TIN TỨC

Cửa bể Cần Giờ | Bút ký của Nguyễn Minh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-01 17:32:26
mail facebook google pos stwis
2360 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Kết thúc trại sáng tác của Liên hiệp các Hội VHNT Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xách theo chùm mầm đước to bằng ngón tay trỏ, dài chừng 25 cm, dính chút sình non của mênh mang rừng Sác, về làm kỷ niệm. Nói chính xác là mấy trái đước cong thuôn, màu xam xám, đầu to rễ đâm tua tủa, đầu nhỏ vót như mũi dùi đỏ sậm, quéo về một phía, rất điệu. Trái nẩy mầm trên cây, khi rụng thì đầu nặng xuống trước, cắm vào bùn hoặc đất nhão. Giả dụ có rơi ngang hay rơi ngửa thì rồi nó vẫn tự xoay trở bám đất, bắt rễ, ngoi lên đứng thẳng tốt tươi mà chẳng cần một sự trợ giúp nào. Kiên cường và độc lập, đước mang cốt cách của người quân tử, thanh tao, mà cứng cỏi biết nhường nào. Cây nọ nối tiếp cây kia, chen vai thích cánh mà lên xanh, nhưng không hề chèn ép, lướt át nhau, mà chỉ lấn sông lấn biển. Hiếm khi đước mọc cô lẻ, cây nọ nương vào cây kia, cứ thế chúng sinh sôi, nẩy nở, bộ rễ chân nơm bám sâu vào lòng đất, giữ và bồi đắp phù sa, tạo nên cả cánh rừng bạt ngàn đưa màu xanh tràn ra tận mí nước.

*


Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc trên tàu ra ấp Thiềng Liềng

Chợt nhớ hành trình lúc đi, tới Nghĩa trang Liệt sĩ Rừng Sác ở thị trấn Cần Thạnh, xe dừng để mọi người vào dâng hương. Nghĩa trang được tôn tạo, tu bổ đâu ra đấy, phần mộ của hàng ngàn liệt sĩ rất trang nghiêm. Đài liệt sĩ bằng đá hoa cương đen, nom tựa chiếc ngòi bút lá tre của học trò thủa trước; nhìn gần, dễ liên tưởng hình con dao găm cách điệu chĩa lên trời, một biểu tượng tinh thần anh dũng vô song của những người lính nói chung, của đặc công thủy nói riêng.

Cả đoàn di chuyển về Lăng Ông Thủy tướng. Mải mê ngắm mô hình chiếc thuyền xưa và chiếc tĩn đựng mắm, cái lu nước bằng sành bóng láng, những vật dụng lâu đời của ngư dân thủa nào, lòng tôi ắp đầy sự ngưỡng mộ các bậc tiền nhân đã có công mở cõi và giữ đất đai cho muôn đời con cháu mai sau.

Từ bến tàu Tắc Suất mỗi ngày có 2 chuyến đi và 2 chuyến về nối thị trấn Cần Thạnh với Thiềng Liềng, một trong ba ấp của xã đảo Thạnh An. Buổi sớm tinh khôi, chiếc tàu vỏ gỗ lượn giữa mênh mang sông nước, hai bên bạt ngàn đước, tầng thấp rồi tầng cao, đước nối nhau xanh miên man, quyến rũ.

Cái tên ấp gợi về thủa khai thiên lập địa. Theo các nhà tự điển có uy tín, Thiềng Liềng là từ khá cổ còn được lưu giữ trong phương ngữ Nam bộ, đọc theo âm Hán - Việt là “Thành Linh”, nói tắt của cụm từ “tâm thành tác linh”. Có lẽ đây không chỉ là một địa danh đơn thuần, mà còn như một lời nhắc nhở về phương cách sống và đối nhân xử thế.

Vòng vèo mất non tiếng đồng hồ. Lên bờ, gặp nhà dân ken thành một dãy dài ven rạch. Ở cận bến tàu là những hộ chủ yếu làm nghề đánh bắt thủy sản. Mấy người đàn ông mải mốt phơi một dãy “rập xếp”, dụng cụ bắt cá, tôm, mực… dài cỡ 4-5m.

Lên bờ, cận bến tàu bên phía tay mặt là dãy nhà thấp, chạy dài ven rạch. Các hộ sống bằng nghề đánh bắt thủy sản tập trung ở đây. Mấy người đàn ông lúi húi phơi một dãy “rập xếp”, dụng cụ bắt cá, tôm, mực… dài chừng 4-5m. Vài người đàn bà túm tụm vãn chuyện bên chậu ớt quả tím rịm. Ấp đảo bình yên đến lạ, nhà cửa không khóa bao giờ.

Toàn ấp hiện có 6 tổ nhân dân, gồm 243 nóc gia với hơn 900 nhân khẩu. Trong số này số hộ diêm dân chiếm tới 70%. Đây là vùng quy hoạch muối của thành phố, vựa muối Cần Giờ. Vụ muối chỉ diễn ra trong 6 tháng mùa khô, từ tháng 10 năm trước, đến tháng 4 năm sau. Khi chúng tôi đến, cánh đồng muối vào kỳ “nghỉ xả” cạn trơ, đây đó, từng cuộn vải bạt được xếp gọn quanh bờ. Ấp đảo có 390 ha đất sản xuất muối, vụ mùa năm 2023 đạt 17 nghìn tấn, cao hơn năm trước 3 nghìn tấn. Giá bán hiện ở mức   2.200 đồng một ký, là giá cao nhất từ trước đến nay, nên diêm dân phấn khởi. Xong vụ muối, khi mùa mưa đến, bà con chuyển sang nuôi các loại tôm, cua...

Nắng rắc rây trên đám dừa nước ong óng xanh, đem lại cảm giác trong lành, thanh sạch, dẫu dưới gốc bùn đen sệt. Dọc con đường bê tông, rộng chừng 1,2m, những ngôi nhà thấp thoáng giữa um tùm cây trái. Nào ổi, nào xoài, rồi từng chùm quả siro đỏ chon chót. Hàng so đũa lấp ló dâng quả như chào mời. Bên thẻo ruộng cạn, mơn mởn vạt rau dút non, ngỡ là cây xấu hổ, mới đụng là cánh lá khép lại thật nhanh. Hái lên mấy đọt, mềm oặt như sợi bún tưởng có thể ăn ngay được.

Nói đến Cần Giờ là nói đến rừng Sác, vùng đất cổ xưa. Theo sách “Gia Định thành thông chí” thì đầu thế kỷ XIX, Cần Giờ thuộc tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Tổng Dương Hòa có 74 thôn ấp. Về địa danh Rừng Sác, sách chép: “Từ Tam Giang Nhà Bè, xuống phía đông đến cửa Cần Giờ, phía bắc đến cửa Tắc Ký, phía tây đến Ký Giang, trong khoảng ấy có đến trăm ngàn cồn bãi, các bãi ấy đều có rừng chằm cả. Cây ở đó gọi là cây dà, đước, sú, vẹt và những cây tạp khác, rừng xanh cây rậm, tán nhánh giao nhau, che kín mặt trời. Người ta dùng những cây ấy để làm nhà cửa, rào giậu, cột cọc, than củi, không ngày nào ngớt. Còn hải sản như cá, tôm, cua, sam và ốc len thì bắt dùng không hết mà cũng không ai ngăn cấm. Ấy là chỗ chí công vô cùng của trời đất ban cho để nuôi dưỡng người dân Gia Định vậy[1].

Thời Nguyễn, Cần Giờ là một trạm kiểm soát đường biển “có cửa lạch sâu rộng, thuyền buôn ra vào yên ổn, là cửa biển tụ tập đông đúc của tỉnh Gia Định” (Đại Nam nhất thống chí). Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà cửa bể Cần Giờ trở thành “yết hầu” cả về giao thương lẫn quân sự, nơi chứng kiến sự sầm uất cũng như những trang bi thương trong lịch sử bởi các cuộc thủy chiến giữa nhà Tây Sơn với các chúa Nguyễn. Tiếp đến ngoại bang xâm lược. Sau 5 tháng bị sa lầy ở Đà Nẵng, Rigault de Genouilly liền chuyển hướng vào Nam. Tháng 2-1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dùng 8 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, lần lượt tấn công các đồn dọc sông Sài Gòn, rồi chiếm thành Gia Định… rồi thôn tính cả Nam Kỳ lục tỉnh.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Ban lãnh đạo cho nghĩa quân phân tán nhiều nơi, một số xuống rừng Sác. Nhờ có quyết định táo bạo này mà về sau, trong cả hai cuộc kháng chiến, lực lượng cách mạng đều dựa hẳn vào yếu địa, để bám trụ và đánh giặc. Với hàng trăm đảo triều lớn nhỏ, trùng điệp, và lủ khủ sản vật có sẵn từ sông nước và đất đai, rừng Sác dư thừa điều kiện để trở thành một căn cứ địa tầm cỡ. Hàng chục năm, Chiến khu Rừng Sác vẫn hiên ngang tồn tại ngay sát nách sào huyệt kẻ thù.

Sinh thời, người chỉ huy của Đoàn 10 đặc công Rừng Sác năm xưa, Đại tá Anh hùng LLVTND Lê Bá Ước có lần khều tôi, chú mầy biết hông? Nếu ví Sài Gòn như cái bao tử chiến tranh thì sông Lòng Tàu là cổ họng, sông Soài Rạp và sông Thị Vải là hai động mạch chủ. Còn nếu Ô Cấp (Vũng Tàu), Cần Giờ, Đồng Hòa, Vàm Láng là tứ nhãn ngó ra đại dương, thì rừng Sác là pháo đài xáp chiến quân xâm lược.

Nhận rõ tầm quan trọng mang tính chiến lược, từ đầu năm 1962, chính quyền Sài Gòn cho lập “Biệt khu rừng Sác” trực thuộc khu 31 chiến thuật. Năm sau, thì nâng lên thành “đặc khu” thuộc Quân khu 3 về mặt lãnh thổ, nhưng mọi hoạt động quân sự ở địa bàn hiểm yếu này đều do người Mỹ nắm quyền chỉ huy điều hành và thực hiện.

Về phía cách mạng, Đặc khu Rừng Sác (T10), được thành lập từ tháng 4-1966, chia làm hai khu. Toàn bộ khu B nằm trên địa bàn Cần Giờ. Tháng 1-1968, huyện Duyên Hải được thành lập. Địch phong tỏa, bịt chặt sông Lòng Tàu, nên cán bộ, chiến sĩ ta khó lòng vượt sông bằng ghe thuyền được, khu B gần như bị cô lập hoàn toàn. Kẻ thù dồn vũ khí và binh lực quyết “làm cỏ và lột da rừng Sác, diệt gọn đặc công Đoàn 10”. Đến năm 1971, không quân Mỹ đã rải gần 4 triệu lít chất độc khai quang (bình quân mỗi người dân ở đây hứng chịu 166,6 lít); 42.000 hecta rừng bị hủy hoại. Quá trình sưu tầm tư liệu cho cuốn sử Đoàn 10, tôi có được bản photo copy lời “tưởng thưởng” của Tổng thống Richard Nixon dành cho đội tàu tuần tra đặc khu rừng Sác, lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Bản dịch, trích đoạn: “Dành cho những anh hùng phi thường và việc thực hiện xuất sắc trong hành động chống lại kẻ thù vũ trang ở Việt Nam cộng hòa từ 24 tháng 6 năm 1969 tới 28 tháng 2 năm 1970. Trong suốt quãng thời gian ấy, đội tuần tra đặc khu rừng Sác và trên mặt sông Sài Gòn… bằng sự kết hợp với các lực lượng ở miền Nam Việt Nam, đã bắt đầu một chiến dịch độc đáo, tàn nhẫn bằng các cuộc kết hợp tác chiến phản công…”. Ngần ấy đủ để minh chứng cuộc chiến giữa các chiến sĩ đặc công thủy với kẻ thù cam go tới cỡ nào!

Sức chịu đựng của những người lính vượt quá sức tưởng tượng. Mỗi tuần, một người chỉ được vài lon nước cất từ nước mặn để gội đầu, mọi sinh hoạt còn lại đều dùng nước sông. Thiếu gạo, thiếu muối, chỉ ăn cháo loãng với rau lìm kìm, hay nhai đọt chà là dằn bụng… Đương đầu với 3 đối thủ tầm cỡ trên sông Lòng Tàu là lính Mỹ, sóng to và cá sấu dữ, suốt 9 năm ròng rã, đặc công Rừng Sác đánh 740 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 6.200 tên địch, nhấn chìm hàng trăm tàu xuồng lớn nhỏ.

Đầu tháng 12-2013, trong chương trình giao lưu nghệ thuật “Hát mãi về Anh”, truyền hình trực tiếp trên VTV9, tôi ngồi cạnh má Nguyễn Thị Trị (Hai Trầu) quê ở xã Bình Khánh, cơ sở cách mạng chí cốt của đặc công Đoàn 10. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng, má Hai Trầu được cử lên Sài Gòn trong vai người buôn chuyến, đưa trót lọt 4 chuyến dây điện theo đường 15 về giao cho đơn vị. Lần thì má buôn thùng phuy, chuyến sau lại chở trứng, hoặc dưa và khoai lang… Dây dợ được xếp từng cuộn tròn giấu dưới đáy thùng phuy hoặc dưới các giỏ cần xé đựng hàng. Nhờ có dây dẫn tốt và đủ dài, má Hai Trầu đã góp công sức lớn giúp Đoàn 10 đánh đắm tàu Baton Rouger Victory tải trọng 10.000 tấn trên sông Ngã Bảy.

Cùng dự đêm giao lưu có cựu chiến đấu viên Hồ Xuân Cảnh (ngụ ở xã Thạnh An, Cần Giờ). Ông kể, nhận lệnh cấp trên trước đó cả tháng trời, tổ trinh sát đặc công bí mật ra đào hầm bên bờ sông Lòng Tàu. Tới khi nhận tin tình báo biết chính xác lịch trình của kẻ địch, sau nhiều lần dò độ nông sâu của nước và tính toán cụ thể, ông Cảnh cùng các đồng đội (Tấn, Hiếu, Tư) vần 2 quả thủy lôi sừng chạm, mỗi quả nặng 1.075kg vào vị trí đón lõng tàu địch. Bất chấp bầy trực thăng vũ trang lồng lộn vãi đạn “dọn đường” và 4 chiếc tàu quét mìn rà cặp hai bờ, cả tổ vẫn im lìm ém kỹ.

8 giờ 15 phút ngày 23-8-1966, khi con tàu đồ sộ như tòa nhà di động sơn lá cờ 50 ngôi sao ngạo nghễ xuất hiện đúng tầm, kỹ thuật viên liền điểm hỏa. Hai tiếng nổ lộng óc, cột sóng dựng cao như núi, lửa trùm lên nhấn chìm con “thủy quái” xuống đáy sông. 100 xe tăng, 3 máy bay phản lực, hàng trăm khẩu pháo cùng hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm trên tàu bị phá hủy. Chiến công vang dội của trí thông minh, sáng tạo và lòng quả cảm vô bờ bến, đã giáng một đòn choáng váng vào mưu đồ của kẻ xâm lược! Căn cứ lòng dân Cần Giờ là điểm tựa vững chắc để bộ đội đặc công Đoàn 10 trụ vững, đánh giặc. Vậy nên không có gì lạ, khi một huyện chỉ có 7,5 vạn dân (gấp hơn 3 lần thời chiến tranh), với 7 đơn vị hành chính, đã có tới 3 xã cùng với huyện được tuyên dương Anh hùng LLVTND và 111 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

*


Ngồi thuyền vào Vàm Sát.

Nhưng ví thử, nếu chỉ biết “gậm nhấm” quá khứ hào hùng mà không biết tự lực, tự cường, vươn lên làm giàu vì lợi ích của người dân, thì phỏng có ích gì?

Là một địa phương nghèo, lại gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh, sau ngày non sông liền một dải, huyện Duyên Hải vẫn trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Rừng Sác xác xơ trơ trụi, thảm thực vật, động vật dưới tán rừng, các loài thủy sinh biến mất; hệ sinh thái môi trường bị biến đổi nghiêm trọng. Một số chuyên gia nước ngoài, trong đó có các nhà khoa học Mỹ dự báo ít nhất phải cỡ 100 năm nữa mới hy vọng phục hồi được rừng ngập mặn.

Tháng 12-1978, huyện Duyên Hải được sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh. Lo cái ăn, cái mặc tạm ổn cho dân, những người lãnh đạo nghĩ đến rừng. Thật kính nể tầm nhìn chiến lược không kém phần lãng mạn và tâm đức của ông Võ Văn Kiệt, người đứng đầu Đảng bộ thành phố lúc bấy giờ, về việc khôi phục lại rừng ngập mặn. Nó vừa giải quyết được công ăn việc làm trước mắt cho người dân, vừa hướng tới những mục tiêu cơ bản và lâu dài, tầm quốc gia. Từ việc tổ chức đi mua giống cây đước tận chót mũi Cà Mau, đến việc thành lập các nông - lâm trường để tiếp nhận giãn dân nội thành, được thực hiện đồng bộ. Huyện tổ chức ra quân trồng đước. Hàng ngàn người dân, bộ đội và thanh niên xung phong, cơm đùm, cơm nắm, lội sình, dầm nước, cắm cây đước xuống, lòng tràn trề hy vọng, “nhân định thắng thiên”. Chỉ sau 4 năm kiên trì, bền bỉ, huyện đã phủ xanh 28.000 ha rừng ngập mặn. Có rừng, môi trường được cải biến, các loài thủy hải sản, chim chóc và muông thú kéo về sinh sôi, nẩy nở. Một vùng đất chết trong chiến tranh, nay hồi sinh ngoài sức tưởng tượng của con người, trở thành một lá phổi xanh của thành phố mang tên Bác Hồ. Cuối năm 1991, huyện trở lại với tên gọi Cần Giờ.

Điều kỳ diệu là năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên ở Việt Nam. Vùng đất nghèo thay da đổi thịt từng ngày, giao thông thủy, bộ phát triển, các xã đều có điện công nghiệp, kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững, đời sống người dân ngày càng khấm khá.

Mới đây, kết quả khảo cổ về kho báu mộ chum tại di tích Giồng Cá Vồ (ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, Cần Giờ), được xác định có niên đại khoảng 2.500 năm đến trước Công nguyên, các nhà khoa học coi đây là một di tích nền hình thành nên văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam xửa xưa…

Với sự hấp dẫn nhiều mặt, trong một tương lai gần, sẽ có một cây cầu hiện đại thay cho phà Bình Khánh. Kế đến, là hai dự án lớn làm nức lòng phấn khởi của người dân. Ấy là cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ gần 6 tỷ USD và khu đô thị lấn biển hơn 9 tỷ USD, được kỳ vọng là bàn đạp để huyện đảo này thay da đổi thịt. Được biết, cảng Cần Giờ dự kiến tạo ra 8.000 việc làm, còn khu đô thị lấn biển sẽ thu hút gần 30 vạn người đến sinh sống (gấp 3 lần dân số Cần Giờ hiện tại), cùng hơn 9 triệu du khách mỗi năm. Hiện tại, dự án khu đô thị đã được Chính phủ phê duyệt, Thành phố Hồ Chí Minh đang thẩm định và điều chỉnh quy hoạch diện tích. Với bấy nhiêu thôi, thì vùng đất bom cày đạn xới năm xưa sẽ là nơi cực kỳ đáng sống! Nói một cách hình tượng thì Cần Giờ, một địa phương đến phân nửa diện tích là rừng ngập mặn, có sông, có biển và có phố thị… sẽ cất cánh. Ngắm biểu trưng chim bồ câu mang dáng hình Cần Giờ giang cánh đủ nói lên tất cả.

*

Nghe giới thiệu, sân chim Vàm Sát có khoảng 2.000 cá thể với 26 loài. Rồi cơ man nào heo rừng, mèo rừng, chồn, rái cá, trăn, rắn… cùng nhiều loài thú đã xuất hiện trên khắp các gò đất cao trong rừng ngập mặn. Cả đoàn ghé thăm đàn khỉ đuôi dài, nghe nói cả ngàn con, rồi đám cá sấu to vật...

Người nọ bám gót người kia khi lội bộ len lỏi trên con đường nhỏ lát bê tông ẩm ướt rong rêu bám đầy, xuyên dưới tán những cành đước giao nhau che kín vòm trời, miệng nhắc nhau cẩn thận, đề phòng ai đó mải ngó nghiêng, mắt dán lên cây, e trượt té. Dẫu đôi chân đặt bước nào cứ phải miết chắc nền đường, trong đầu tôi chợt nẩy câu ca dao: “Mắm trước, đước sau, tràm theo sát. Sau hàng dừa nước, mái nhà ai”.

Chị chủ nhà trạc ngoài 30 tuổi xởi lởi nhặt đưa một túm trái, bảo tôi cầm lấy, quà của rừng ngập mặn chỉ bấy nhiêu thôi… Và khi tôi viết những dòng này, thì đám mầm đước đã không “chê” đất mới, mà bám rễ, trổ lá kép và lên xanh.

Nguồn: Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN) số 35+36, ra ngày 2-9-2023

[1] Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2005, tr. 38.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm