TIN TỨC

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-21 20:18:34
mail facebook google pos stwis
2796 lượt xem

TRÚC LINH LAN

(Đọc Nắng dắt mùa đi, thơ Hà Kim Quy, NXB Hội Nhà văn, 2022)
 

“Còn đêm nay nữa cuối cùng

Tay trong tay giữa ngập ngừng ở, đi

Thôi đừng dang díu làm chi

Thương nhau đi, ở… lỡ thì vẫn thương”

(trang 72)

Nhà thơ Hà Kim Quy quê Nam Định. Vài dòng thông tin ít ỏi về chị cùng với tập thơ đầu tay gồm 45 bài thơ phần lớn theo thể tự do không gò bó số câu số chữ…Một số bài nói về làng quê, về bà… rất cảm động. Đặc biệt những bài thơ nói về tình yêu gây ấn tượng bởi kết cấu cũng như xây dựng nhân vật trữ tình trong thơ cũng khá độc đáo, khác lạ. Nhà thơ Hà Kim Quy tuy tôi không quen, không biết mặt ngoài đời và cũng chưa lần đọc được thơ chị đăng đâu đó nhưng tôi cảm với tâm thế của một người làm thơ tìm ra cung thương đồng điệu. Xin lá bùa yêu làm con đò chữ nghĩa giải mã những câu thơ nghịch lý thú vị trong bài “Bùa yêu” và đi vào khu vườn đầy nắng, gió và đầy lá rụng để cùng nhà thơ nữ xinh đẹp này đi tìm “lá bùa yêu” khi mà nhà thơ hoang mang, rối rắm trước ngã rẽ cuộc tình: “Em chọn lối nào đi về phía anh/Khi nắng chiều rơi hoàng hôn rực cháy/Trong trăm ngả dọc ngang hoang hoải ấy/Biết lối nào thu

cất lá bùa yêu?” (Lối nào cất bùa yêu – tr.31). Một dấu chấm hỏi hàm ý trả lời, nếu biết thì nắng không dắt được mùa đi! Lá bùa yêu ấy vẫn còn bí mật từ những nghìn năm trước rồi. Các bậc tiền bối xưa vẫn loay hoay đi tìm “lá bùa yêu” ấy mà viết lên nghìn bài thơ tình diễm lệ. Tôi không có gì phải ngạc nhiên khi nàng thơ với những lời thú nhận ngọt ngào:

“Anh, mùa thu cho lòng em rạo rực

Xao xuyến, bâng khuâng khi gió lạnh sương chiều

Anh, bầu trời xanh dịu dàng trong trẻo

Để em gửi vào những khao khát thương yêu”

(Mùa anh- tr.14)

Hình như Nhà thơ Hà Kim Quy muốn làm một chứng nhân các cuộc tình, những chủ thể trong thơ có “anh” với một khu vườn tình ái, một cây tương tư và một người đàn bà ươm nắng cần mẫn siêng năng “Bên những mầm cây tình nhân”, của những đa đoan qua hình ảnh “người đàn bà xâu nỗi buồn thành thơ”; “Làm mẹ đơn thân/Chị như gió chông chênh/Đắng cay xâu thành chuổi hạt/Dệt vào thơ/Lung linh nỗi đời”; hay “Người đàn bà xây lâu đài thơ” trên căn gác nhỏ của mình. Và cứ thế nhà thơ quan sát tinh tế những cung bậc cảm xúc từ bao phía. Vậy phía nào là của chính mình để góp nhặt thành một tập thơ “Nắng dắt mùa đi”? Mùa này có phải là các mùa trong thiên nhiên không? Chúng ta khoan khám phá điều này mà hãy cùng tôi nhìn một hình ảnh thật lãng mạn, gợi cho bạn yêu thơ những liên tưởng những cảm nhận thú vị rất dễ thương:

Em gối đầu vào thơ anh trong giấc ngủ

Những con chữ

Chợt vang như những phím dương cầm

Phím nói lời yêu dịu ngọt êm đềm

Phím gợi nhớ thương thổn thức

Phím vang lên cung trầm

Như tan vào mê đắm

Phím của trái cấm mùa yêu”

(Đêm cài khuy xanh – tr.40)

“Những con chữ”, “Phím dương cầm|” như được nhà thơ thổi vào đó những cảm xúc dồn dập qua điệp từ đầu câu “phím nói…”; “phím gợi…”, “phím vang...” bao trùm lên ý thơ nghe được sự va chạm mãnh liệt của nỗi khát khao và độ rung của cung bậc trầm bổng, sự nhớ nhung khắc khoải ngân lên trong trái tim người đàn bà đang yêu “Như tan vào mê đắm”. Hình như nàng mơ đang lạc vào vườn địa đàng và bản nhạc nàng đang nghe trong giấc mơ được dạo lên từ “Phím của trái cấm tình yêu”. Để rồi khi:” Giấc mơ/Bốc hơi theo ngùn ngụt nắng” để lại trong lòng nhà thơ những tiếc nuối muốn níu kéo nhưng đã xa mất rồi. Tôi đọc bài thơ nhiều lần vẫn chưa hiểu hết ý của câu kết bài thơ cũng là tựa bài thơ “Đêm cài khuy xanh”. Có lẽ nàng tan theo phím đàn với những mê đắm cuồn cuộn dòng chảy của yêu viết lên ngôn từ, hình ảnh câu chữ mang tầng tầng ngữ nghĩa cảm xúc? Điều này làm cho thơ của Hà Kim Quy mở ra những liên tưởng bất ngờ thú vị chăng? làm tôi chợt nhớ câu nói của Philippe Bailey: “Ngọt ngào nhất là tình yêu, cay đắng nhất cũng là tình yêu”: nhưng nó ngọt khi nào? Đắng khi nào và trở thành ly rượu độc khi nào? Phụ nữ chúng ta chưa thấu đáo hết, vẫn hồn nhiên, ngây thơ một cách đáng yêu, hình như biết hết nhưng giả vờ không biết: “Em vẫn biết mùa thu không mãi mãi/Phía sau anh bao rét buốt đông về/Em vẫn biết một mai mùa đi hết/Ngọn lửa nào hong nổi giấc mơ?” (tr.14). Shakespeare đã đúc kết: “Phụ nữ yêu bằng đôi tai, còn đàn ông một khi đã yêu thì sẽ yêu bằng đôi mắt” Vì vậy biết rằng “Ly rượu tình yêu ngọt mà đắng/Hai người uống thì ngọt ngào, ba người uống thì chua cay. Còn tự nhiên uống thì ngộ độc” (Tao Xinhzhi) nhưng vẫn uống mới hay chứ! Tôi thấy người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy như một bến chờ con thuyền quay về hay một sân ga chờ con tàu không bao giờ ghé lại!: nàng cứ thơ thẩn đi tìm “Mùa ngâu về sao em chẳng thấy/Giọt mưa nào tràn mi”; “Mây nhiều thế sao chẳng làm mưa nữa/Bắc nhịp cầu cho đôi lứa gần nhau”. Để rổi nàng băn khoăn: “ Hay Chức Nữ bây giờ về đâu/Liệu Ngưu Lang có thay lòng đổi dạ/Em chẳng hiểu vì sao lại thế/Có lẽ nào thu cũng khát mùa yêu?” nên tôi cảm thấy thú vị như nhà thơ Trần Mai Hường nói về mình:”Định cư ở lưng chừng trời”. Hình như các nhà thơ chúng ta đều thế nhỉ? Và cũng không ngạc nhiên khi nàng giải bày:

“Em thả nỗi buồn

                      bay thành ngôi sao xa xôi

Anh cứ mải mê tìm kiếm hoài

                      nỗi buồn em trên cát”

Nỗi buồn nàng thả bay lên thành ngôi sao đã cao ngút ngàn, còn chàng thì lại đi kiếm tìm trên cát. An ủi cho nàng là chàng có đi kiếm mà tìm trật địa chỉ, kết thúc cuộc tình thành hai đường thằng song song: “Nên suốt đời chẳng bao giờ có thể/ Bến bờ xa gặp mặt được tinh cầu…” (Lệ biển – tr.29). Nghe mà đứt ruột nhưng đành chịu thôi vì tình yêu nó lạ lắm. Nhà thơ tình Xuân Diệu đã đúc kết kinh nghiệm gửi bạn yêu thơ: “Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều song nhận được bao nhiêu/Người ta phụ bạc hoặc thờ ơ không biết”. Tôi tâm đắc với điều mà nàng thơ đã hiểu ra: “Có bao nhiêu ngả con đường/Ai người gặp được yêu thương trong đời?/Thế gian hơn bảy tỉ người/Chiều nay chẳng có ai cười với tôi” (Chạm – tr.49)… Đọc bài thơ Bức Tường của chị, tôi rất thích, chị so sánh:

Đàn bà như bức tranh

Treo trên bức tường cuộc đời

Dù buồn hay vui      

               bức tranh lúc nào cũng đẹp

Chiếc đinh hiểu nỗi đau âm thầm của bức tường

Nhói buốt”

Người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy dịu dàng, đôn hậu, khoan  dung và chung thủy: “Biết mùa thu sẽ ngập ngừng qua hết/Cũng như anh chẳng thể quay về/Tình em cứ rộn ràng bờ bãi/Trải lòng vàng dang díu một đời mê” (Mùa anh – tr.15) chị trách cứ nhẹ nhàng, luôn tìm nguyên nhân không gian thời gian để tha thứ và tự giải mã cho mình mọi ẩn số cô đơn, khắc khoải cả sự thấu hiểu tận cùng mọi nỗi đau xung quanh mình, trái tim mình, buồn nhưng không bi lụy, than thở, vẫn tự tin, vẫn kiêu hãnh là chính mình. Zayn Mailk đã nói gì nhỉ? “Bạn chưa tìm được hoàng tử không có nghĩa bạn không phải là một công chúa”. Tôi thích phong cách này của chị. “Có thể anh đến hoặc không đến/Em vẫn lăn hạt đi qua mùa thương nhớ/Mong ngày tái sinh gặp gỡ/hạt lại nứt vỏ, nảy mầm yêu” (Chuỗi ngọc tình yêu – tr.90)… “Cách ví von của nhà thơ nữ này rất tinh tế nàng là nắng, mưa, cuồng phong…Nắng sẽ mất dần đi khi đêm về, mưa rồi sẽ tạnh, cuồng phong rồi sẽ tan…Không ai cầm được nắng, mưa hay gió bão. Riêng chàng lại là tờ lịch cuối, xếp vào nàng tháng ngày rồi khi chẳng còn tờ lịch cũ trong lòng nàng vẫn là chiếc lá thắm đậu vào lòng đất em vẹn nguyên….Tôi đọc khá nhiều tập thơ của các nhà thơ nữ, thường nói về nỗi nhớ, chờ mong, cô đơn, trách móc của chủ thể trữ tình là “nàng”. Riêng nhà thơ Hà Kim Quy lại có những bài thơ mang tâm trạng nhân vật trữ tình là “anh”. Tôi trộm nghĩ nhà thơ muốn thử đổi giới tính hay sao? Nhưng tôi chợt nhớ lời dẫn của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm của ba học giả Mỹ: Sylvan Barnet, Marten Berman, William Burto nhận định về thơ trữ tình: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ nói với chính mình”. Tôi đang nghe trộm nàng thơ Hà Kim Quy thì thầm: đâu phải chỉ có phái đẹp mình biết buồn, nhớ… vì yêu đâu nghen, các ông cũng tương tư, thất tình, cũng cô đơn đâu thua gì bọn đàn bà chúng mình, vì mình là một nửa làm đầy thế giới thế, làm vầng trăng khuyết lại tròn đầy…Thế là nàng thơ dẫn ra một loạt làm minh chứng, thật sảng khoái khi đọc câu thơ ta hình dung một gã đàn ông thất tình ngồi ở bến sông

Có nhà phê bình trẻ đã nhận định rằng: “Tình yêu là bến đỗ bình yên của phụ nữ. Bởi phụ nữ sinh ra là để yêu” (Nguyễn Văn Hòa – Mạch đời chảy mãi –tr.90). Tôi nhìn thấy các nụ cười tươi rói của các nàng đi qua trang thơ. Cài một bông cúc họa mi lên mái tóc lắng nghe: “Có phải em – thiên sứ của mùa đông/Chẳng cất tiếng mà sao nghe thánh thót/Chỉ gọi tên đã ngân nga từng giọt/Từng giọt thả vào ấm áp cả mùa đông”(Những nốt nhạc mùa đông – tr.93) Ôi ngọt ngào quá đỗi: “Em là câu kinh/xuyên qua đời tôi rửa sạch bụi trần/Lòng tôi hóa thành hạt mưa trong vắt” Nàng cảm thấy mình quan trọng nha: “Em chợt đến vội vàng như cơn gió/Thổi hồn tôi – chiếc lá nhỏ trên cành/Những yêu thương bừng nhen rồi ở lại/Cây trào dâng nhựa sống mong manh” và thương nhất là câu này: “Đừng vô tình làm cây đau thêm nữa/Để lá vàng thanh thản tự nhiên rơi”. Đôi lúc cho chàng cảm giác chờ đợi cũng là hạnh phúc: “Em có đến như là em đã hứa? Phía trời kia ai ngóng đợi ta về? (Vu vơ – tr.77): “Phía không em cứ bồi hồi trăn trở/Bằng lăng tím hoài/thương nhớ phía người đi”…Khi tiễn nàng đi lấy chồng: “Nhắc về người ấy sang sông

Mang theo cả mối tình không bến bờ

Anh ngồi nhặt những vần thơ

Đợi em đến để giải bùa kiếp sau”

(Bùa yêu – tr.13)

Đợi kiếp sau chắc hơi lâu. Mà kiếp sau chưa chắc gì gặp lại nên mang yếu tố mộng ảo phù du. À thì ra nàng hay chàng nỗi khắc khoải, hay nhớ nhung không kém nhau đâu. Rồi họ sẽ tìm gặp nhau thôi: “Phiến đêm giàn giụa hơi sương/Hồn ta chạm phải cô đơn một người” (Chạm- tr.49). Để cả hai tâm hồn cô đơn cùng nhìn về một hướng biết trân trọng nâng niu nắm lấy thời gian ngắn ngủi: “Chỉ còn lại một ngày/Như ngàn năm đã hẹn/Có một ngày/ Mây núi ở trong nhau” (Thơ tình của núi – tr.85). Có chàng hát du ca cho nàng nghe, cùng đón bình minh tới…để nhận sự ấm áp khi ta bắt gặp hình ảnh hai người nắm tay nhau đi qua cánh đồng băng giá hay một người đàn bà nhỏ xinh bên những mầm cây tình nhân: “Em gieo hạt đợi hoa nhắc anh về”. Yêu thế không biết! Không cần đợi đến kiếp sau. Kiếp này có nàng đến để giải bùa rồi.

    Tôi bước ra khỏi khu vườn thơ còn nuối tiếc vì chưa tìm ra chỗ cất bùa yêu và còn nhiều bài thơ mình chưa đọc hết, tôi dành để lại cho “một nửa mùa thu làm lấy”. Tờ lịch cuối của tháng tám rơi rồi. Mùa thu đang dần đến lên từng chiếc lá vàng rơi. Tập thơ “Nắng dắt mùa đi” của Hà Kim Quy, chị nói rất nhiều về mùa thu, về tình yêu bằng ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh, trong sáng, tinh tế. Mỗi bài thơ là một chiếc lá thu mang linh hồn riêng rất kiêu hãnh, tự tin cũng rất dịu dàng. Tuy tập thơ đầu tay nhưng tôi tin khi đi hết khu vườn thơ của chị bạn yêu thơ cảm thấy ngọt và say.

“Em sợ một ngày nỗi nhớ ngủ quên

Ta chẳng nhớ nổi tên mình được nữa

Nỗi nhớ có bay đi mất

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em?

(Điều gì ở lại – tr.65)

Tôi tin rằng hương tình yêu trong “Nắng dắt mùa đi” của nhà thơ nữ Hà Kim Quy sẽ ở lại với bạn yêu thơ. Vì nhà thơ Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” đã nói với chúng ta: “Làm sao sống được mà không yêu/Không nhớ không thương một kẻ nào”.

2/9/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm