TIN TỨC

Đỗ Thành Đồng – Câu thơ băng bó mặt trời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
730 lượt xem

 NGÔ ĐỨC HÀNH

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình. Ông đã xuất bản sáu tập thơ, từ Cỏ vô danh (năm 2010) đến Lửa (năm 2021), đó là hành trình từ một Đỗ Thành Đồng – người của “niêm luật” đến “tự do”.

Đỗ Thành Đồng ăn to nói lớn, đậm chất miền Trung, thế nhưng trong chiều sâu của tâm hồn, ông cô đơn, thánh thiện. Đọc thơ ông, dễ nhận ra chân dung một nhà thơ trăn trở với Kiếp thơ, dằn vặt cùng con chữ. Người đọc, tùy tâm trạng để nhận diện, nhưng có điều dễ nhận ra, Lửa là cuộc đối thoại giữa ông và nhân vật “thơ”. “và nắng/ khét vòng ôm/ khét câu thơ/ còn lại những tờ bướm bay đầy con mắt” (Một ngày). Bài thơ này, rửa mặt Lửa, bởi ông xếp đầu tập thơ, thay tự vấn.

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng

Từ Rác (năm 2012), Rỗng (năm 2014), Xác (năm 2017), Đá (năm 2019) đến Lửa (năm 2021), Đỗ Thành Đồng lần lượt bóc bản thể thế sự, phơi trên văn bản. Nhà lý luận phê bình văn học Hoàng Thụy Anh, từng nhận định thơ thế sự không hề dễ nếu thi sĩ non tay. Vấn đề thi sỹ xử lý và đẩy nó vào thơ bằng cách nào để bật lên đặc trưng riêng của mình mới quan trọng. Chênh một chút về tư liệu, sự kiện thì sa vào trần trụi, tê liệt mạch cảm xúc. Chênh một chút về bản năng – nguồn sống của tâm hồn dễ bề rơi vào trạng huống nghèo nàn tư tưởng, triết lý.

Thơ đối với Đỗ Thành Đồng, được giao cho một sứ mệnh. Cứ thế, ông gồng mình lên con chữ. “ai có thể thay đổi được tôi/ nỗi lòng nếp nhăn phố cổ/ trái tim tượng đá đền thờ/ câu thơ nhồi máu”. Câu thơ uất nghẹn, bất lực dẫn đến tăng xông. Trong một hoàn cảnh khác, thơ buộc phải chạy trốn: “sáng chải lại mái tóc/ câu thơ/ vào chùa” (Vào chùa).  Đỗ Thành Đồng buộc phải vân vi, cứu rỗi “nhặt thơ bỏ vào túi áo mà/ cười” (Có thể).

“câu thơ mấy lần củi mục

với anh giữa mùa nước mắt

lời hẹn bùn non đã không thành sự thật

bơ vơ tận đáy niềm tin”

(Ra đi)

Sống giữa trần ai, gia tài nhà thơ không có gì khác ngoài sự cô đơn. Đỗ Thành Đồng không ngoại lệ: “Anh chẳng có gì/ ngoài mấy câu thơ và ngôi nhà ảo”. Đọc bài thơ Bật khóc của Đỗ Thành Đồng, người yêu thơ liên tưởng ngay đến bài thơ Nói với con về tổ ấm của nhà thơ Đoàn Xuân Hòa: “Nhà của cha trên mây/ Cột kèo toàn câu chữ/ Gió dựng đêm mất ngủ/ Ký ức làm phên che”. Nhà thơ, không có gì ngoài tâm hồn, ngoài cô đơn, có lẽ được sở hữu thêm nỗi đau. Thật dễ sẻ chia tâm trạng với Đỗ Thành Đồng. Đọc thơ ông nhận ra, không chỉ là thơ mà còn cả người thơ bất lực.

đất nước đang kỳ lũ lụt

thơ nào hóa được thánh kinh

những bài thơ vô thần

không thể gõ chuông chùa tụng niệm

(Bật khóc)

Vì thế mà nhiều khi “bàn phím bật khóc”, “câu thơ lạy Chúa/ câu thơ Nam Mô”. Khi bất lực trước thiên nhiên, thấy mình nhỏ bé trước cuộc sống, nhận ra vô thường, con người thường tìm đến tôn giáo. Hay nói cách khác, đó là nguyên nhân tôn giáo ra đời và tồn tại. Thơ bất lực cũng phải tìm đến thánh thần, nương nhờ cứu rỗi.

đêm nay anh bất lực với thơ bất lực

với nỗi thật thà đáng ghét

anh miền Trung giấc mơ ngày bỏ dở

đêm thức trắng cùng mưa

(Thức)

Mỗi tác phẩm văn chương đều ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể. Hai bài thơ Bật khóc và Thức đều được Đỗ Thành Đồng viết vào lúc 4h sáng hai ngày kế nhau. Trong tập Lửa bài Bật khóc xếp trước Thức, nhưng Thức viết trước Bật khóc một ngày. Thường một điều gì đó làm con người lắng lo, phiền muộn mới dẫn đến mất ngủ (thức), Và khi đau đáu về nó nhưng thấy mình nhỏ bé, bất lực mới bật khóc. Đó là quy luật diễn tiến của tâm lý người. Thưa, hai bài thơ viết vào trung tuần tháng 10/2020. Đó là thời điểm các tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế bị nhấn chìm trong mưa lũ. Sự cố bi thảm Rào Trăng 3 xảy ra vào thời điểm này. Đỗ Thành Đồng luôn luôn “thẩm vấn” thơ, “tra khảo” tâm hồn mình trước nỗi lầm than nhân thế.

Đỗ Thành Đồng là người như vậy. Tâm hồn ông đã chật căng xa xót, chỉ cần thêm hoàn cảnh, thơ trào lên miệng chữ. Trong Lửa ông còn viết đối thoại rất nhiều với thơ ở những ngữ cảm khác, có thể đó là lúc ông kêu lên (dù ẩn ý) phải trả lại sinh thái cho thơ, có thể là lúc ông nhận ra mình mới là đứa trẻ chưa đến tuổi dậy thì, trước một Nàng Thơ đang vào kỳ sung mãn của ham muốn, đến mức phải thừa nhận “trước thơ/ cả tôi và anh/ đứa trẻ” (Kiếp thơ).

Đỗ Thành Đồng có một “người tình” thực sự là thơ. Không biết vì nỗi gì, ông rất ít ngủ. Thời gian sáng tác các bài thơ trong tập nói lên điều đó, lúc 01h sáng, lúc 02h sáng….và 05h sáng. Có lúc ông than: “Trời không cho tôi ngủ/ để soi mình trước hoa” (Hình hài). Nhờ vậy, những lúc thanh sạch của tâm hồn, ông đều dành cho thơ.

“Thơ với anh có phải là cuộc dạo chơi?”, Đỗ Thành Đồng không ngần ngại trả lời: “Hoàn toàn không, đó là gan ruột”. Trong Đường chữ, NXB Hội Nhà văn, 2009, nhà thơ Lê Đạt kể rằng: Risos, nhà thơ lớn bị lưu đày trong nhiều năm trên đảo vắng có một ý kiến thật bất ngờ: “Tôi không nghiện rượu vì trước đó tôi đã nghiện chữ”. Đọc Lửa, thấy rõ Đỗ Thành Đồng là một kẻ nghiện thơ, đến mức thơ có lúc được ông giao cho một sứ mệnh thiêng liêng “câu thơ băng bó mặt trời” (Ghen 3).

Trong Lửa của Đỗ Thành Đồng có “con đường”: “Trên con đường cao tốc” (An toàn); có hình ảnh mặt trời: “mặt đất hóa mặt trời” (Mơ hồ); “và ta biết mặt trời đã thấy / những băng rôn khẩu hiệu” (Mặt trời); có hình ảnh “lửa”: “anh bắt đầu nhen lửa/ nấu cháo cho thơ” (Mơ hồ); “anh cứ tin thời gian là ngọn lửa / soi rõ mọi linh hồn” (Ra đi); “ở nơi ấy ai khời ngọn lửa / ấm ức tro tàn” (Vân anh)…

Đỗ Thành Đồng sở hữu tâm hồn đa cảm. Trong Lửa, không chỉ có 2 bài thơ Bật khóc, Khóc mà nước mắt nhà thơ còn rơi trên nhiều câu thơ khác. Có lúc, nước mắt không chảy ra ngoài mà chạy ngược vào trong; thậm chí nhà thơ thú nhận: “tôi không còn nhiều nước mắt” (Khóc).

Đau là vẻ đẹp của tâm hồn, đau là mỹ học của thi ca. Nhưng, Đỗ Thành Đồng Khác – như tên một bài thơ, như ông dùng nó đặt tên cho cả phần một trong Lửa. Nhân vật trữ tình của ông biết vượt lên và hy vọng: “trong bóng tối hôm nay / mặt trời hiện lên như ánh mắt / câu thơ ưỡn mình tắm nắng / đỏ rực nụ hôn” (Mặt đêm). Lửa giàu cảm xúc thế sự, dù có lúc rơi vào trạng thái Mông lung, Lãnh cảm, Nghẹn… đỉnh điểm là Khóc, nhưng Đỗ Thành Đồng luôn nhận ra Gió mới và Mặt trời. Đó là vẻ đẹp thuộc về thiên chức của thi ca, đánh thức nhân ái, làm trổ mầm cái đẹp, tìm ra Mặt thật giữa Mặt đêm, chan vào Ánh sáng.

Không chỉ với Lửa; các tập Xác, Rác, Rỗng, Đá đã xuất bản các năm 2017, 2018, 2019 của nhà thơ Đỗ Thành Đồng cơ bản đều là thân phận, thế sự. Nếu Cỏ vô danh chỉ chuyên chú vào thể thơ Đường luật, thì đến Rác, đó là sự lột xác hẳn về đề tài và chất liệu, kỹ thuật mẫu tự; đặt dấu ấn cho những triết lý, chiêm nghiệm đúc rút từ bản thể đời sống. Rỗng tiếp nối mạch nguồn của Rác nhưng cao trào hơn ở sắc màu tình yêu. Xác lại là điểm hội tụ, gặp gỡ giữa Rác và Rỗng: hiện thực được dựng lập như ma trận của một ván cờ chấp chới thực – ảo và những bài thơ tình lồng ghép ruột gan – trí tuệ. Đến Đá rồi Lửa từng bước tạo ra một diện mạo mới của một nhà thơ cách tân, hiện đại. Đó là “lịch trình sáng tác khá đều đặn” của nhà thơ Đỗ Thành Đồng.

Thơ Đỗ Thành Đồng đảm bảo được trật tự của cảm xúc. Sự tiết chế giữa bản năng tự nhiên và tư duy lí trí đã giúp Đỗ Thành Đồng “tiêu hóa” những gập ghềnh, chông gai mà không ít người làm thơ còn mắc phải. Do đó, hiện thực trong thơ anh vẫn đảm bảo được nguồn rung động tinh tế, sâu sắc và một tâm thế đầy bản lĩnh của nhà thơ. Nói cách khác, Đỗ Thành Đồng đã biết “để con chữ lên tiếng” (Lê Đạt).

Cuộc tình mênh mông nơi cõi ấy

Chỉ anh và chỉ riêng anh

Gót chân đầu thai vĩnh viễn

Cơn nghiện làm người

(Nghiện)

Đỗ Thành Đồng xác tín “cơn nghiện làm người”. Việc ông đốt lửa lên hy vọng làm ấm lại những run rẩy nhân thế, “hành hương trong bản ngã” (Hoàng Thụy Anh) cũng nhằm đi từ mình tới người, từ tất yếu đến tự do. Hành trình ấy luôn cần lửa. Tất nhiên, lửa ở đây không phải là văn minh mà con người đã tìm ra 500 ngàn năm trước Công nguyên mà là lửa trong trái tim người. Lửa này không thể mượn, vay.

N.Đ.H/VANVN

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Việc nước chưa xong đầu đã bạc
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần để lại cho mỗi người Việt Nam và cộng đồng quốc tế những cảm xúc khác nhau; trong tôi, đó là sự kính trọng và thương tiếc.
Xem thêm
Có một mái đầu tóc bạc - bài hát đầy yêu thương tự hào…
”Có một mái đầu bạc “, bài hát đầy yêu thương tự hào với nhà lãnh đạo được nhân dân vô cùng yêu quý: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng.
Xem thêm
Có một ngôi sao sáng, một ngọn lửa đỏ rực không bao giờ tắt
Bài do tác giả gửi cho Văn chương TP Hồ Chí Minh
Xem thêm
Sáng mãi ánh Sao Khuê - Chùm thơ nhiều tác giả
Chùm thơ của Nguyễn Minh Tâm, Nguyên Hùng, Hồ Bá Thâm
Xem thêm
Nhà văn Phạm Ngọc Tiến, với tôi là xà ngang, cột dọc
Nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã khá lâu không gặp. Dù công việc tôi đều theo tư cách đàn em, luôn hỏi anh. Nhớ ngày xưa, khi rất khó khăn, cần tiền đúng như mong “Bác Hồ hiện diện”, anh đã mời và bố trí tôi viết kịch bản phim truyện để có cần câu cơm mưu sinh khi làm ông bố. Cuộc mưu sinh đó cũng đã rất xa rồi. Hậu duệ của cuộc mưu sinh chắc chắn hoàn toàn không biết. Bạn ấy đã là chủ gia đình riêng nhỏ. Phạm Ngọc Tiến đã biết sợ không dám nhận thách đấu bia rượu thuồng luồng như ngày trước.
Xem thêm
Nhà thơ Văn Công Hùng với nhà thơ Hoàng Cát
Bài viết của nhà thơ Văn Công Hùng cùng bài thơ ký họa chân dung Hoàng Cát thay vài nén nhang viếng vọng từ xa.
Xem thêm
Một nhà quản lý thép với trái tim ấm nồng Trần Quỳnh Hoa
 Tập truyện ký “Bông Mai Xanh kiêu hãnh” là một tác phẩm mới, khá cuốn hút của nhà văn Kiều Bích Hậu, xoay quanh nhân vật chính – Cử nhân Khánh Hương.
Xem thêm
Nhà báo, nhà văn, nhà văn hóa – tư tưởng Phan Khôi
Nhắc đến tiến trình vận động và phát triển của văn hóa, tư tưởng và báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX không ai có thể phủ nhận những đóng góp cũng như vai trò to lớn của một nhà báo, nhà văn và nhà văn hóa – tư tưởng xuất sắc Phan Khôi (1887-1959).
Xem thêm
Tác giả Phùng Hiệu: Nhà văn đi làm báo sẽ dễ hơn nhà báo đi viết văn
Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, nhà báo Phùng Hiệu đã chia sẻ những chiến lược và phương pháp độc đáo giúp duy trì sự cân bằng giữa công việc viết báo và sáng tác sách.
Xem thêm
Nơi sâu thẳm trái tim vị tướng
Bài viết của Trung tướng, PGS-TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng
Bài viết của Lê Thiếu Nhơn về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa ở Phú Yên
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm