TIN TỨC

Cửa bể Cần Giờ | Bút ký của Nguyễn Minh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-01 17:32:26
mail facebook google pos stwis
2753 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Kết thúc trại sáng tác của Liên hiệp các Hội VHNT Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xách theo chùm mầm đước to bằng ngón tay trỏ, dài chừng 25 cm, dính chút sình non của mênh mang rừng Sác, về làm kỷ niệm. Nói chính xác là mấy trái đước cong thuôn, màu xam xám, đầu to rễ đâm tua tủa, đầu nhỏ vót như mũi dùi đỏ sậm, quéo về một phía, rất điệu. Trái nẩy mầm trên cây, khi rụng thì đầu nặng xuống trước, cắm vào bùn hoặc đất nhão. Giả dụ có rơi ngang hay rơi ngửa thì rồi nó vẫn tự xoay trở bám đất, bắt rễ, ngoi lên đứng thẳng tốt tươi mà chẳng cần một sự trợ giúp nào. Kiên cường và độc lập, đước mang cốt cách của người quân tử, thanh tao, mà cứng cỏi biết nhường nào. Cây nọ nối tiếp cây kia, chen vai thích cánh mà lên xanh, nhưng không hề chèn ép, lướt át nhau, mà chỉ lấn sông lấn biển. Hiếm khi đước mọc cô lẻ, cây nọ nương vào cây kia, cứ thế chúng sinh sôi, nẩy nở, bộ rễ chân nơm bám sâu vào lòng đất, giữ và bồi đắp phù sa, tạo nên cả cánh rừng bạt ngàn đưa màu xanh tràn ra tận mí nước.

*


Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc trên tàu ra ấp Thiềng Liềng

Chợt nhớ hành trình lúc đi, tới Nghĩa trang Liệt sĩ Rừng Sác ở thị trấn Cần Thạnh, xe dừng để mọi người vào dâng hương. Nghĩa trang được tôn tạo, tu bổ đâu ra đấy, phần mộ của hàng ngàn liệt sĩ rất trang nghiêm. Đài liệt sĩ bằng đá hoa cương đen, nom tựa chiếc ngòi bút lá tre của học trò thủa trước; nhìn gần, dễ liên tưởng hình con dao găm cách điệu chĩa lên trời, một biểu tượng tinh thần anh dũng vô song của những người lính nói chung, của đặc công thủy nói riêng.

Cả đoàn di chuyển về Lăng Ông Thủy tướng. Mải mê ngắm mô hình chiếc thuyền xưa và chiếc tĩn đựng mắm, cái lu nước bằng sành bóng láng, những vật dụng lâu đời của ngư dân thủa nào, lòng tôi ắp đầy sự ngưỡng mộ các bậc tiền nhân đã có công mở cõi và giữ đất đai cho muôn đời con cháu mai sau.

Từ bến tàu Tắc Suất mỗi ngày có 2 chuyến đi và 2 chuyến về nối thị trấn Cần Thạnh với Thiềng Liềng, một trong ba ấp của xã đảo Thạnh An. Buổi sớm tinh khôi, chiếc tàu vỏ gỗ lượn giữa mênh mang sông nước, hai bên bạt ngàn đước, tầng thấp rồi tầng cao, đước nối nhau xanh miên man, quyến rũ.

Cái tên ấp gợi về thủa khai thiên lập địa. Theo các nhà tự điển có uy tín, Thiềng Liềng là từ khá cổ còn được lưu giữ trong phương ngữ Nam bộ, đọc theo âm Hán - Việt là “Thành Linh”, nói tắt của cụm từ “tâm thành tác linh”. Có lẽ đây không chỉ là một địa danh đơn thuần, mà còn như một lời nhắc nhở về phương cách sống và đối nhân xử thế.

Vòng vèo mất non tiếng đồng hồ. Lên bờ, gặp nhà dân ken thành một dãy dài ven rạch. Ở cận bến tàu là những hộ chủ yếu làm nghề đánh bắt thủy sản. Mấy người đàn ông mải mốt phơi một dãy “rập xếp”, dụng cụ bắt cá, tôm, mực… dài cỡ 4-5m.

Lên bờ, cận bến tàu bên phía tay mặt là dãy nhà thấp, chạy dài ven rạch. Các hộ sống bằng nghề đánh bắt thủy sản tập trung ở đây. Mấy người đàn ông lúi húi phơi một dãy “rập xếp”, dụng cụ bắt cá, tôm, mực… dài chừng 4-5m. Vài người đàn bà túm tụm vãn chuyện bên chậu ớt quả tím rịm. Ấp đảo bình yên đến lạ, nhà cửa không khóa bao giờ.

Toàn ấp hiện có 6 tổ nhân dân, gồm 243 nóc gia với hơn 900 nhân khẩu. Trong số này số hộ diêm dân chiếm tới 70%. Đây là vùng quy hoạch muối của thành phố, vựa muối Cần Giờ. Vụ muối chỉ diễn ra trong 6 tháng mùa khô, từ tháng 10 năm trước, đến tháng 4 năm sau. Khi chúng tôi đến, cánh đồng muối vào kỳ “nghỉ xả” cạn trơ, đây đó, từng cuộn vải bạt được xếp gọn quanh bờ. Ấp đảo có 390 ha đất sản xuất muối, vụ mùa năm 2023 đạt 17 nghìn tấn, cao hơn năm trước 3 nghìn tấn. Giá bán hiện ở mức   2.200 đồng một ký, là giá cao nhất từ trước đến nay, nên diêm dân phấn khởi. Xong vụ muối, khi mùa mưa đến, bà con chuyển sang nuôi các loại tôm, cua...

Nắng rắc rây trên đám dừa nước ong óng xanh, đem lại cảm giác trong lành, thanh sạch, dẫu dưới gốc bùn đen sệt. Dọc con đường bê tông, rộng chừng 1,2m, những ngôi nhà thấp thoáng giữa um tùm cây trái. Nào ổi, nào xoài, rồi từng chùm quả siro đỏ chon chót. Hàng so đũa lấp ló dâng quả như chào mời. Bên thẻo ruộng cạn, mơn mởn vạt rau dút non, ngỡ là cây xấu hổ, mới đụng là cánh lá khép lại thật nhanh. Hái lên mấy đọt, mềm oặt như sợi bún tưởng có thể ăn ngay được.

Nói đến Cần Giờ là nói đến rừng Sác, vùng đất cổ xưa. Theo sách “Gia Định thành thông chí” thì đầu thế kỷ XIX, Cần Giờ thuộc tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Tổng Dương Hòa có 74 thôn ấp. Về địa danh Rừng Sác, sách chép: “Từ Tam Giang Nhà Bè, xuống phía đông đến cửa Cần Giờ, phía bắc đến cửa Tắc Ký, phía tây đến Ký Giang, trong khoảng ấy có đến trăm ngàn cồn bãi, các bãi ấy đều có rừng chằm cả. Cây ở đó gọi là cây dà, đước, sú, vẹt và những cây tạp khác, rừng xanh cây rậm, tán nhánh giao nhau, che kín mặt trời. Người ta dùng những cây ấy để làm nhà cửa, rào giậu, cột cọc, than củi, không ngày nào ngớt. Còn hải sản như cá, tôm, cua, sam và ốc len thì bắt dùng không hết mà cũng không ai ngăn cấm. Ấy là chỗ chí công vô cùng của trời đất ban cho để nuôi dưỡng người dân Gia Định vậy[1].

Thời Nguyễn, Cần Giờ là một trạm kiểm soát đường biển “có cửa lạch sâu rộng, thuyền buôn ra vào yên ổn, là cửa biển tụ tập đông đúc của tỉnh Gia Định” (Đại Nam nhất thống chí). Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà cửa bể Cần Giờ trở thành “yết hầu” cả về giao thương lẫn quân sự, nơi chứng kiến sự sầm uất cũng như những trang bi thương trong lịch sử bởi các cuộc thủy chiến giữa nhà Tây Sơn với các chúa Nguyễn. Tiếp đến ngoại bang xâm lược. Sau 5 tháng bị sa lầy ở Đà Nẵng, Rigault de Genouilly liền chuyển hướng vào Nam. Tháng 2-1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dùng 8 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, lần lượt tấn công các đồn dọc sông Sài Gòn, rồi chiếm thành Gia Định… rồi thôn tính cả Nam Kỳ lục tỉnh.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Ban lãnh đạo cho nghĩa quân phân tán nhiều nơi, một số xuống rừng Sác. Nhờ có quyết định táo bạo này mà về sau, trong cả hai cuộc kháng chiến, lực lượng cách mạng đều dựa hẳn vào yếu địa, để bám trụ và đánh giặc. Với hàng trăm đảo triều lớn nhỏ, trùng điệp, và lủ khủ sản vật có sẵn từ sông nước và đất đai, rừng Sác dư thừa điều kiện để trở thành một căn cứ địa tầm cỡ. Hàng chục năm, Chiến khu Rừng Sác vẫn hiên ngang tồn tại ngay sát nách sào huyệt kẻ thù.

Sinh thời, người chỉ huy của Đoàn 10 đặc công Rừng Sác năm xưa, Đại tá Anh hùng LLVTND Lê Bá Ước có lần khều tôi, chú mầy biết hông? Nếu ví Sài Gòn như cái bao tử chiến tranh thì sông Lòng Tàu là cổ họng, sông Soài Rạp và sông Thị Vải là hai động mạch chủ. Còn nếu Ô Cấp (Vũng Tàu), Cần Giờ, Đồng Hòa, Vàm Láng là tứ nhãn ngó ra đại dương, thì rừng Sác là pháo đài xáp chiến quân xâm lược.

Nhận rõ tầm quan trọng mang tính chiến lược, từ đầu năm 1962, chính quyền Sài Gòn cho lập “Biệt khu rừng Sác” trực thuộc khu 31 chiến thuật. Năm sau, thì nâng lên thành “đặc khu” thuộc Quân khu 3 về mặt lãnh thổ, nhưng mọi hoạt động quân sự ở địa bàn hiểm yếu này đều do người Mỹ nắm quyền chỉ huy điều hành và thực hiện.

Về phía cách mạng, Đặc khu Rừng Sác (T10), được thành lập từ tháng 4-1966, chia làm hai khu. Toàn bộ khu B nằm trên địa bàn Cần Giờ. Tháng 1-1968, huyện Duyên Hải được thành lập. Địch phong tỏa, bịt chặt sông Lòng Tàu, nên cán bộ, chiến sĩ ta khó lòng vượt sông bằng ghe thuyền được, khu B gần như bị cô lập hoàn toàn. Kẻ thù dồn vũ khí và binh lực quyết “làm cỏ và lột da rừng Sác, diệt gọn đặc công Đoàn 10”. Đến năm 1971, không quân Mỹ đã rải gần 4 triệu lít chất độc khai quang (bình quân mỗi người dân ở đây hứng chịu 166,6 lít); 42.000 hecta rừng bị hủy hoại. Quá trình sưu tầm tư liệu cho cuốn sử Đoàn 10, tôi có được bản photo copy lời “tưởng thưởng” của Tổng thống Richard Nixon dành cho đội tàu tuần tra đặc khu rừng Sác, lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Bản dịch, trích đoạn: “Dành cho những anh hùng phi thường và việc thực hiện xuất sắc trong hành động chống lại kẻ thù vũ trang ở Việt Nam cộng hòa từ 24 tháng 6 năm 1969 tới 28 tháng 2 năm 1970. Trong suốt quãng thời gian ấy, đội tuần tra đặc khu rừng Sác và trên mặt sông Sài Gòn… bằng sự kết hợp với các lực lượng ở miền Nam Việt Nam, đã bắt đầu một chiến dịch độc đáo, tàn nhẫn bằng các cuộc kết hợp tác chiến phản công…”. Ngần ấy đủ để minh chứng cuộc chiến giữa các chiến sĩ đặc công thủy với kẻ thù cam go tới cỡ nào!

Sức chịu đựng của những người lính vượt quá sức tưởng tượng. Mỗi tuần, một người chỉ được vài lon nước cất từ nước mặn để gội đầu, mọi sinh hoạt còn lại đều dùng nước sông. Thiếu gạo, thiếu muối, chỉ ăn cháo loãng với rau lìm kìm, hay nhai đọt chà là dằn bụng… Đương đầu với 3 đối thủ tầm cỡ trên sông Lòng Tàu là lính Mỹ, sóng to và cá sấu dữ, suốt 9 năm ròng rã, đặc công Rừng Sác đánh 740 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 6.200 tên địch, nhấn chìm hàng trăm tàu xuồng lớn nhỏ.

Đầu tháng 12-2013, trong chương trình giao lưu nghệ thuật “Hát mãi về Anh”, truyền hình trực tiếp trên VTV9, tôi ngồi cạnh má Nguyễn Thị Trị (Hai Trầu) quê ở xã Bình Khánh, cơ sở cách mạng chí cốt của đặc công Đoàn 10. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng, má Hai Trầu được cử lên Sài Gòn trong vai người buôn chuyến, đưa trót lọt 4 chuyến dây điện theo đường 15 về giao cho đơn vị. Lần thì má buôn thùng phuy, chuyến sau lại chở trứng, hoặc dưa và khoai lang… Dây dợ được xếp từng cuộn tròn giấu dưới đáy thùng phuy hoặc dưới các giỏ cần xé đựng hàng. Nhờ có dây dẫn tốt và đủ dài, má Hai Trầu đã góp công sức lớn giúp Đoàn 10 đánh đắm tàu Baton Rouger Victory tải trọng 10.000 tấn trên sông Ngã Bảy.

Cùng dự đêm giao lưu có cựu chiến đấu viên Hồ Xuân Cảnh (ngụ ở xã Thạnh An, Cần Giờ). Ông kể, nhận lệnh cấp trên trước đó cả tháng trời, tổ trinh sát đặc công bí mật ra đào hầm bên bờ sông Lòng Tàu. Tới khi nhận tin tình báo biết chính xác lịch trình của kẻ địch, sau nhiều lần dò độ nông sâu của nước và tính toán cụ thể, ông Cảnh cùng các đồng đội (Tấn, Hiếu, Tư) vần 2 quả thủy lôi sừng chạm, mỗi quả nặng 1.075kg vào vị trí đón lõng tàu địch. Bất chấp bầy trực thăng vũ trang lồng lộn vãi đạn “dọn đường” và 4 chiếc tàu quét mìn rà cặp hai bờ, cả tổ vẫn im lìm ém kỹ.

8 giờ 15 phút ngày 23-8-1966, khi con tàu đồ sộ như tòa nhà di động sơn lá cờ 50 ngôi sao ngạo nghễ xuất hiện đúng tầm, kỹ thuật viên liền điểm hỏa. Hai tiếng nổ lộng óc, cột sóng dựng cao như núi, lửa trùm lên nhấn chìm con “thủy quái” xuống đáy sông. 100 xe tăng, 3 máy bay phản lực, hàng trăm khẩu pháo cùng hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm trên tàu bị phá hủy. Chiến công vang dội của trí thông minh, sáng tạo và lòng quả cảm vô bờ bến, đã giáng một đòn choáng váng vào mưu đồ của kẻ xâm lược! Căn cứ lòng dân Cần Giờ là điểm tựa vững chắc để bộ đội đặc công Đoàn 10 trụ vững, đánh giặc. Vậy nên không có gì lạ, khi một huyện chỉ có 7,5 vạn dân (gấp hơn 3 lần thời chiến tranh), với 7 đơn vị hành chính, đã có tới 3 xã cùng với huyện được tuyên dương Anh hùng LLVTND và 111 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

*


Ngồi thuyền vào Vàm Sát.

Nhưng ví thử, nếu chỉ biết “gậm nhấm” quá khứ hào hùng mà không biết tự lực, tự cường, vươn lên làm giàu vì lợi ích của người dân, thì phỏng có ích gì?

Là một địa phương nghèo, lại gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh, sau ngày non sông liền một dải, huyện Duyên Hải vẫn trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Rừng Sác xác xơ trơ trụi, thảm thực vật, động vật dưới tán rừng, các loài thủy sinh biến mất; hệ sinh thái môi trường bị biến đổi nghiêm trọng. Một số chuyên gia nước ngoài, trong đó có các nhà khoa học Mỹ dự báo ít nhất phải cỡ 100 năm nữa mới hy vọng phục hồi được rừng ngập mặn.

Tháng 12-1978, huyện Duyên Hải được sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh. Lo cái ăn, cái mặc tạm ổn cho dân, những người lãnh đạo nghĩ đến rừng. Thật kính nể tầm nhìn chiến lược không kém phần lãng mạn và tâm đức của ông Võ Văn Kiệt, người đứng đầu Đảng bộ thành phố lúc bấy giờ, về việc khôi phục lại rừng ngập mặn. Nó vừa giải quyết được công ăn việc làm trước mắt cho người dân, vừa hướng tới những mục tiêu cơ bản và lâu dài, tầm quốc gia. Từ việc tổ chức đi mua giống cây đước tận chót mũi Cà Mau, đến việc thành lập các nông - lâm trường để tiếp nhận giãn dân nội thành, được thực hiện đồng bộ. Huyện tổ chức ra quân trồng đước. Hàng ngàn người dân, bộ đội và thanh niên xung phong, cơm đùm, cơm nắm, lội sình, dầm nước, cắm cây đước xuống, lòng tràn trề hy vọng, “nhân định thắng thiên”. Chỉ sau 4 năm kiên trì, bền bỉ, huyện đã phủ xanh 28.000 ha rừng ngập mặn. Có rừng, môi trường được cải biến, các loài thủy hải sản, chim chóc và muông thú kéo về sinh sôi, nẩy nở. Một vùng đất chết trong chiến tranh, nay hồi sinh ngoài sức tưởng tượng của con người, trở thành một lá phổi xanh của thành phố mang tên Bác Hồ. Cuối năm 1991, huyện trở lại với tên gọi Cần Giờ.

Điều kỳ diệu là năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên ở Việt Nam. Vùng đất nghèo thay da đổi thịt từng ngày, giao thông thủy, bộ phát triển, các xã đều có điện công nghiệp, kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững, đời sống người dân ngày càng khấm khá.

Mới đây, kết quả khảo cổ về kho báu mộ chum tại di tích Giồng Cá Vồ (ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, Cần Giờ), được xác định có niên đại khoảng 2.500 năm đến trước Công nguyên, các nhà khoa học coi đây là một di tích nền hình thành nên văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam xửa xưa…

Với sự hấp dẫn nhiều mặt, trong một tương lai gần, sẽ có một cây cầu hiện đại thay cho phà Bình Khánh. Kế đến, là hai dự án lớn làm nức lòng phấn khởi của người dân. Ấy là cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ gần 6 tỷ USD và khu đô thị lấn biển hơn 9 tỷ USD, được kỳ vọng là bàn đạp để huyện đảo này thay da đổi thịt. Được biết, cảng Cần Giờ dự kiến tạo ra 8.000 việc làm, còn khu đô thị lấn biển sẽ thu hút gần 30 vạn người đến sinh sống (gấp 3 lần dân số Cần Giờ hiện tại), cùng hơn 9 triệu du khách mỗi năm. Hiện tại, dự án khu đô thị đã được Chính phủ phê duyệt, Thành phố Hồ Chí Minh đang thẩm định và điều chỉnh quy hoạch diện tích. Với bấy nhiêu thôi, thì vùng đất bom cày đạn xới năm xưa sẽ là nơi cực kỳ đáng sống! Nói một cách hình tượng thì Cần Giờ, một địa phương đến phân nửa diện tích là rừng ngập mặn, có sông, có biển và có phố thị… sẽ cất cánh. Ngắm biểu trưng chim bồ câu mang dáng hình Cần Giờ giang cánh đủ nói lên tất cả.

*

Nghe giới thiệu, sân chim Vàm Sát có khoảng 2.000 cá thể với 26 loài. Rồi cơ man nào heo rừng, mèo rừng, chồn, rái cá, trăn, rắn… cùng nhiều loài thú đã xuất hiện trên khắp các gò đất cao trong rừng ngập mặn. Cả đoàn ghé thăm đàn khỉ đuôi dài, nghe nói cả ngàn con, rồi đám cá sấu to vật...

Người nọ bám gót người kia khi lội bộ len lỏi trên con đường nhỏ lát bê tông ẩm ướt rong rêu bám đầy, xuyên dưới tán những cành đước giao nhau che kín vòm trời, miệng nhắc nhau cẩn thận, đề phòng ai đó mải ngó nghiêng, mắt dán lên cây, e trượt té. Dẫu đôi chân đặt bước nào cứ phải miết chắc nền đường, trong đầu tôi chợt nẩy câu ca dao: “Mắm trước, đước sau, tràm theo sát. Sau hàng dừa nước, mái nhà ai”.

Chị chủ nhà trạc ngoài 30 tuổi xởi lởi nhặt đưa một túm trái, bảo tôi cầm lấy, quà của rừng ngập mặn chỉ bấy nhiêu thôi… Và khi tôi viết những dòng này, thì đám mầm đước đã không “chê” đất mới, mà bám rễ, trổ lá kép và lên xanh.

Nguồn: Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN) số 35+36, ra ngày 2-9-2023

[1] Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2005, tr. 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm