TIN TỨC

Đọc bài thơ “Ánh mắt sông Tiền” của Xuân Trường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-03 04:53:47
mail facebook google pos stwis
4771 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

Xuân Trường đã tạo nên nhan sắc của tác phẩm làm xao xuyến lòng người bởi  những đường cong đã chật chội tôi vào em đến no tròn đôi mắt”                                                          

Em nói câu gì mà con sông bối rối

Cứ ngọt phù sa vào mạn con thuyền

Em nhìn gì mà không gian cứ thẫn thờ mây trắng

Vội vã nhìn nhau chia nắng sông Tiền

Có phải con sông bối rối, hay vị khách lữ hành trên dòng sông Tiền ăm ắp phù sa châu thổ bối rối khi nghe tiếng em gái cất lên ngọt lịm trên khoảng không gian thơ mộng và đẹp đẽ, làm anh bối rối mà tạo dựng cho dòng sông bối rối. Vì chỉ có thơ mới làm cho con sông bối rối được nhưng bối rối bâng khuâng, bối rối hồi hộp thì nhà thơ chẳng bao giờ nhường nhịn cho dòng sông đâu mà truyền qua con tim yêu của mình. Các bạn đã thấy dòng sông bối rối chưa. Chắc chưa bao giờ. Hay chỉ thấy mình bối rối. Đi trên dòng sông, nhà thơ đã làm nên con sông bối rối thì đẹp đẽ mà lãng mạn, thay cho mình bối rối rất thi vị và tế nhị đấy chứ. Và: Em nhìn gì mà không gian cứ thẫn thờ mây trắng, để mà: Vội vã nhìn nhau chia nắng sông Tiền. Hay lắm. Lãng mạn chứ, bắt đầu từ lần gặp gỡ sông Tiền đầu tiên ấy, đến mây trắng cũng thẫn thờ thì tuyệt dịu, rồi cùng nhìn nhau chia nắng sông Tiền. Mở đầu cho bài thơ như vậy là đạt đỉnh, đó là sự đẹp đẽ của thơ bởi một hình tượng ẩn dụ rất hay. Và rồi Xuân Trường lại cho ta bất ngờ, sững sờ trước những thất lạc lạ lẫm từ phía áo bà ba thi vị:

Chợt thực hư trưa, vào tôi quá đỗi

Mơ hồ em, hay tôi thất lạc phía áo… bà ba

Những đường cong đã chật chội tôi vào em đến no tròn đôi mắt

Tôi nghe lòng mình sao lại cứ bôn ba

Chật mà kín nên đất trời bẻn lẽn

Hành hạ tôi hôm ấy quá... Vĩnh Long ơi

Nhà thơ đã dùng điệp từ chật chội, no tròn, bẻn lẽn, thất lạc, hành hạ tôi… trong những câu thơ đó là những điệp từ rất thật, song lại ảo vô cùng. Sao nhà thơ lại thèm cái sự chật chôi trong chiếc áo bà ba? Trong thơ mà sử dụng những điệp từ đời thường như vậy là làm khó cho mình, nếu như người làm thơ không sành điệu, cao tay tìm những bổ ngữ đi phía sau cho điệp từ ấy thì khô khan đơn điệu khó thành thơ. Nhưng trong bài thơ này, nhà thơ đã khéo léo dùng những từ ngữ phía áo bà ba: Chật chội tôi vào em đến no tròn đôi mắt ấy, tạo nên hương vị cho thơ, làm dáng cho thơ bởi cảm xúc tôi nghe lòng mình sao lại cứ bôn ba. Với những điệp từ ấy bỗng nhiên câu thơ trở nên thánh thiện, cất cánh bay lên tình tứ vì chật chội tôi vào trong em, đến nỗi thất lạc cả suy tư bởi từ phía áo… bà ba. Chật mà kín đến nỗi đất trời cũng bẻn lẽn, dẫn đến hành hạ tôi hôm ấy quá…. Vĩnh Long ơi. Từ chật chội sao mà đắt thế. Chắc ai đó cũng mong muốn được hành hạ, được chật chội như vậy lắm chứ. Chính cái nét duyên dáng con gái nhìn từ chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm ấy của Đồng bằng sông Cửu Long xinh đẹp, hồn nhiên, tạo nên những chất thơ ngọt ngào, lãng mạn và câu thơ xao xuyến mà thơm thảo như vậy, v.v.

Nhìn áo vàng tôi mi mê về màu lãnh Tân Châu xa lắc

Chắc mai này dù ở đâu tôi cũng thấy bồng bềnh

Những giấc mơ cứ đầy lên sông nước Cửu Long

Em mơ gì mà mắt em mênh mông đến thế?

Chiếc áo bà ba sao mà đẹp đẽ quyến luyến, mà tha thướt làm cho bài thơ trở nên duyên dáng. Làm cho thi nhân nhớ ngay đến lãnh Tân Châu ở đầu nguồn sông Hậu. Lụa là chưa bằng lãnh đâu, vì lãnh tôn lên vẽ đẹp con gái bởi thứ thời trang đặc trưng Nam bộ này. Vẽ đẹp bừng lên từ ánh mắt mênh mông đến thế, dù ở đâu tôi cũng thấy bồng bềnh. Để rồi:

Tôi đuối rồi không bơi lội được nữa đâu

Thương quá lục bình với hơi thở nông sâu

Mỗi khi con sông nhăn mặt

Oằn lưng cho hạnh phúc con người

Xin em hãy cứu tôi đang mắc cạn trưa cù lao… em ạ

Khổ thơ này nhà thơ dùng một từ oằn, một từ đuối, một từ cạn như bình thường thì có khi chúng ta có thể nghỉ ngay đến đuối sức, đuối nước, đuối hơi v.v. Tại sao lại đuối? Song tất cả không phải vậy mà đó là đắm đuối, cuốn hút theo cái đẹp, mà đuối như vậy thì ai cũng muốn đuối và chỉ có thơ mới đuối như vậy được. Tiếp theo thi sĩ thả một câu đến xao lòng. Xin em hãy cứu tôi đang mắc cạn trưa cù lao em ạ. Mắc cạn mà mắc cạn trưa ở trên cù lao mới hay chứ. Nhà thơ quá khéo léo dùng phương pháp tu từ, tạo nên cái cớ, chỉ có thơ mới có được mắc cạn trưa ở cù lao em ạ. Buổi trưa trên cù lao dòng sông ấy, nhà thơ đang mắc cạn cái đẹp, có tuyệt dịu hay không? Có ai nỡ lòng nào từ chối mà không tình tứ một chút với thi nhân khi đang xôn xao bến nước. Và rồi khi đã được cứu vớt trong nhay nháy ấy, thi nhân lại toan tính gì nữa đây: Hãy nhón gót đỡ tôi lên để tận hưởng mùi hương cây trái/ Mai này xa, tôi còn lại hương em. Quả là tuyệt vời của khéo léo thơ. Từ ngữ khôn khéo đến tuyệt diệu, thi sĩ đã tạo ra cái cớ đuối sức, mắc cạn trưa, để thưởng thức mùi hương cây trái nhưng mục đích cuối cùng chỉ là Mai này xa tôi còn lại hương em như vậy người thơ được thưởng thức cả hai. Hương em sao mà quyến luyến thế, mai sau vẫn còn trong tâm tưởng sâu xa. Xin thưa các bạn, đó là nghệ thuật tình tứ trong thơ, nghệ thuật đi đến trác tuyệt trong câu chữ, tìm đến biểu cảm nhân cách của thơ, dẫn dắc người đọc bài thơ vào cõi thần tiên, bởi vì đó là trách nhiệm của thi nhân tạo nên nhan sắc của tác phẩm.

Rồi tôi sẽ là con thuyền mai mãi lênh đênh

Trong vô hạn con thuyền có bờ, có bến

Sông cứ chảy dài có khi nào tôi gặp lại thuyền em

Làm sao tôi biết được, khi tôi đi ngang, còn em thì đi dọc

Chỉ có sông mới biết tôi bao lần mệt nhọc     

Đem trái tim bỏ ngỏ để chờ ai

Qua sông Tiền hôm ấy dễ đâu phai.

Thưởng thức đến đoạn cuối của bài thơ, ta thấy rõ thi nhân đến với quê em hai mùa mưa nắng, anh như con thuyền lênh đênh mãi miết cuộc hành trình, rồi trở về với bờ bến nơi xa lắm. Song cái chất hào hoa lãng mạn của thi sĩ tạo nên những ao ước bao giờ gặp lại thuyền em trong khi anh đi ngang mà thuyền em thì đi dọc. Hôm nay anh trở về và đang đi trên dòng sông đa tình đó mà anh. Con người, dòng sông nơi đây, chiếc áo bà ba óng ánh lãnh Tân Châu. Con đò ngang, chiếc thuyền đi dọc, nơi cù lao mắc cạn, nơi chật chội tôi bởi những đường cong, bởi ánh mắt nụ cười duyên dáng vẫn tươi nguyên làm nên chất liệu bài thơ. Nơi mảnh đất chín rồng lần đầu về đây thi nhân đã bị hút hồn đến đắm đuối, trở dạ sinh ra thi phẩm “Ánh mắt sông Tiền”. Thi phẩm để lại tình cảm lưu luyến trong những kí tự văn học đẹp đẽ, lãng mạn, tạo nên bài thơ dễ thương hấp dẫn đến thế.

Cảm ơn thi sĩ  Xuân Trường người đã sinh ra đứa con thơ lãng mạn với những đường cong chật chội tôi vào em đến no tròn con mắt. Cùng lãnh Tân Châu, chiếc áo bà ba, con thuyền… trên dòng sông thơ của thi nhân khắc vào tâm trí của tôi.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm