TIN TỨC

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-21 20:18:34
mail facebook google pos stwis
2439 lượt xem

TRÚC LINH LAN

(Đọc Nắng dắt mùa đi, thơ Hà Kim Quy, NXB Hội Nhà văn, 2022)
 

“Còn đêm nay nữa cuối cùng

Tay trong tay giữa ngập ngừng ở, đi

Thôi đừng dang díu làm chi

Thương nhau đi, ở… lỡ thì vẫn thương”

(trang 72)

Nhà thơ Hà Kim Quy quê Nam Định. Vài dòng thông tin ít ỏi về chị cùng với tập thơ đầu tay gồm 45 bài thơ phần lớn theo thể tự do không gò bó số câu số chữ…Một số bài nói về làng quê, về bà… rất cảm động. Đặc biệt những bài thơ nói về tình yêu gây ấn tượng bởi kết cấu cũng như xây dựng nhân vật trữ tình trong thơ cũng khá độc đáo, khác lạ. Nhà thơ Hà Kim Quy tuy tôi không quen, không biết mặt ngoài đời và cũng chưa lần đọc được thơ chị đăng đâu đó nhưng tôi cảm với tâm thế của một người làm thơ tìm ra cung thương đồng điệu. Xin lá bùa yêu làm con đò chữ nghĩa giải mã những câu thơ nghịch lý thú vị trong bài “Bùa yêu” và đi vào khu vườn đầy nắng, gió và đầy lá rụng để cùng nhà thơ nữ xinh đẹp này đi tìm “lá bùa yêu” khi mà nhà thơ hoang mang, rối rắm trước ngã rẽ cuộc tình: “Em chọn lối nào đi về phía anh/Khi nắng chiều rơi hoàng hôn rực cháy/Trong trăm ngả dọc ngang hoang hoải ấy/Biết lối nào thu

cất lá bùa yêu?” (Lối nào cất bùa yêu – tr.31). Một dấu chấm hỏi hàm ý trả lời, nếu biết thì nắng không dắt được mùa đi! Lá bùa yêu ấy vẫn còn bí mật từ những nghìn năm trước rồi. Các bậc tiền bối xưa vẫn loay hoay đi tìm “lá bùa yêu” ấy mà viết lên nghìn bài thơ tình diễm lệ. Tôi không có gì phải ngạc nhiên khi nàng thơ với những lời thú nhận ngọt ngào:

“Anh, mùa thu cho lòng em rạo rực

Xao xuyến, bâng khuâng khi gió lạnh sương chiều

Anh, bầu trời xanh dịu dàng trong trẻo

Để em gửi vào những khao khát thương yêu”

(Mùa anh- tr.14)

Hình như Nhà thơ Hà Kim Quy muốn làm một chứng nhân các cuộc tình, những chủ thể trong thơ có “anh” với một khu vườn tình ái, một cây tương tư và một người đàn bà ươm nắng cần mẫn siêng năng “Bên những mầm cây tình nhân”, của những đa đoan qua hình ảnh “người đàn bà xâu nỗi buồn thành thơ”; “Làm mẹ đơn thân/Chị như gió chông chênh/Đắng cay xâu thành chuổi hạt/Dệt vào thơ/Lung linh nỗi đời”; hay “Người đàn bà xây lâu đài thơ” trên căn gác nhỏ của mình. Và cứ thế nhà thơ quan sát tinh tế những cung bậc cảm xúc từ bao phía. Vậy phía nào là của chính mình để góp nhặt thành một tập thơ “Nắng dắt mùa đi”? Mùa này có phải là các mùa trong thiên nhiên không? Chúng ta khoan khám phá điều này mà hãy cùng tôi nhìn một hình ảnh thật lãng mạn, gợi cho bạn yêu thơ những liên tưởng những cảm nhận thú vị rất dễ thương:

Em gối đầu vào thơ anh trong giấc ngủ

Những con chữ

Chợt vang như những phím dương cầm

Phím nói lời yêu dịu ngọt êm đềm

Phím gợi nhớ thương thổn thức

Phím vang lên cung trầm

Như tan vào mê đắm

Phím của trái cấm mùa yêu”

(Đêm cài khuy xanh – tr.40)

“Những con chữ”, “Phím dương cầm|” như được nhà thơ thổi vào đó những cảm xúc dồn dập qua điệp từ đầu câu “phím nói…”; “phím gợi…”, “phím vang...” bao trùm lên ý thơ nghe được sự va chạm mãnh liệt của nỗi khát khao và độ rung của cung bậc trầm bổng, sự nhớ nhung khắc khoải ngân lên trong trái tim người đàn bà đang yêu “Như tan vào mê đắm”. Hình như nàng mơ đang lạc vào vườn địa đàng và bản nhạc nàng đang nghe trong giấc mơ được dạo lên từ “Phím của trái cấm tình yêu”. Để rồi khi:” Giấc mơ/Bốc hơi theo ngùn ngụt nắng” để lại trong lòng nhà thơ những tiếc nuối muốn níu kéo nhưng đã xa mất rồi. Tôi đọc bài thơ nhiều lần vẫn chưa hiểu hết ý của câu kết bài thơ cũng là tựa bài thơ “Đêm cài khuy xanh”. Có lẽ nàng tan theo phím đàn với những mê đắm cuồn cuộn dòng chảy của yêu viết lên ngôn từ, hình ảnh câu chữ mang tầng tầng ngữ nghĩa cảm xúc? Điều này làm cho thơ của Hà Kim Quy mở ra những liên tưởng bất ngờ thú vị chăng? làm tôi chợt nhớ câu nói của Philippe Bailey: “Ngọt ngào nhất là tình yêu, cay đắng nhất cũng là tình yêu”: nhưng nó ngọt khi nào? Đắng khi nào và trở thành ly rượu độc khi nào? Phụ nữ chúng ta chưa thấu đáo hết, vẫn hồn nhiên, ngây thơ một cách đáng yêu, hình như biết hết nhưng giả vờ không biết: “Em vẫn biết mùa thu không mãi mãi/Phía sau anh bao rét buốt đông về/Em vẫn biết một mai mùa đi hết/Ngọn lửa nào hong nổi giấc mơ?” (tr.14). Shakespeare đã đúc kết: “Phụ nữ yêu bằng đôi tai, còn đàn ông một khi đã yêu thì sẽ yêu bằng đôi mắt” Vì vậy biết rằng “Ly rượu tình yêu ngọt mà đắng/Hai người uống thì ngọt ngào, ba người uống thì chua cay. Còn tự nhiên uống thì ngộ độc” (Tao Xinhzhi) nhưng vẫn uống mới hay chứ! Tôi thấy người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy như một bến chờ con thuyền quay về hay một sân ga chờ con tàu không bao giờ ghé lại!: nàng cứ thơ thẩn đi tìm “Mùa ngâu về sao em chẳng thấy/Giọt mưa nào tràn mi”; “Mây nhiều thế sao chẳng làm mưa nữa/Bắc nhịp cầu cho đôi lứa gần nhau”. Để rổi nàng băn khoăn: “ Hay Chức Nữ bây giờ về đâu/Liệu Ngưu Lang có thay lòng đổi dạ/Em chẳng hiểu vì sao lại thế/Có lẽ nào thu cũng khát mùa yêu?” nên tôi cảm thấy thú vị như nhà thơ Trần Mai Hường nói về mình:”Định cư ở lưng chừng trời”. Hình như các nhà thơ chúng ta đều thế nhỉ? Và cũng không ngạc nhiên khi nàng giải bày:

“Em thả nỗi buồn

                      bay thành ngôi sao xa xôi

Anh cứ mải mê tìm kiếm hoài

                      nỗi buồn em trên cát”

Nỗi buồn nàng thả bay lên thành ngôi sao đã cao ngút ngàn, còn chàng thì lại đi kiếm tìm trên cát. An ủi cho nàng là chàng có đi kiếm mà tìm trật địa chỉ, kết thúc cuộc tình thành hai đường thằng song song: “Nên suốt đời chẳng bao giờ có thể/ Bến bờ xa gặp mặt được tinh cầu…” (Lệ biển – tr.29). Nghe mà đứt ruột nhưng đành chịu thôi vì tình yêu nó lạ lắm. Nhà thơ tình Xuân Diệu đã đúc kết kinh nghiệm gửi bạn yêu thơ: “Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều song nhận được bao nhiêu/Người ta phụ bạc hoặc thờ ơ không biết”. Tôi tâm đắc với điều mà nàng thơ đã hiểu ra: “Có bao nhiêu ngả con đường/Ai người gặp được yêu thương trong đời?/Thế gian hơn bảy tỉ người/Chiều nay chẳng có ai cười với tôi” (Chạm – tr.49)… Đọc bài thơ Bức Tường của chị, tôi rất thích, chị so sánh:

Đàn bà như bức tranh

Treo trên bức tường cuộc đời

Dù buồn hay vui      

               bức tranh lúc nào cũng đẹp

Chiếc đinh hiểu nỗi đau âm thầm của bức tường

Nhói buốt”

Người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy dịu dàng, đôn hậu, khoan  dung và chung thủy: “Biết mùa thu sẽ ngập ngừng qua hết/Cũng như anh chẳng thể quay về/Tình em cứ rộn ràng bờ bãi/Trải lòng vàng dang díu một đời mê” (Mùa anh – tr.15) chị trách cứ nhẹ nhàng, luôn tìm nguyên nhân không gian thời gian để tha thứ và tự giải mã cho mình mọi ẩn số cô đơn, khắc khoải cả sự thấu hiểu tận cùng mọi nỗi đau xung quanh mình, trái tim mình, buồn nhưng không bi lụy, than thở, vẫn tự tin, vẫn kiêu hãnh là chính mình. Zayn Mailk đã nói gì nhỉ? “Bạn chưa tìm được hoàng tử không có nghĩa bạn không phải là một công chúa”. Tôi thích phong cách này của chị. “Có thể anh đến hoặc không đến/Em vẫn lăn hạt đi qua mùa thương nhớ/Mong ngày tái sinh gặp gỡ/hạt lại nứt vỏ, nảy mầm yêu” (Chuỗi ngọc tình yêu – tr.90)… “Cách ví von của nhà thơ nữ này rất tinh tế nàng là nắng, mưa, cuồng phong…Nắng sẽ mất dần đi khi đêm về, mưa rồi sẽ tạnh, cuồng phong rồi sẽ tan…Không ai cầm được nắng, mưa hay gió bão. Riêng chàng lại là tờ lịch cuối, xếp vào nàng tháng ngày rồi khi chẳng còn tờ lịch cũ trong lòng nàng vẫn là chiếc lá thắm đậu vào lòng đất em vẹn nguyên….Tôi đọc khá nhiều tập thơ của các nhà thơ nữ, thường nói về nỗi nhớ, chờ mong, cô đơn, trách móc của chủ thể trữ tình là “nàng”. Riêng nhà thơ Hà Kim Quy lại có những bài thơ mang tâm trạng nhân vật trữ tình là “anh”. Tôi trộm nghĩ nhà thơ muốn thử đổi giới tính hay sao? Nhưng tôi chợt nhớ lời dẫn của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm của ba học giả Mỹ: Sylvan Barnet, Marten Berman, William Burto nhận định về thơ trữ tình: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ nói với chính mình”. Tôi đang nghe trộm nàng thơ Hà Kim Quy thì thầm: đâu phải chỉ có phái đẹp mình biết buồn, nhớ… vì yêu đâu nghen, các ông cũng tương tư, thất tình, cũng cô đơn đâu thua gì bọn đàn bà chúng mình, vì mình là một nửa làm đầy thế giới thế, làm vầng trăng khuyết lại tròn đầy…Thế là nàng thơ dẫn ra một loạt làm minh chứng, thật sảng khoái khi đọc câu thơ ta hình dung một gã đàn ông thất tình ngồi ở bến sông

Có nhà phê bình trẻ đã nhận định rằng: “Tình yêu là bến đỗ bình yên của phụ nữ. Bởi phụ nữ sinh ra là để yêu” (Nguyễn Văn Hòa – Mạch đời chảy mãi –tr.90). Tôi nhìn thấy các nụ cười tươi rói của các nàng đi qua trang thơ. Cài một bông cúc họa mi lên mái tóc lắng nghe: “Có phải em – thiên sứ của mùa đông/Chẳng cất tiếng mà sao nghe thánh thót/Chỉ gọi tên đã ngân nga từng giọt/Từng giọt thả vào ấm áp cả mùa đông”(Những nốt nhạc mùa đông – tr.93) Ôi ngọt ngào quá đỗi: “Em là câu kinh/xuyên qua đời tôi rửa sạch bụi trần/Lòng tôi hóa thành hạt mưa trong vắt” Nàng cảm thấy mình quan trọng nha: “Em chợt đến vội vàng như cơn gió/Thổi hồn tôi – chiếc lá nhỏ trên cành/Những yêu thương bừng nhen rồi ở lại/Cây trào dâng nhựa sống mong manh” và thương nhất là câu này: “Đừng vô tình làm cây đau thêm nữa/Để lá vàng thanh thản tự nhiên rơi”. Đôi lúc cho chàng cảm giác chờ đợi cũng là hạnh phúc: “Em có đến như là em đã hứa? Phía trời kia ai ngóng đợi ta về? (Vu vơ – tr.77): “Phía không em cứ bồi hồi trăn trở/Bằng lăng tím hoài/thương nhớ phía người đi”…Khi tiễn nàng đi lấy chồng: “Nhắc về người ấy sang sông

Mang theo cả mối tình không bến bờ

Anh ngồi nhặt những vần thơ

Đợi em đến để giải bùa kiếp sau”

(Bùa yêu – tr.13)

Đợi kiếp sau chắc hơi lâu. Mà kiếp sau chưa chắc gì gặp lại nên mang yếu tố mộng ảo phù du. À thì ra nàng hay chàng nỗi khắc khoải, hay nhớ nhung không kém nhau đâu. Rồi họ sẽ tìm gặp nhau thôi: “Phiến đêm giàn giụa hơi sương/Hồn ta chạm phải cô đơn một người” (Chạm- tr.49). Để cả hai tâm hồn cô đơn cùng nhìn về một hướng biết trân trọng nâng niu nắm lấy thời gian ngắn ngủi: “Chỉ còn lại một ngày/Như ngàn năm đã hẹn/Có một ngày/ Mây núi ở trong nhau” (Thơ tình của núi – tr.85). Có chàng hát du ca cho nàng nghe, cùng đón bình minh tới…để nhận sự ấm áp khi ta bắt gặp hình ảnh hai người nắm tay nhau đi qua cánh đồng băng giá hay một người đàn bà nhỏ xinh bên những mầm cây tình nhân: “Em gieo hạt đợi hoa nhắc anh về”. Yêu thế không biết! Không cần đợi đến kiếp sau. Kiếp này có nàng đến để giải bùa rồi.

    Tôi bước ra khỏi khu vườn thơ còn nuối tiếc vì chưa tìm ra chỗ cất bùa yêu và còn nhiều bài thơ mình chưa đọc hết, tôi dành để lại cho “một nửa mùa thu làm lấy”. Tờ lịch cuối của tháng tám rơi rồi. Mùa thu đang dần đến lên từng chiếc lá vàng rơi. Tập thơ “Nắng dắt mùa đi” của Hà Kim Quy, chị nói rất nhiều về mùa thu, về tình yêu bằng ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh, trong sáng, tinh tế. Mỗi bài thơ là một chiếc lá thu mang linh hồn riêng rất kiêu hãnh, tự tin cũng rất dịu dàng. Tuy tập thơ đầu tay nhưng tôi tin khi đi hết khu vườn thơ của chị bạn yêu thơ cảm thấy ngọt và say.

“Em sợ một ngày nỗi nhớ ngủ quên

Ta chẳng nhớ nổi tên mình được nữa

Nỗi nhớ có bay đi mất

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em?

(Điều gì ở lại – tr.65)

Tôi tin rằng hương tình yêu trong “Nắng dắt mùa đi” của nhà thơ nữ Hà Kim Quy sẽ ở lại với bạn yêu thơ. Vì nhà thơ Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” đã nói với chúng ta: “Làm sao sống được mà không yêu/Không nhớ không thương một kẻ nào”.

2/9/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm