TIN TỨC

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-21 20:18:34
mail facebook google pos stwis
2552 lượt xem

TRÚC LINH LAN

(Đọc Nắng dắt mùa đi, thơ Hà Kim Quy, NXB Hội Nhà văn, 2022)
 

“Còn đêm nay nữa cuối cùng

Tay trong tay giữa ngập ngừng ở, đi

Thôi đừng dang díu làm chi

Thương nhau đi, ở… lỡ thì vẫn thương”

(trang 72)

Nhà thơ Hà Kim Quy quê Nam Định. Vài dòng thông tin ít ỏi về chị cùng với tập thơ đầu tay gồm 45 bài thơ phần lớn theo thể tự do không gò bó số câu số chữ…Một số bài nói về làng quê, về bà… rất cảm động. Đặc biệt những bài thơ nói về tình yêu gây ấn tượng bởi kết cấu cũng như xây dựng nhân vật trữ tình trong thơ cũng khá độc đáo, khác lạ. Nhà thơ Hà Kim Quy tuy tôi không quen, không biết mặt ngoài đời và cũng chưa lần đọc được thơ chị đăng đâu đó nhưng tôi cảm với tâm thế của một người làm thơ tìm ra cung thương đồng điệu. Xin lá bùa yêu làm con đò chữ nghĩa giải mã những câu thơ nghịch lý thú vị trong bài “Bùa yêu” và đi vào khu vườn đầy nắng, gió và đầy lá rụng để cùng nhà thơ nữ xinh đẹp này đi tìm “lá bùa yêu” khi mà nhà thơ hoang mang, rối rắm trước ngã rẽ cuộc tình: “Em chọn lối nào đi về phía anh/Khi nắng chiều rơi hoàng hôn rực cháy/Trong trăm ngả dọc ngang hoang hoải ấy/Biết lối nào thu

cất lá bùa yêu?” (Lối nào cất bùa yêu – tr.31). Một dấu chấm hỏi hàm ý trả lời, nếu biết thì nắng không dắt được mùa đi! Lá bùa yêu ấy vẫn còn bí mật từ những nghìn năm trước rồi. Các bậc tiền bối xưa vẫn loay hoay đi tìm “lá bùa yêu” ấy mà viết lên nghìn bài thơ tình diễm lệ. Tôi không có gì phải ngạc nhiên khi nàng thơ với những lời thú nhận ngọt ngào:

“Anh, mùa thu cho lòng em rạo rực

Xao xuyến, bâng khuâng khi gió lạnh sương chiều

Anh, bầu trời xanh dịu dàng trong trẻo

Để em gửi vào những khao khát thương yêu”

(Mùa anh- tr.14)

Hình như Nhà thơ Hà Kim Quy muốn làm một chứng nhân các cuộc tình, những chủ thể trong thơ có “anh” với một khu vườn tình ái, một cây tương tư và một người đàn bà ươm nắng cần mẫn siêng năng “Bên những mầm cây tình nhân”, của những đa đoan qua hình ảnh “người đàn bà xâu nỗi buồn thành thơ”; “Làm mẹ đơn thân/Chị như gió chông chênh/Đắng cay xâu thành chuổi hạt/Dệt vào thơ/Lung linh nỗi đời”; hay “Người đàn bà xây lâu đài thơ” trên căn gác nhỏ của mình. Và cứ thế nhà thơ quan sát tinh tế những cung bậc cảm xúc từ bao phía. Vậy phía nào là của chính mình để góp nhặt thành một tập thơ “Nắng dắt mùa đi”? Mùa này có phải là các mùa trong thiên nhiên không? Chúng ta khoan khám phá điều này mà hãy cùng tôi nhìn một hình ảnh thật lãng mạn, gợi cho bạn yêu thơ những liên tưởng những cảm nhận thú vị rất dễ thương:

Em gối đầu vào thơ anh trong giấc ngủ

Những con chữ

Chợt vang như những phím dương cầm

Phím nói lời yêu dịu ngọt êm đềm

Phím gợi nhớ thương thổn thức

Phím vang lên cung trầm

Như tan vào mê đắm

Phím của trái cấm mùa yêu”

(Đêm cài khuy xanh – tr.40)

“Những con chữ”, “Phím dương cầm|” như được nhà thơ thổi vào đó những cảm xúc dồn dập qua điệp từ đầu câu “phím nói…”; “phím gợi…”, “phím vang...” bao trùm lên ý thơ nghe được sự va chạm mãnh liệt của nỗi khát khao và độ rung của cung bậc trầm bổng, sự nhớ nhung khắc khoải ngân lên trong trái tim người đàn bà đang yêu “Như tan vào mê đắm”. Hình như nàng mơ đang lạc vào vườn địa đàng và bản nhạc nàng đang nghe trong giấc mơ được dạo lên từ “Phím của trái cấm tình yêu”. Để rồi khi:” Giấc mơ/Bốc hơi theo ngùn ngụt nắng” để lại trong lòng nhà thơ những tiếc nuối muốn níu kéo nhưng đã xa mất rồi. Tôi đọc bài thơ nhiều lần vẫn chưa hiểu hết ý của câu kết bài thơ cũng là tựa bài thơ “Đêm cài khuy xanh”. Có lẽ nàng tan theo phím đàn với những mê đắm cuồn cuộn dòng chảy của yêu viết lên ngôn từ, hình ảnh câu chữ mang tầng tầng ngữ nghĩa cảm xúc? Điều này làm cho thơ của Hà Kim Quy mở ra những liên tưởng bất ngờ thú vị chăng? làm tôi chợt nhớ câu nói của Philippe Bailey: “Ngọt ngào nhất là tình yêu, cay đắng nhất cũng là tình yêu”: nhưng nó ngọt khi nào? Đắng khi nào và trở thành ly rượu độc khi nào? Phụ nữ chúng ta chưa thấu đáo hết, vẫn hồn nhiên, ngây thơ một cách đáng yêu, hình như biết hết nhưng giả vờ không biết: “Em vẫn biết mùa thu không mãi mãi/Phía sau anh bao rét buốt đông về/Em vẫn biết một mai mùa đi hết/Ngọn lửa nào hong nổi giấc mơ?” (tr.14). Shakespeare đã đúc kết: “Phụ nữ yêu bằng đôi tai, còn đàn ông một khi đã yêu thì sẽ yêu bằng đôi mắt” Vì vậy biết rằng “Ly rượu tình yêu ngọt mà đắng/Hai người uống thì ngọt ngào, ba người uống thì chua cay. Còn tự nhiên uống thì ngộ độc” (Tao Xinhzhi) nhưng vẫn uống mới hay chứ! Tôi thấy người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy như một bến chờ con thuyền quay về hay một sân ga chờ con tàu không bao giờ ghé lại!: nàng cứ thơ thẩn đi tìm “Mùa ngâu về sao em chẳng thấy/Giọt mưa nào tràn mi”; “Mây nhiều thế sao chẳng làm mưa nữa/Bắc nhịp cầu cho đôi lứa gần nhau”. Để rổi nàng băn khoăn: “ Hay Chức Nữ bây giờ về đâu/Liệu Ngưu Lang có thay lòng đổi dạ/Em chẳng hiểu vì sao lại thế/Có lẽ nào thu cũng khát mùa yêu?” nên tôi cảm thấy thú vị như nhà thơ Trần Mai Hường nói về mình:”Định cư ở lưng chừng trời”. Hình như các nhà thơ chúng ta đều thế nhỉ? Và cũng không ngạc nhiên khi nàng giải bày:

“Em thả nỗi buồn

                      bay thành ngôi sao xa xôi

Anh cứ mải mê tìm kiếm hoài

                      nỗi buồn em trên cát”

Nỗi buồn nàng thả bay lên thành ngôi sao đã cao ngút ngàn, còn chàng thì lại đi kiếm tìm trên cát. An ủi cho nàng là chàng có đi kiếm mà tìm trật địa chỉ, kết thúc cuộc tình thành hai đường thằng song song: “Nên suốt đời chẳng bao giờ có thể/ Bến bờ xa gặp mặt được tinh cầu…” (Lệ biển – tr.29). Nghe mà đứt ruột nhưng đành chịu thôi vì tình yêu nó lạ lắm. Nhà thơ tình Xuân Diệu đã đúc kết kinh nghiệm gửi bạn yêu thơ: “Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều song nhận được bao nhiêu/Người ta phụ bạc hoặc thờ ơ không biết”. Tôi tâm đắc với điều mà nàng thơ đã hiểu ra: “Có bao nhiêu ngả con đường/Ai người gặp được yêu thương trong đời?/Thế gian hơn bảy tỉ người/Chiều nay chẳng có ai cười với tôi” (Chạm – tr.49)… Đọc bài thơ Bức Tường của chị, tôi rất thích, chị so sánh:

Đàn bà như bức tranh

Treo trên bức tường cuộc đời

Dù buồn hay vui      

               bức tranh lúc nào cũng đẹp

Chiếc đinh hiểu nỗi đau âm thầm của bức tường

Nhói buốt”

Người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy dịu dàng, đôn hậu, khoan  dung và chung thủy: “Biết mùa thu sẽ ngập ngừng qua hết/Cũng như anh chẳng thể quay về/Tình em cứ rộn ràng bờ bãi/Trải lòng vàng dang díu một đời mê” (Mùa anh – tr.15) chị trách cứ nhẹ nhàng, luôn tìm nguyên nhân không gian thời gian để tha thứ và tự giải mã cho mình mọi ẩn số cô đơn, khắc khoải cả sự thấu hiểu tận cùng mọi nỗi đau xung quanh mình, trái tim mình, buồn nhưng không bi lụy, than thở, vẫn tự tin, vẫn kiêu hãnh là chính mình. Zayn Mailk đã nói gì nhỉ? “Bạn chưa tìm được hoàng tử không có nghĩa bạn không phải là một công chúa”. Tôi thích phong cách này của chị. “Có thể anh đến hoặc không đến/Em vẫn lăn hạt đi qua mùa thương nhớ/Mong ngày tái sinh gặp gỡ/hạt lại nứt vỏ, nảy mầm yêu” (Chuỗi ngọc tình yêu – tr.90)… “Cách ví von của nhà thơ nữ này rất tinh tế nàng là nắng, mưa, cuồng phong…Nắng sẽ mất dần đi khi đêm về, mưa rồi sẽ tạnh, cuồng phong rồi sẽ tan…Không ai cầm được nắng, mưa hay gió bão. Riêng chàng lại là tờ lịch cuối, xếp vào nàng tháng ngày rồi khi chẳng còn tờ lịch cũ trong lòng nàng vẫn là chiếc lá thắm đậu vào lòng đất em vẹn nguyên….Tôi đọc khá nhiều tập thơ của các nhà thơ nữ, thường nói về nỗi nhớ, chờ mong, cô đơn, trách móc của chủ thể trữ tình là “nàng”. Riêng nhà thơ Hà Kim Quy lại có những bài thơ mang tâm trạng nhân vật trữ tình là “anh”. Tôi trộm nghĩ nhà thơ muốn thử đổi giới tính hay sao? Nhưng tôi chợt nhớ lời dẫn của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm của ba học giả Mỹ: Sylvan Barnet, Marten Berman, William Burto nhận định về thơ trữ tình: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ nói với chính mình”. Tôi đang nghe trộm nàng thơ Hà Kim Quy thì thầm: đâu phải chỉ có phái đẹp mình biết buồn, nhớ… vì yêu đâu nghen, các ông cũng tương tư, thất tình, cũng cô đơn đâu thua gì bọn đàn bà chúng mình, vì mình là một nửa làm đầy thế giới thế, làm vầng trăng khuyết lại tròn đầy…Thế là nàng thơ dẫn ra một loạt làm minh chứng, thật sảng khoái khi đọc câu thơ ta hình dung một gã đàn ông thất tình ngồi ở bến sông

Có nhà phê bình trẻ đã nhận định rằng: “Tình yêu là bến đỗ bình yên của phụ nữ. Bởi phụ nữ sinh ra là để yêu” (Nguyễn Văn Hòa – Mạch đời chảy mãi –tr.90). Tôi nhìn thấy các nụ cười tươi rói của các nàng đi qua trang thơ. Cài một bông cúc họa mi lên mái tóc lắng nghe: “Có phải em – thiên sứ của mùa đông/Chẳng cất tiếng mà sao nghe thánh thót/Chỉ gọi tên đã ngân nga từng giọt/Từng giọt thả vào ấm áp cả mùa đông”(Những nốt nhạc mùa đông – tr.93) Ôi ngọt ngào quá đỗi: “Em là câu kinh/xuyên qua đời tôi rửa sạch bụi trần/Lòng tôi hóa thành hạt mưa trong vắt” Nàng cảm thấy mình quan trọng nha: “Em chợt đến vội vàng như cơn gió/Thổi hồn tôi – chiếc lá nhỏ trên cành/Những yêu thương bừng nhen rồi ở lại/Cây trào dâng nhựa sống mong manh” và thương nhất là câu này: “Đừng vô tình làm cây đau thêm nữa/Để lá vàng thanh thản tự nhiên rơi”. Đôi lúc cho chàng cảm giác chờ đợi cũng là hạnh phúc: “Em có đến như là em đã hứa? Phía trời kia ai ngóng đợi ta về? (Vu vơ – tr.77): “Phía không em cứ bồi hồi trăn trở/Bằng lăng tím hoài/thương nhớ phía người đi”…Khi tiễn nàng đi lấy chồng: “Nhắc về người ấy sang sông

Mang theo cả mối tình không bến bờ

Anh ngồi nhặt những vần thơ

Đợi em đến để giải bùa kiếp sau”

(Bùa yêu – tr.13)

Đợi kiếp sau chắc hơi lâu. Mà kiếp sau chưa chắc gì gặp lại nên mang yếu tố mộng ảo phù du. À thì ra nàng hay chàng nỗi khắc khoải, hay nhớ nhung không kém nhau đâu. Rồi họ sẽ tìm gặp nhau thôi: “Phiến đêm giàn giụa hơi sương/Hồn ta chạm phải cô đơn một người” (Chạm- tr.49). Để cả hai tâm hồn cô đơn cùng nhìn về một hướng biết trân trọng nâng niu nắm lấy thời gian ngắn ngủi: “Chỉ còn lại một ngày/Như ngàn năm đã hẹn/Có một ngày/ Mây núi ở trong nhau” (Thơ tình của núi – tr.85). Có chàng hát du ca cho nàng nghe, cùng đón bình minh tới…để nhận sự ấm áp khi ta bắt gặp hình ảnh hai người nắm tay nhau đi qua cánh đồng băng giá hay một người đàn bà nhỏ xinh bên những mầm cây tình nhân: “Em gieo hạt đợi hoa nhắc anh về”. Yêu thế không biết! Không cần đợi đến kiếp sau. Kiếp này có nàng đến để giải bùa rồi.

    Tôi bước ra khỏi khu vườn thơ còn nuối tiếc vì chưa tìm ra chỗ cất bùa yêu và còn nhiều bài thơ mình chưa đọc hết, tôi dành để lại cho “một nửa mùa thu làm lấy”. Tờ lịch cuối của tháng tám rơi rồi. Mùa thu đang dần đến lên từng chiếc lá vàng rơi. Tập thơ “Nắng dắt mùa đi” của Hà Kim Quy, chị nói rất nhiều về mùa thu, về tình yêu bằng ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh, trong sáng, tinh tế. Mỗi bài thơ là một chiếc lá thu mang linh hồn riêng rất kiêu hãnh, tự tin cũng rất dịu dàng. Tuy tập thơ đầu tay nhưng tôi tin khi đi hết khu vườn thơ của chị bạn yêu thơ cảm thấy ngọt và say.

“Em sợ một ngày nỗi nhớ ngủ quên

Ta chẳng nhớ nổi tên mình được nữa

Nỗi nhớ có bay đi mất

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em?

(Điều gì ở lại – tr.65)

Tôi tin rằng hương tình yêu trong “Nắng dắt mùa đi” của nhà thơ nữ Hà Kim Quy sẽ ở lại với bạn yêu thơ. Vì nhà thơ Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” đã nói với chúng ta: “Làm sao sống được mà không yêu/Không nhớ không thương một kẻ nào”.

2/9/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm