TIN TỨC

Dòng sông tâm thức của Elena trong “Hạt bụi lênh đênh”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-25 15:07:12
mail facebook google pos stwis
1618 lượt xem

Trong những câu chuyện đan xen giữa thể loại tùy bút và truyện ngắn và tôi chọn 7 bài viết trong “Hạt bụi lênh đênh” để nói về “dòng sông tâm thức” của Elena đã trải qua .

Thiền sư Nhất Hạnh khi đề cập đến dòng sông tâm thức giảng rằng “Nhà triết học David Hume đã nói: “Thức là một tia sáng hay một chuỗi những tri giác khác nhau diễn ra liên tục với một tốc độ phi thường”. Các tâm hành biểu hiện và tiếp nối nhau như một dòng sông. Khi nhìn vào dòng sông, chúng ta nghĩ rằng dòng sông là một thực thể không bao giờ thay đổi, nhưng đó là do tâm thức của chúng ta tạo ra. Khi ngồi trên bờ sông, chúng ta thấy rằng dòng sông mà chúng ta đang quan sát bây giờ không giống với dòng sông mà chúng ta vừa mới xuống bơi lội. Heraclitus nói rằng chúng ta không thể tắm hai lần trong một dòng sông.

Trong quyển sách Evolution Creatric xuất bản năm 1908, Henri Bergson thường dùng thuật ngữ “kỹ thuật điện ảnh của tâm” (cinematographic mechanism of the mind). Khi xem phim chúng ta có cảm tưởng như có một câu chuyện thật đang xảy ra. Nhưng nếu kéo cuộn phim ra kiểm tra, chúng ta sẽ thấy chỉ có những bức tranh riêng lẻ nối tiếp nhau cho ta cảm giác có một thực thể tồn tại liên tục”.

Trong các câu chuyện kể của Elena ta cảm nhận sự biến chuyển không ngừng của tâm thức dù là trong im lặng. Một bà mẹ không sanh đứa con nào nhưng lại có sự thương yêu của hàng trăm đứa con người khác (mà theo nhà Phật là do nhân duyên cả). “Thế nhưng về sau thì bà cũng hiểu ra là bà còn có một niềm vui to lớn hơn nhiều: làm mẹ của hằng trăm đứa con. Bà đã nuôi dạy chúng, đã từng cạo trọc những mái đầu tí hon, chỉ chừa một nhúm tóc nhỏ, và dạy chúng vắt lên vành tai “và trong thinh lặng bà đã nghe âm thanh của niết bàn…” chính là khi đạt được trạng thái hài hòa trong vũ trụ quan Phật giáo. “Hãy quên bản thân và nghĩ đến tha nhân”, quên sự mưu cầu hạnh phúc cá nhân để chia sẻ và hòa đồng với người khác”. Ngày bà gặp lại một đứa con đã bỏ bà ra đi là ngày bà lìa bỏ cuộc đời này … trong hạnh phúc “Ôi, đã bao lâu bà chờ đợi phút giây này và lòng bà đang trào dâng một niềm hạnh phúc cho người con gái. Lòng bà bình yên và nhìn thấy tất cả niềm hạnh phúc và yêu thương của nàng sáng rực trong đôi mắt. Chẳng cần nói lời nào nữa, dù có là cái Tết cuối của cuộc đời, nhưng với bà đó là cái tết hạnh phúc nhất.”  Kho tàng của sự im lặng)

Hạnh phúc đó có thể là một chuyến đi lên Yên Tử với bao nhiêu khó khăn trắc trở vì đường sá, vì thời tiết. Bản thân tác giả trước kia cũng là một cô gái đua đòi mua sắm bỗng một ngày nghe lời rủ rê “Gặp nhau chắc sẽ vui lắm. Thứ bảy này mình đi ra ngọai thành đi. Lâu quá bặt tin… chắc có nhiều chuyện để kể cho nhau!” và rồi họ đã lên yên Tử, một ngọn núi thuộc tỉnh Quảng Ninh, và lấy cáp treo để lên đỉnh. Sau đó tiếp tục đi trên những con đường mòn đầy đá. Và rồi khi lên không nổi xuống không xong thì lại gặp mưa, giữa lúc tấn thối lưỡng nan “Bỗng tôi nghe từ phía sau lưng mình một người đang đến và một giọng đàn ông:- “Cố lên. Chỉ còn một chút nữa là đến đỉnh. Cô sẽ làm được!” và rồi, ngạc nhiên chưa! “Chúng tôi đã chinh phục độ cao. Và tôi cũng đã đến đây, bằng tất cả mọi nỗ lực, với đôi giày há mõm và áo quần ướt đẫm! Đó là một cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! …Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế.” Và tác giả cảm nhận sau chuyến đi sức mạnh của sự phấn đấu cho một tương lai tốt đẹp. (Trên đỉnh núi thiêng)

Tác giả còn đưa ta vào không gian của một chuyến đi Hà Nội vào đầu thập niên 1990 “để làm một nghiên cứu cho viện đại học Milano và tôi đã bị mê hoặc ngay bởi cái không gian bí ẩn của cố đô này.”  Bằng một vài nét chấm phá Elena đã bộc lộ cái hồn cốt của thủ đô Việt nam: “Có thể do cái lớp sương mù mỏng manh vào sáng sớm hay những chuyển động phơ phất của hàng liễu rũ bên bờ hồ Gươm hoặc những chiếc cầu vòng xuất hiện sau cơn mưa tầm tã và những tia nắng bắt đầu xuất hiện, đang chiếu qua những vòng cung của đền Ngọc Sơn và chiếc cầu Thê Húc sơn màu đỏ…  Nhưng chắc chắn là tất cả những điều ấy đã cho tôi cái ấn tượng Hà Nội là một thành phố đầy quyến rũ và bí ẩn”.

Tâm thức Elena còn lưu lại “vẻ đẹp của Hà Nội còn nằm ở những góc phố, nơi những cụ già ngồi phì phèo thuốc lá hay thỉnh thoảng rít một hơi thuốc lào để ngẫm nghĩ một thế cờ tướng dưới bóng một tàng cây hay dưới mái hiên trước một ngôi nhà nhỏ”. Và hình dung ra “tôi tưởng mình đang cỡi rồng bay trên thành phố, luớt qua khu biệt thự Pháp và những căn nhà thời thuộc địa được che chắn bởi những hàng rào và cổng vào bằng sắt trang trí theo kiểu Liberty của đầu thế kỷ XX … Giống như một giấc mơ giữa ban ngày. Tôi muốn mình được bay như một cánh chim vừa thoát khỏi lồng, lơ lửng trên những con đường thuốc với những dụng cụ chưng cất đang hâm nóng bát thuốc trường sinh hay cỡi trên lưng một con cá vàng bơi dọc theo sông Hồng” (Hà Nội, nét đẹp bí ẩn).

Một chuyện cãi nhau của hai vợ chồng cũng làm tác giả bồi hồi suy nghĩ khi nhìn hai con chim mớm mồi âu yếm nhau. Tác giả suy ngẫm về tình yêu của loài người khi so sánh với chim “Đó chỉ là bản năng? Cũng có thể… Nhưng tôi tin là tình yêu giữa hai con chim đó còn có điều gì hơn thế: Đó là sự quan tâm của chàng chim này đến cô chim kia, giữa chúng có một ý thức trách nhiệm mà ít khi tôi thấy trong quan hệ giữa những con người trong thời đại ngày nay”. (Tình yêu)

 Nhưng khi tác gỉả viết về tình yêu của chính mình, chị viết với tất cả sự sâu lắng của cảm xúc và trí tuệ từ những chuyện hôm qua, hôm nay và ngày mai…

Với thời gian em hiểu là cả hai ta đều rất cô đơn. Tất nhiên là chúng ta có hai hoàn cảnh khác nhau, đối với em là sự thiếu thốn tình cảm, còn anh thì rời bỏ quê hương, đang sống xa gia đình và cuộc gặp bất ngờ đó đã mang hy vọng đến cho nỗi cô đơn của nhau”.

Và họ đã vượt qua mọi trở ngại “… Em chỉ biết và nghĩ rằng, anh đã viết để nói cho em hiểu rằng, điều mà trái tim của chúng ta cảm nhận có thể sẽ là một tình yêu lớn. Và cái cô vũ nữ bằng giấy bóng ấy chính là quà tặng đầu tiên mà anh đã gửi đến em. Nhưng chắc có lẽ anh cũng không thể nào hiểu là đối với em bức thư và món quà nhỏ ấy đã quan trọng như thế nào! ”.

 Chị còn nhớ như in chuyện hôm qua “Nhiều lần anh nói đùa là anh đã cưới em vì em đã dạy anh nhìn những ánh sao trên bầu trời hay lắng nghe tiếng rì rào của biển và chuyển động cuả thủy triều, còn em thì nói yêu anh vì sự bền bĩ, tính kiên trì và bằng cách mà chúng ta đã gần gũi và chia sẻ cùng nhau trong từng cảnh ngộ vui buồn”.

Thời gian rồi sẽ trôi qua, nhưng không phôi pha và đẹp làm sao, vì cho đến hôm nay chúng mình vẫn còn bên nhau để nhắc lại những kỷ niệm về tình yêu ngày cũ. (Hôm qua và ngày mai)

Tình yêu ấy khiến anh phải bay vào tâm dịch để trở về với chị trong hoàn cảnh “dầu sôi lửa bỏng” lúc ấy. Đẹp và đáng trân trọng thay!

Có chuyện chị thay mặt cho thân phận một cuốn sách kể về hành trình lưu lạc “Trên kệ ở một cửa hàng lớn, người ta lồng tôi vào một chiếc bao nhựa, nhưng tôi không phải nằm lâu trong đó vì chỉ một ngày sau là đã có hai bàn tay háo hức kéo tôi ra khi chân anh chưa bước hẳn ra khỏi tiệm”. Có thể đó một cậu sinh viên ham mê vồ vập nhưng rồi có khi bị bỏ quên trên kệ “Cũng có thể là tôi sẽ nằm yên ở đấy mặc tình cho nhện giăng một thời gian nếu không có đôi bàn tay dịu dàng của một cô gái…” Rồi đột nhiên tôi thấy mình bị nhốt trong một chiếc thùng carton cùng với những vật dụng khác… cuối cùng tôi cũng được mang đến và nằm trong tay người bạn già. Tôi đã thấy sông, thấy biển, nghe được cả những hơi thở hổn hển, của đam mê và niềm sảng khoái trong các động tác ái tình. Và thế là thân phận bị quên lãng của tôi cũng chấm dứt. Để trở thành một người bạn và tôi như lại được sống thêm một lần nữa. (Đời sách)

Nhưng có lẽ câu truyện mà chị lấy làm tiêu đề cho tác phẩm mới đang kể “Hạt bụi lênh đênh- Vivere senza radici” khi nhân vật chính gặp một nhà sư tình cờ trong một chuyến bay. Phải nói thêm là bản thân nhân vật chính cũng là đứa trẻ mồ côi “Tôi là một đứa bé mồ côi, bị bỏ rơi ở một góc đường trong một thành phố nhỏ ở Á châu mà tôi không còn nhớ là đâu... Rồi một ngày, có một nhà sư từ xa đến chùa, lúc ra đi ông dắt tôi theo. Đó chính là sư phụ của tôi. Tôi đã học thật sâu về nỗi đau, làm thế nào để giúp mọi người sống khỏe mạnh thông qua thuật châm cứu, bấm huyệt và ngôn ngữ phù hợp để khuyên họ làm thế nào để vượt qua nỗi đau thể xác và khổ sở tâm hồn…Tôi không biết gì về sự ra đời của mình, tôi sống mà không có gốc rễ, tôi như một hạt bụi lênh đênh, bay từ châu lục này qua châu lục khác nhưng mỗi lần tôi có một cuộc gặp và giúp được một người nào đó thì tôi hiểu lý do vì sao tôi phải sống cuộc sống này.” Khi gặp vị sư già, anh để ý thấy “chiếc mũ lệch về phía sau và rơi xuống, để lộ ra mấy vết cháy hình tròn trên đỉnh đầu, tất cả đều tròn và bằng nhau nên không thể cho đó là những vết phỏng tình cờ.” Nhưng bất hạnh thay, anh bị rơi vào tình trạng đột quỵ và người ta đưa anh đến phòng cấp cứu “Tôi nằm một mình và lòng đầy lo ngại trong một căn phòng vô trùng ở bệnh viện John Hopkins ở Baltimore thuộc tiểu bang Maryland. Người ta đã mang tôi từ sân bay đến đây bằng xe cứu thương. Lúc tỉnh dậy thì bác sĩ cho hay là sau khi máy bay hạ cánh, vừa bước ra thì tôi bị té ngã. Có thể là một cơn đau tim. Các bác sĩ đã khó khăn lắm mới giúp tôi hồi sức, và bây giờ tôi đang nằm trong tình trạng cần theo dõi.” Anh luôn mang trong mình mặc cảm “là người không có quá khứ, tôi cũng sống mà không biết cội rễ nhưng tôi sống mà chẳng có ích gì cho ai, thật khác với vị tu sĩ khiêm tốn này” Và sau cơn mê sảng, anh gặp lại vị sư hồi nãy trên máy bay. Vị sư nói “Ông bác sĩ đang chữa trị cho bạn đã gọi cho tôi nhưng thú thật trước đó tôi không bao giờ tưởng là mình sẽ được gặp lại bạn. Chắc bạn đã trải qua nhiều đau khổ và lo sợ, nhưng bây giờ bạn hãy bình tĩnh nhé. Bạn không còn cô đơn hay chỉ một mình nữa đâu.”

Tôi không còn sợ nữa. Ông chính là người duy nhất mà tôi muốn gặp lại trong lúc này để từ giã, người anh em ạ.

Đó chính là lời nói cuối cùng của tôi và tôi đã vĩnh viễn rời bỏ phút giây ấy, để yên bàn tay tôi trong bàn tay nhà sư, trong khi từ đôi mắt của ông, dường như cũng đang có vài giọt nước mắt đang rơi xuống.”

 Câu chuyện kết thúc trong bi thương nhưng phù hợp với lẽ vô thường. Chúng ta nhớ những nhân vật của William Faulkner đều cảm nghiệm sự quyến rũ của bất hạnh trong “Âm thanh và cuồng nộ” (The Sound and the Fury), của suy đồi hay cái chết. “Hạt bụi lênh đênh “không có bi kịch như trong “Vàng trên biển đá đen” khi nhân  vật ở đây thấu hiểu cuộc đời trong ý nghĩa uyên nguyên của nó, trong tình yêu đời và “hiểu mệnh” nói như Jean Poullon “ Hiểu mệnh  là cởi bỏ mệnh “  Understanding destiny is its undoing “(Time and destiny in William Faulkner) khi nói như ai đó rằng tất cả mọi người, dù sang hèn, giàu nghèo, mạnh yếu, đẹp xấu… đều bình đẳng trước cái chết. Chúng ta đều mang bản án tử hình, chỉ có khác nhau về thời gian thi hành án mà thôi. Nếu hiểu giáo lý nhà Phật, thấu triệt lý Vô ngã, chúng ta hiểu vạn vật trên thế gian này chỉ do duyên hợp, chúng ta càng thấm thía lẽ vô thường của trời đất.

Con người có khác gì bông hoa. Lúc mới nở thì trông thật dễ thương, kiêu sa, lộng lẫy với mùi hương nồng nàn khiến ta ngất ngây. Sau đó vài ngày các cánh hoa tàn úa theo quy luật thành-trụ-hoại-không không ai tránh khỏi! Thi sĩ Vũ Hoàng Chương có lần băn khoăn:

 Ta còn để lại gì không?

 Kìa non đá lở này sông cát bồi

 Lang thang từ độ luân hồi

 U minh nẻo trước xa xôi dặm về

Vâng chúng ta chỉ là hạt bụi lênh đênh thôi …

Ta như nghe lời bài hát Trịnh Công Sơn:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi... »

(Trịnh Công Sơn, Cát Bụi)

Nghe vọng vang như Lời Kinh thánh “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 3, 19), thân phận con người thật mong manh.

Hiểu được rõ ràng như vậy, ta mới không bị động tâm, không buồn khổ khi lẽ vô thường ứng dụng trên ta. Có đó rồi mất đó. Lý Bạch kêu lên “Xử thế nhược đại mộng. Hồ vi lao kỳ sinh?” Cuộc đời có khác gì giấc mộng Nam Kha, Ngày nay chúng ta đóng vai nghệ sỹ, giáo sư, giám đốc, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống trong một thời gian nào đó rồi chúng ta cũng sẽ già nua đi, phải từ giã công việc, vì không còn cái lộng lẫy, hào nhoáng thưở nào vì vinh quang không bao giờ vĩnh viễn .

 Nghĩ thân phù thế mà đau

 Bọt trong biển khổ bèo đầu bến mê

(Nguyễn Gia Thiều)

Tác giả còn một câu chuyện cảm động về hai bà mẹ, một ở Ý, một ở Việt Nam.

 Tình mẫu tử thiêng liêng bây giờ nhớ lại “Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con: anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ..” Rồi đau xót khi phải chia lìa mẹ “Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và từng ngày cướp đi sức sống.” Nhưng Elena đã kết nối bà với một bà mẹ khác. “Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội”.

Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.

Khi một trong hai bà còn sống, Elena phải tốn công giải thích tại sao có  hai đóa hồng hai màu khác nhau “ Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai…..; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng (vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.

Nhưng đến khi cả hai đều đã qua đời, tình yêu dành cho hai bà vượt ra ngoài phạm trù không – thời gian, lớn lao ngoài mong đợi vì cả hai đã qua bờ bên kia.

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ. 

Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.

Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.” (Thư viết cho mẹ)

Đấy là tất cả những gì Elena viết trong phần đầu của tập sách, ngần ấy trang viết chan chứa những tình cảm lắng về tình yêu, về số phận con người, về sự mong manh vô thường của kiếp người, nhưng nói như Andre Malraux “Đành rằng cuộc đời vô nghĩa nhưng có cái gì có nghĩa hơn cuộc đời đâu (Une vie ne vaut rien, mais rien ne vaut une vie). Thế nên nhà Phật dạy ta sự an nhiên khi đối diện cái chết và những biến động của đời sống.  Elena diễn tả tất cả triết lý nhân sinh ấy bằng một bút pháp nhẹ nhàng dung dị nhưng tràn đầy cảm xúc, sâu lắng và không kém phần uyên áo trong tư duy của một ngòi viết am hiểu những nguyên lý căn bản về đạo Phật. Đức Dalai Lama, một trong những nhân cách đáng kính nhất của thời hiện đại có nói: “Tôi không quan tâm đến tôn giáo của bạn hoặc bạn là người có tôn giáo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là thái độ của bạn trước đồng loại, gia đình, công việc, tập thể và thế giới. Bạn hãy nhớ rằng vũ trụ phản ảnh các hành động và suy nghĩ của bạn…”

 Và Elena đã trân trọng mô tả, ghi chép lại tất cả tình yêu thương dành cho gia đình, công việc, cộng đồng và thế giới xung quanh bằng trí tuệ mẫn tiệp và ngòi bút tài hoa của mình… Điều tôi viết chỉ là phần đầu của tác phẩm, còn phần tạp văn và suy tư của Elena dành cho bè bạn chiếm một dung lượng tương đương những gì vừa nói ở trên. Hãy đọc “Hạt bụi lênh đênh và cảm nhận trong tinh thần ấy.

 Sài Gòn, tháng 6, 2021

 Nguyên Cẩn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm