dàng biến thành đất của cỏ golf, dễ dàng đến mức ai cũng nghi ngờ sao người ta vẫn cần gạo và cơm mà lại nhục mạ đất đai như vậy?” (Nhớ mạ). v.v…

Tôi không có ý lý giải căn nguyên nào hình thành nét riêng biệt chữ nghĩa của nhà văn - việc bất khả và vô ích - nhưng tin rằng người nào yêu thiên nhiên bằng máu thịt và sự thấu hiểu, một tình yêu bất vụ lợi, hẳn đủ điềm tĩnh để tìm thấy những dung hòa tự nhiên nhất trong ứng xử. Kể cả với chữ. Thiên nhiên khác biệt nhưng theo quy luật, không cường điệu, không làm dáng. Chữ cũng vậy, tự tại và không khoe khoang.

Có nhà văn làm ta nể nang về độ uyên bác. Có nhà văn khiến ta kính trọng về nhân cách, về độ dũng. Có nhà văn khiến ta choáng ngợp vì quá gần với Thượng đế những sự thấu suốt lớn lao… Có nhà văn gợi trong ta lòng yêu mến. Chữ quyết định niềm yêu.

Tôi nghĩ, trang văn Dạ Ngân - dù viết thể loại nào, đề tài nào - đã chinh phục nhiều tạng độc giả, trước hết từ những con chữ điềm đạm ấm sáng và minh tuệ của bà.

Nguồn Văn nghệ số 40/2021

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm