TIN TỨC

Dòng sông mãi trôi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
1029 lượt xem

Như một duyên may tình cờ, tôi được đọc Bế Kiến Quốc khá tập trung: ấn phẩm từ dự án “Công bố và phổ biến các tác phẩm văn học được Giải thưởng Nhà nước” của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Cũng đã 20 năm rồi, Bế Kiến Quốc đi xa. Nhưng thơ ông vẫn vẹn nguyên sức sống, tinh khôi niềm tin yêu sự sống.


Nhà thơ Bế Kiến Quốc.

Cuộc đời và con người, người thân yêu, bạn bè, – dù không phải luôn trên đường trải gấm hoa, dù vẫn cảnh giác với mình “gừng cay muối mặn có bền mãi đâu”- những cảm hứng chính của thơ ông, mãi là bài ca ngợi ca cuộc sống kỳ tuyệt. Không phải kiểu “lạc quan” hay “bi quan”, những khoanh vùng thô kệch hồn người, tình yêu cuộc sống trong thơ ông là thuần khiết nguồn mạch, miên mẩy năng lượng khởi sinh. Nó tự nhiên, quy luật.

Tôi đi. Và tôi biết

Tin yêu vào cuộc đời

Dù tôi đến chậm nhất

Người đợi còn đợi tôi… (Có một người đợi tôi)

Và điều này quan trọng: con người – một thực thể tự nhiên – không thụ động trước tự nhiên, quy luật, chờ hưởng phần, mà phải sống có trách nhiệm với cuộc đời: chính con người can dự vào những thay đổi không chỉ số phận mình mà cả chu chuyển đất trời:

Mặc kệ hết! Cái mầm xanh rất mới

Sẽ gọi bao chồi nõn thức trong vườn.

Mùa đông nhất định qua, nhất định mùa xuân tới

Nhưng nhờ anh, mùa xuân tới mau hơn…

 (Đến sớm)

Với Bế Kiến Quốc, thơ là sống. Vẻ đẹp thơ ông là vẻ đẹp sống. Thái độ sống, đương nhiên.

Từ nhận thức đơn giản mà thấu tận những hy sinh, dâng hiến, những hàm ơn: cuộc đời không hề “tự nhiên xanh”:

Vươn mãi vào bề sâu

Cái rễ non tìm đường cho cây

Qua sỏi đá có khi tướp máu

Hướng mãi lên chiều cao

Cái cành non vượt mưa đông, nắng hạ

Nảy chiếc lá như người sinh nở

Chỉ đất yêu cây thì đất biết

Những cơn đau nơi cuối rễ đầu cành.

          (Cuối rễ đầu cành)

Đến những ngẫm ngợi về ý nghĩa cuộc đời, về lựa chọn sống. Không ít những tự vấn, những loay hoay, xác tín: “Con đường gặp dòng sông. Nhưng dòng sông không cần biết con đường nghĩ gì. Sông còn bận, trôi đi, và biển khơi là chân trời của nó. Cơn khát của dòng sông chẳng bao giờ nguôi. Nó chưa hề biết dừng lại nghỉ ngơi…/ Tôi sẽ làm gì đây? Tôi đã mải miết theo con đường suốt qua tuổi trẻ. Giờ lại gặp dòng sông…” (Con đường gặp dòng sông). “Còn thao thức gió, là còn…/ Sông ơi, xin trở lại nguồn làm mưa/ Xin nguyên vẹn với mình xưa/ Sắt son theo đuổi giấc mơ thuở nào!…” (Nửa đêm chuyển gió). “Thuần khiết một niềm tin/ Tôi bước vào ngôi đền/ Và thắp lên/ Trên mười ngón tay mười ngọn nến/ Tôi chỉ có đời tôi/ Dâng hiến/ Không nói một lời” (Vào một ngôi đền)…

Nhưng không dễ dàng gì. Bế Kiến Quốc đã rất chân thành ghi lại những khoảnh khắc đơn độc, buồn quạnh của kiếp người: “Tiếng ai xa gọi/ Từ thuở có người/ Đêm nay vọng tới/ Khiến đêm thật dài…” (Chợt nghe). “Đôi khi suốt buổi chiều ngồi nhìn vào mắt Lou/ Tìm thấy niềm cảm thông/ Mắt Lou buồn thật buồn/ Thương con người cứ phải làm con người/…/ Đôi khi suốt buổi chiều Lou nhìn vào mắt tôi/ Và đôi khi Lou muốn thử làm người…” (Thơ cho Lou).

Và tôi hiểu vì sao Bế Kiến Quốc “gặp gỡ”, chia sẻ, đồng cảm với rất nhiều văn nghệ sĩ mọi thời trong thơ mình. Từ Cao Bá Quát, Đào Tấn, Văn Cao, Phùng Gia Lộc, Nguyên Hồng, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Thành Chương… đến A. Pushkin, Sergey Yesenin, M. Gorky, Paul Éluard, Nazim Hikmet… Đây, Ở Tuy Hòa nhớ thơ Trần Mai Ninh ông viết:

Sẽ lãng quên tất cả, nếu cứ sống lặng lẽ, thờ ơ!

Trần Mai Ninh, chuyên cần và phóng túng

Sống như thế rồi anh nằm xuống

Còn câu thơ mang gió tới cho đời…

Hoặc Dưới núi Huỳnh Mai, nghĩ về Đào Tấn:

Trong một thời quá it tình thương yêu

Đã thương yêu hết lòng

Giữa một đời quá nhiều điều phải nghĩ

Đã nghĩ tới cùng (Dù khi đúng khi sai)

Mộ một người như thế ở trên núi Huỳnh Mai

Nhà từ khúc, nhà thơ, nhà viết kịch

Người đã sống một thời khó khăn cùng đất nước

Lòng vương mang gánh nghĩa gánh tình*…

Đó là sự đồng điệu chứ không chỉ cảm nhận: viết về người mà cũng là bộc bạch gan ruột mình, nhận chân lẽ sống mình!

2. Tôi có nhắc phần trên Xergey Yexenin, thi sĩ Nga vĩ đại tự kết thúc cuộc đời ở tuổi 30, Bế Kiến Quốc viết hẳn bài thơ cảm – thương, có câu “Anh bỏ đi, vì chẳng biết tin gì”. Thì đúng, với một người đã gửi lại vần thơ “Vĩnh biệt” nổi tiếng: “…Thôi chào nhé bạn ơi, không một lời bịn rịn/ Bạn thân yêu, xin bạn đừng buồn – / Trên đời này chết là điều chẳng mới/ Nhưng sống, thật tình, chẳng mới hơn” (Anh Ngọc dịch), hậu thế có thể nghĩ tới sự bế tắc, tuyệt vọng… Xin không bàn. Chỉ biết rằng, thi sĩ Nga từ năm 15 tuổi đến khi tự tận đã 3 lần cưới vợ, và hàng chục cuộc tình, sống đời dữ dội, quyết liệt; đoạn cuối trượt dài trong rượu và trầm cảm, dù nhiều người phụ nữ yêu ông vô điều kiện, cũng không thể giúp thi sĩ buông tay.

Còn Bế Kiến Quốc khác: tình yêu tìm thấy thật thiêng liêng, nhiệm mầu. Nói cách bây giờ, lẽ sống và tình yêu – hai trong một – làm nên sự nghiệp thơ ông!

Tôi liên tưởng đến thi sĩ Nga không phải từ bài thơ sẻ chia nhiều phần nuối tiếc của Bế Kiến Quốc với quyết định “từ giã” của Yesenin, mà bởi thơ tình Bế Kiến Quốc ngọt ngào, đằm thắm âm hưởng thơ Nga. Nó riêng biệt: không hề còn bóng dáng chất “lãng mạn” Thơ Mới đã đành, mà cũng khác cách biểu hiện nhiều ẩn dụ kiểu “thuyền/ bến”, “non/ nước”… đặc trưng Phương đông quanh mình.

Yêu và được yêu là một điều kỳ diệu. Bế Kiến Quốc hơn một lần bật thốt sự hàm ơn ân sủng đặc biệt này: “Anh chắp tay anh lạy tạ đất trời/ Đã mang em ban tặng cuộc đời anh” (Bỗng có em). “Môi anh bập bẹ anh quỳ trên cát/ Cảm ơn Đời đã cứu vớt đời anh” (Cánh buồm). Mọi cung bậc của tình yêu chừng như bất tận hiện diện trong thơ ông. Những nhớ thương, mong đợi, mừng vui gặp mặt, mơ, tưởng, lo âu, hờn ghen… trở đi trở lại, mỗi lúc một khác, mà cụ thể từng khoảnh khắc, tâm trạng.

Lại nói thêm: với Bế Kiến Quốc, yêu là sống. Một đời sống nhiệm mầu: anh đã là con người khác khi có tình yêu:

Một người khác trong tôi có từ khi em tới

Đưa tôi đi gặp gỡ với chân trời

Tôi tin tưởng tôi yêu tôi ca ngợi

Tôi đón chào một người mới trong tôi.

                  (Chào đón)

Không chỉ thành con người khác, tình yêu làm đổi thay cả không gian, thời gian, vũ trụ: “Ba ngày chất chứa yêu tin/ Đủ cho ta sống trăm nghìn ngày sau” (Ba ngày). “Chiều ngày hai bảy… chiều thu đẹp/ Vườn nở đầy hoa, trăng suốt đêm…/ Em đã điện rồi – trời đất biết/ Vũ trụ cùng anh ra đón em…” (Bức điện). “Anh muốn sống bình yên cùng hạnh phúc/ Trên mặt em không vướng chút u buồn/ Bàn tay anh âu yếm gạt mái tóc/ Và nhân danh Cuộc Đời mà anh hôn” (Từ giấc mơ)…

Khúc giao hòa hoan ca bất tận này còn tìm thấy cách hóa thân tuyệt đích:

Anh sẽ thay những ngón tay anh bằng những ngón tay em để làm nên một bàn tay mới

Em sẽ đặt trên mắt em những lời anh nói

Ta sẽ nhìn bằng anh và sẽ nghe bằng em

Cảm bằng anh và sẽ nghĩ bằng em

Lấy môi em để cười lấy vai anh để tựa

Sẽ gọi anh là cha sẽ gọi em là mẹ

Ta sẽ gửi những mật mã di truyền cho thế kỷ mai sau.              (Trong ngày anh gặp em)

Xin cám ơn nhà thơ Đỗ Bạch Mai – “người yêu dấu” và là người bạn đời thiên thu của Bế Kiến Quốc, khi quyết định cho in tập thơ Đất hứa (dịp 100 ngày mất của ông) – những bài thơ “của Bế Kiến Quốc tặng cho tôi. Chúng tôi đã nghĩ: sẽ cất giữ tập thơ này chỉ để cho riêng mình”. Rồi bà hiểu ra rằng “những vần thơ anh đã viết ra không chỉ thuộc về riêng mẹ con tôi/…/ bởi vì tình yêu của chúng tôi chỉ là một cái cớ cho những bài thơ xuất hiện và tồn tại trong cuộc đời này”. Và đúng như mong muốn của bà, “những bài thơ tình của Bế Kiến Quốc là một quà tặng tình yêu cho những người đang yêu nhau”. Tôi muốn thêm, không cứ gì người “đang yêu nhau”, mà còn là quà tặng cho những người “tin” rằng, tình yêu có thật trong đời!

Hơn trăm bài thơ của gần 9 tháng thời bắt đầu có tình yêu, Bế Kiến Quốc viết cho Đỗ Bạch Mai như những lá thư – thơ, ghi chú ngày tháng bên dưới cho thấy có ngày đến 4-5 bài. Vài đoạn trích dẫn trên, có từ Đất hứa và những tập thơ khác, mà vẫn nguyên chất thơ tình Bế Kiến Quốc, riêng tư đã không còn riêng tư: có một tương thông, gặp gỡ của người yêu nhau muôn thuở. Thì đúng là chuyện của một người nam với một người nữ, nhưng thơ khi đạt đến tiếng lòng riêng khuất nhất, lạ sao, lại thành như nói hộ bao người. Đọc thêm vài “quà tặng” nữa nhé:

Lời yêu mến với em anh nhắc lại

Cho trời cao nhắc lại một trăng vàng

Cho cây cành nhịp thu sang nhắc lại

Ngày yêu nhau ngày ấy sẽ không tàn

Một đóa ngày thắm nở giữa thời gian.

               (Ngày kỷ niệm)

Nào biết đâu là đâu

Đầu nguồn hay cuối thác

Người với người yêu nhau

Ta khai trừ sự chết.                    (Ngày lập xuân)

3. Dễ nhận ra trong thơ Bế Kiến Quốc một tiên cảm về “sự chết”. Ông viết về điều này khá sớm. Chẳng cần lý giải vấn đề ưu tư triết học ngàn vạn năm qua về lẽ sống- chết của nhân sinh, hai mặt có vẻ đối lập ấy luôn là phần kia của nhau, hàm chứa trong nhau. Chỉ là, càng khát khao, tin yêu sự sống, bóng dáng sự chết theo đó, cận kề. “Cuộc đời cho gặp nhau/ Cuộc đời làm ly biệt/ Cái nghĩa lý cao sâu/ Đến giờ tôi mới biết” (Thơ tiễn một người). “Đầu làng cổ thụ/ Đợi ta mà già/ Bạn đừng khuất nữa/ Sông đừng nước qua…” (Nhớ bạn). Nó trái khoáy phải không, chuyện ước muốn sông đời ngừng trôi để mãi còn những người bạn? Cái tình của nhà thơ, thực ra là dành cho tất cả những đẹp đẽ, yêu thương trong cuộc đời này. Cái hiện hữu mong manh luôn được gìn giữ, hoặc lưu giữ, dù chỉ để hy vọng: đó là những khoảnh khắc tâm hồn trở nên bất tử:

Làm sao tìm ra em

Làm sao người gặp được

Tận góc vườn một đóa hoa đơn độc

Không hương thơm không màu sắc không tên

Đừng hái đừng hái hãy chờ bên hoa

Có lẽ em đang tới

Có lẽ vừa đi qua.

               (Vườn mơ)

 Tôi cứ đi và những gì tôi thấy

Ông kính không kịp ghi thì tâm hồn đã ghi

Những gì thấy trong đời đã giúp tôi giữ lại

Một ánh sáng lâu bền bất kể tháng năm đi…

               (Ánh mắt)

Bế Kiến Quốc luôn ý thức cuộc sống nhiều bất trắc, cuộc đời còn nhiều góc khuất, có thể trong “cõi trần phù du”, “tất cả lại thành hư vô”; điều quan trọng là những khoảnh khắc đẹp có thật của cuộc đời (chứ không phải huyễn ảo) hãy mãi còn cho con người, dù còn hay không còn anh:

Buồn làm chi, khi dạ hội còn vui

Em rạng rỡ thế kia, trong ánh đèn chói lọi!

Chỉ cầu mong em đừng nhìn bóng tối

Nơi có anh, và sẽ chẳng còn anh…

               (Trong dạ hội)

Không chỉ là những dự cảm, Bế Kiến Quốc đã chuẩn bị cho cuộc ra đi của mình, đẫm đầy yêu thương, trách nhiệm, như đã sống: “Những ngày hôm qua không mất/ Con ơi ta gửi nơi con/ Ngày hôm qua ta vun đắp/ Và con từng ngày lớn khôn/…/ Ta sẽ thành nguồn nước/ Âm thầm bồi đắp cho con…” (Bài không tên số 5).

Rồi đây anh ra đi – người bộ hành đơn độc

Xin em đừng buồn đừng khóc

Anh đã có tình yêu để mang theo

Và những gì anh mơ – sẽ trở thành sự thật

Trên trái đất.

Chẳng thể nào không buồn khi nói lời giã biệt

Cuộc đời ơi! Xin cảm tạ cuộc đời!

Thời gian rất ngọt ngào, chỉ vì còn quá ít

Cuộc đời cuối cùng này

                                    sẽ sống với em thôi…

                      (Chiều cuối năm ngoài ga)

4. Bế Kiến Quốc “giã biệt” cuộc đời mà ông đã sống, đã yêu tha thiết, đắm say, năm 2002, ở tuổi 53 còn tràn đầy năng lượng. Tôi cắc cớ nghĩ, với tất cả những chuyển động của đời sống và phát triển, sáng tạo mới, nếu được tiếp tục, 20 năm qua, và hôm nay, ông sẽ viết thế nào?

Ông từng sống qua thời gian nan của đất nước: chiến tranh, khó nghèo, hẳn cũng ngấm đủ lẽ bi- hoan của cuộc đời, thời cuộc. Lạ sao, nỗi buồn dường như ông giữ lại cho riêng mình, thảng hoặc mới kín đáo dè dặt chia sẻ đôi chút. Thơ ông là bài ca ngợi ca sự sống, ngợi ca tình yêu bất tận. Bằng cảm xúc chân thành, tươi nõn. Bằng niềm dâng hiến, thuần túy dâng hiến. Được sống, được yêu là ân sủng lớn nhất của cuộc đời này. Thơ Bế Kiến Quốc do vậy, luôn mới, từ xuất phát điểm chứ không cần các hình thức thể hiện. Ngay cả những câu có vẻ lạ: “Thấy thương con nhện lang thang/ Chăng tơ/ cứ tưởng thời gian sa vào” (Hoa tầm xuân); hoặc cách nói khác: “Đầu làng cổ thụ/ Đợi ta mà già…” (Nhớ bạn)… hoàn toàn cũng là suy nghiệm hướng tới niềm yêu, sự tận hiến của đời người.

Bế Kiến Quốc ngẫm ngợi nhiều về dòng sông, một liên tưởng quen thuộc với đời sống. Dù thế nào, sông vẫn luôn chảy: “Hãy nhìn anh như nhìn một dòng sông/ Luôn luôn chảy luôn luôn đi tới”. Thơ ông, không cần tân kỳ câu chữ, vẫn không cũ. Vẻ đẹp trần thế – những lộng lẫy sống và yêu – những “phút giây huyền diệu” không cũ bao giờ!

Phải, Bế Kiến Quốc là dòng sông mãi dào dạt chảy:

Con sông trôi ở cánh buồm

Gió thành dòng nước chiều hôm tím dần

Bên bờ ngồi duỗi đôi chân

Một mình lặng ngắm cõi trần phù du…

Vầng trăng chợt vượt qua mây

Cả dòng sông

                    sáng ngất ngây đất trời…

               (Bên sông)

 Lê Hoài Lương/Văn nghệ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nơi sâu thẳm trái tim vị tướng
Bài viết của Trung tướng, PGS-TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng
Bài viết của Lê Thiếu Nhơn về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa ở Phú Yên
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Trong màu xanh Vàm Cỏ
Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Xem thêm
Đỗ Thành Đồng và chuyển động đường thơ
Sau gần 15 năm đắm say đến điên cuồng với thi ca, nhà thơ Đỗ Thành Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản 7 tập thơ.
Xem thêm
Chuyện tình khó quên của Trịnh Công Sơn
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Nhà văn Di Li: Tôi bị hấp dẫn bởi người đàn ông nhân văn, tử tế
Tôi nghĩ rằng, là người văn minh thì phải chấp nhận sống chung với sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt đó nếu không tốt, muốn người ta thay đổi thì mình sẽ góp ý. Và cách góp ý của mình cũng khá hài hước nên người nghe không mấy khi khó chịu.
Xem thêm
Người tốt trại Vân Hồ
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, 1998 – 2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Xem thêm
Nhớ nhà báo Phú Bằng
Đọc bác Phú Bằng từ lâu, khi tôi còn trực tiếp cầm súng ở Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 thời chống Mỹ. Lúc ấy bác Phạm Phú Bằng là phóng viên báo QĐND được tăng cường cho báo Quân Giải phóng Miền Nam.
Xem thêm
Nhà văn - dịch giả Trần Như Luận với tác phẩm “Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh - Mỹ kinh điển, lừng danh”
Tháng Sáu 2022, trên Báo Thanh Niên rồi Tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, nhà báo Hà Tùng Sơn và nhà phê bình văn học Vân Phi giới thiệu tác phẩm thứ 7 của nhà văn Trần Như Luận (TNL): tiểu thuyết Gương Mặt Loài Homo Sapiens. Trước đó, anh từng gây tiếng vang nhờ giá trị đáng kể của bộ tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 Đệ Tử dày tới 1.200 trang, trình làng năm 2014. Chúng tôi cũng biết tới cả trăm tác phẩm dịch của anh, cả thơ và truyện, xuất hiện trên các tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Văn nghệ Quân đội, Non Nước, Sông Hương, v.v… Xuân Giáp Thìn 2024, nhà văn ra mắt một “dịch phẩm” hoàn toàn mới: Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh – Mỹ kinh điển, lừng danh. Sách dày 320 trang, bìa bắt mắt. Sách được Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam thẩm định chất lượng và hỗ trợ kinh phí; NXB Hội Nhà văn cấp phép. Nhân một cuộc hẹn thú vị tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trong một quán cà phê tao nhã, không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn này.
Xem thêm