TIN TỨC

Đỗ Thành Đồng – Câu thơ băng bó mặt trời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-05 23:09:28
mail facebook google pos stwis
1645 lượt xem

 NGÔ ĐỨC HÀNH

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình. Ông đã xuất bản sáu tập thơ, từ Cỏ vô danh (năm 2010) đến Lửa (năm 2021), đó là hành trình từ một Đỗ Thành Đồng – người của “niêm luật” đến “tự do”.

Đỗ Thành Đồng ăn to nói lớn, đậm chất miền Trung, thế nhưng trong chiều sâu của tâm hồn, ông cô đơn, thánh thiện. Đọc thơ ông, dễ nhận ra chân dung một nhà thơ trăn trở với Kiếp thơ, dằn vặt cùng con chữ. Người đọc, tùy tâm trạng để nhận diện, nhưng có điều dễ nhận ra, Lửa là cuộc đối thoại giữa ông và nhân vật “thơ”. “và nắng/ khét vòng ôm/ khét câu thơ/ còn lại những tờ bướm bay đầy con mắt” (Một ngày). Bài thơ này, rửa mặt Lửa, bởi ông xếp đầu tập thơ, thay tự vấn.

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng

Từ Rác (năm 2012), Rỗng (năm 2014), Xác (năm 2017), Đá (năm 2019) đến Lửa (năm 2021), Đỗ Thành Đồng lần lượt bóc bản thể thế sự, phơi trên văn bản. Nhà lý luận phê bình văn học Hoàng Thụy Anh, từng nhận định thơ thế sự không hề dễ nếu thi sĩ non tay. Vấn đề thi sỹ xử lý và đẩy nó vào thơ bằng cách nào để bật lên đặc trưng riêng của mình mới quan trọng. Chênh một chút về tư liệu, sự kiện thì sa vào trần trụi, tê liệt mạch cảm xúc. Chênh một chút về bản năng – nguồn sống của tâm hồn dễ bề rơi vào trạng huống nghèo nàn tư tưởng, triết lý.

Thơ đối với Đỗ Thành Đồng, được giao cho một sứ mệnh. Cứ thế, ông gồng mình lên con chữ. “ai có thể thay đổi được tôi/ nỗi lòng nếp nhăn phố cổ/ trái tim tượng đá đền thờ/ câu thơ nhồi máu”. Câu thơ uất nghẹn, bất lực dẫn đến tăng xông. Trong một hoàn cảnh khác, thơ buộc phải chạy trốn: “sáng chải lại mái tóc/ câu thơ/ vào chùa” (Vào chùa).  Đỗ Thành Đồng buộc phải vân vi, cứu rỗi “nhặt thơ bỏ vào túi áo mà/ cười” (Có thể).

“câu thơ mấy lần củi mục

với anh giữa mùa nước mắt

lời hẹn bùn non đã không thành sự thật

bơ vơ tận đáy niềm tin”

(Ra đi)

Sống giữa trần ai, gia tài nhà thơ không có gì khác ngoài sự cô đơn. Đỗ Thành Đồng không ngoại lệ: “Anh chẳng có gì/ ngoài mấy câu thơ và ngôi nhà ảo”. Đọc bài thơ Bật khóc của Đỗ Thành Đồng, người yêu thơ liên tưởng ngay đến bài thơ Nói với con về tổ ấm của nhà thơ Đoàn Xuân Hòa: “Nhà của cha trên mây/ Cột kèo toàn câu chữ/ Gió dựng đêm mất ngủ/ Ký ức làm phên che”. Nhà thơ, không có gì ngoài tâm hồn, ngoài cô đơn, có lẽ được sở hữu thêm nỗi đau. Thật dễ sẻ chia tâm trạng với Đỗ Thành Đồng. Đọc thơ ông nhận ra, không chỉ là thơ mà còn cả người thơ bất lực.

đất nước đang kỳ lũ lụt

thơ nào hóa được thánh kinh

những bài thơ vô thần

không thể gõ chuông chùa tụng niệm

(Bật khóc)

Vì thế mà nhiều khi “bàn phím bật khóc”, “câu thơ lạy Chúa/ câu thơ Nam Mô”. Khi bất lực trước thiên nhiên, thấy mình nhỏ bé trước cuộc sống, nhận ra vô thường, con người thường tìm đến tôn giáo. Hay nói cách khác, đó là nguyên nhân tôn giáo ra đời và tồn tại. Thơ bất lực cũng phải tìm đến thánh thần, nương nhờ cứu rỗi.

đêm nay anh bất lực với thơ bất lực

với nỗi thật thà đáng ghét

anh miền Trung giấc mơ ngày bỏ dở

đêm thức trắng cùng mưa

(Thức)

Mỗi tác phẩm văn chương đều ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể. Hai bài thơ Bật khóc và Thức đều được Đỗ Thành Đồng viết vào lúc 4h sáng hai ngày kế nhau. Trong tập Lửa bài Bật khóc xếp trước Thức, nhưng Thức viết trước Bật khóc một ngày. Thường một điều gì đó làm con người lắng lo, phiền muộn mới dẫn đến mất ngủ (thức), Và khi đau đáu về nó nhưng thấy mình nhỏ bé, bất lực mới bật khóc. Đó là quy luật diễn tiến của tâm lý người. Thưa, hai bài thơ viết vào trung tuần tháng 10/2020. Đó là thời điểm các tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế bị nhấn chìm trong mưa lũ. Sự cố bi thảm Rào Trăng 3 xảy ra vào thời điểm này. Đỗ Thành Đồng luôn luôn “thẩm vấn” thơ, “tra khảo” tâm hồn mình trước nỗi lầm than nhân thế.

Đỗ Thành Đồng là người như vậy. Tâm hồn ông đã chật căng xa xót, chỉ cần thêm hoàn cảnh, thơ trào lên miệng chữ. Trong Lửa ông còn viết đối thoại rất nhiều với thơ ở những ngữ cảm khác, có thể đó là lúc ông kêu lên (dù ẩn ý) phải trả lại sinh thái cho thơ, có thể là lúc ông nhận ra mình mới là đứa trẻ chưa đến tuổi dậy thì, trước một Nàng Thơ đang vào kỳ sung mãn của ham muốn, đến mức phải thừa nhận “trước thơ/ cả tôi và anh/ đứa trẻ” (Kiếp thơ).

Đỗ Thành Đồng có một “người tình” thực sự là thơ. Không biết vì nỗi gì, ông rất ít ngủ. Thời gian sáng tác các bài thơ trong tập nói lên điều đó, lúc 01h sáng, lúc 02h sáng….và 05h sáng. Có lúc ông than: “Trời không cho tôi ngủ/ để soi mình trước hoa” (Hình hài). Nhờ vậy, những lúc thanh sạch của tâm hồn, ông đều dành cho thơ.

“Thơ với anh có phải là cuộc dạo chơi?”, Đỗ Thành Đồng không ngần ngại trả lời: “Hoàn toàn không, đó là gan ruột”. Trong Đường chữ, NXB Hội Nhà văn, 2009, nhà thơ Lê Đạt kể rằng: Risos, nhà thơ lớn bị lưu đày trong nhiều năm trên đảo vắng có một ý kiến thật bất ngờ: “Tôi không nghiện rượu vì trước đó tôi đã nghiện chữ”. Đọc Lửa, thấy rõ Đỗ Thành Đồng là một kẻ nghiện thơ, đến mức thơ có lúc được ông giao cho một sứ mệnh thiêng liêng “câu thơ băng bó mặt trời” (Ghen 3).

Trong Lửa của Đỗ Thành Đồng có “con đường”: “Trên con đường cao tốc” (An toàn); có hình ảnh mặt trời: “mặt đất hóa mặt trời” (Mơ hồ); “và ta biết mặt trời đã thấy / những băng rôn khẩu hiệu” (Mặt trời); có hình ảnh “lửa”: “anh bắt đầu nhen lửa/ nấu cháo cho thơ” (Mơ hồ); “anh cứ tin thời gian là ngọn lửa / soi rõ mọi linh hồn” (Ra đi); “ở nơi ấy ai khời ngọn lửa / ấm ức tro tàn” (Vân anh)…

Đỗ Thành Đồng sở hữu tâm hồn đa cảm. Trong Lửa, không chỉ có 2 bài thơ Bật khóc, Khóc mà nước mắt nhà thơ còn rơi trên nhiều câu thơ khác. Có lúc, nước mắt không chảy ra ngoài mà chạy ngược vào trong; thậm chí nhà thơ thú nhận: “tôi không còn nhiều nước mắt” (Khóc).

Đau là vẻ đẹp của tâm hồn, đau là mỹ học của thi ca. Nhưng, Đỗ Thành Đồng Khác – như tên một bài thơ, như ông dùng nó đặt tên cho cả phần một trong Lửa. Nhân vật trữ tình của ông biết vượt lên và hy vọng: “trong bóng tối hôm nay / mặt trời hiện lên như ánh mắt / câu thơ ưỡn mình tắm nắng / đỏ rực nụ hôn” (Mặt đêm). Lửa giàu cảm xúc thế sự, dù có lúc rơi vào trạng thái Mông lung, Lãnh cảm, Nghẹn… đỉnh điểm là Khóc, nhưng Đỗ Thành Đồng luôn nhận ra Gió mới và Mặt trời. Đó là vẻ đẹp thuộc về thiên chức của thi ca, đánh thức nhân ái, làm trổ mầm cái đẹp, tìm ra Mặt thật giữa Mặt đêm, chan vào Ánh sáng.

Không chỉ với Lửa; các tập Xác, Rác, Rỗng, Đá đã xuất bản các năm 2017, 2018, 2019 của nhà thơ Đỗ Thành Đồng cơ bản đều là thân phận, thế sự. Nếu Cỏ vô danh chỉ chuyên chú vào thể thơ Đường luật, thì đến Rác, đó là sự lột xác hẳn về đề tài và chất liệu, kỹ thuật mẫu tự; đặt dấu ấn cho những triết lý, chiêm nghiệm đúc rút từ bản thể đời sống. Rỗng tiếp nối mạch nguồn của Rác nhưng cao trào hơn ở sắc màu tình yêu. Xác lại là điểm hội tụ, gặp gỡ giữa Rác và Rỗng: hiện thực được dựng lập như ma trận của một ván cờ chấp chới thực – ảo và những bài thơ tình lồng ghép ruột gan – trí tuệ. Đến Đá rồi Lửa từng bước tạo ra một diện mạo mới của một nhà thơ cách tân, hiện đại. Đó là “lịch trình sáng tác khá đều đặn” của nhà thơ Đỗ Thành Đồng.

Thơ Đỗ Thành Đồng đảm bảo được trật tự của cảm xúc. Sự tiết chế giữa bản năng tự nhiên và tư duy lí trí đã giúp Đỗ Thành Đồng “tiêu hóa” những gập ghềnh, chông gai mà không ít người làm thơ còn mắc phải. Do đó, hiện thực trong thơ anh vẫn đảm bảo được nguồn rung động tinh tế, sâu sắc và một tâm thế đầy bản lĩnh của nhà thơ. Nói cách khác, Đỗ Thành Đồng đã biết “để con chữ lên tiếng” (Lê Đạt).

Cuộc tình mênh mông nơi cõi ấy

Chỉ anh và chỉ riêng anh

Gót chân đầu thai vĩnh viễn

Cơn nghiện làm người

(Nghiện)

Đỗ Thành Đồng xác tín “cơn nghiện làm người”. Việc ông đốt lửa lên hy vọng làm ấm lại những run rẩy nhân thế, “hành hương trong bản ngã” (Hoàng Thụy Anh) cũng nhằm đi từ mình tới người, từ tất yếu đến tự do. Hành trình ấy luôn cần lửa. Tất nhiên, lửa ở đây không phải là văn minh mà con người đã tìm ra 500 ngàn năm trước Công nguyên mà là lửa trong trái tim người. Lửa này không thể mượn, vay.

N.Đ.H/VANVN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm