TIN TỨC

Êm ả một nỗi buồn của Lê Hoàng Anh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-08 16:44:52
mail facebook google pos stwis
2375 lượt xem

LỆ HỒNG


Quan niệm văn học của nhà thơ Lê Hoàng Anh: “Còn thi ca nghĩa là còn lòng nhân từ trên trái đất”.

ÊM Ả MỘT NỖI BUỒN
 

Thuyền nhỏ neo đợi ai

Trong xanh soi bóng chiếc

Hoàng hôn rộng và trong

Lãng đãng hồng ngấn nước

 

Và đâu đây văng vẳng

Bìm bịp ngắt quãng kêu

Điên điển vàng xiêu xiêu

Gió ngược lay bến vắng

 

Quê cha lâu về lại

Con bàng bạc nỗi buồn

Hình như chiếc cầu gỗ

Đã bắt đầu tróc sơn

 

Hình như hàng dừa ấy

Ai đã chặt mất rồi

Nhưng hình như hàng xoài

Lại xum xuê hơn trước

 

Có còn và có mất

Biết thế con vẫn buồn

Chiều mênh mông xa vắng

Một con thuyền cô đơn

                              (Rút từ tập thơ “Hạt thời gian” của Lê Hoàng Anh)

 

‘Êm ả một nỗi buồn’ Lời thì thầm với hoàng hôn!

Nhà thơ Lê Hoàng Anh trải nỗi buồn lên con sông quê cha một thuở. Dòng thời gian với tuổi đời tuổi nghề của chị là những cột mốc vàng, những thành tựu mà ít nhà thơ nữ gốc Sa Đéc nào có thể có được. Với hai bằng cử nhân ngữ văn và cao học lịch sử, được tặng thưởng kỷ niệm chương ‘Vì sự nghiệp văn học Việt Nam 2007’ cùng nhiều giải thưởng thơ khác. Bảy tập thơ, ba tập sách phê bình văn học và khảo cứu, một kịch bản sân khấu - đủ cho chúng ta sự ngưỡng mộ về tri thức lẫn tâm kiến của chị.

Đôi khi, chị ví mình là ‘Búp thông non’ lăn theo cơn gió bồng bềnh, gió đùa trái non tơ trượt mềm trên đồi lá xanh he hé. Có lúc là nụ cúc vàng tung nắng qua thảm cỏ may líu nhíu, những vần thơ khẽ khàng nhắc nhớ chị thế. Hoặc giản đơn chỉ là:

Thuyền nhỏ neo đợi ai

Trong xanh soi bóng chiếc

Góc nhớ của cô gái miền sông nước là người đi người còn ở lại, cuộc chia ly vì thế sẽ trở nên đắng đót. Tình yêu trong veo neo lại bến bờ, bất chấp những mùa gió chướng thổi rát mi. Phép ẩn dụ đã hóa màu mặt nước phù sa vàng đục, thoáng chốc soi được cả ráng chiều đẫm sắc.

Hoàng hôn rộng và trong

Lãng đãng hồng ngấn nước

Ánh tà dương phả lấp cả mảng sông, đôi mắt ai dõi theo ngút ngàn bóng lượn. Cuối vạch trời, những dãi lụa sóng màu huyết dụ dạt về, từng vạt ngấn nước hồng lãng đãng trôi. Có phải giọt lệ từ trái tim giữa mênh mông khắc nhớ. Mơ hồ, nhà thơ mang gánh buồn đặt lên chiếc lá vàng rơi, chầm chậm chờ lá vùi mình trong bóng chiều thinh nhẹ. Cảm giác được tưới mát, môi khẽ cười, an yên ngồi ngắm ánh tà nhỏ hạt xuyên mắt lá.

Chốn riêng của nhà thơ mong manh thế! Có lẽ với chị, cuộc đời nhẹ như cánh đồng cỏ lau phấp phới. Gió lao xao, hương sông quê có vị ngọt mặn mòi từ nước mắt vui buồn hãy thả lên sông thương!

Và đâu đây văng vẳng

Bìm bịp ngắt quãng kêu

Điên điển vàng xiêu xiêu

Gió ngược lay bến vắng

Không gian của người âm thầm chờ đợi được kết tinh từ tiếng vọng. Không giống bất kỳ nơi chốn nào, bởi các giác quan đã mặc niệm, chúng lặng lẽ kiếm tìm vết tích xưa. Văng vẳng tiếng bìm bịp ngắt quãng là tiếng tâm thức cựa mình. Nhành điên điển liêu xiêu phải chăng khúc xạ từ bóng mắt đã mõi nhừ canh thâu. Gió có xuôi ngược qua miền nhớ cũng chỉ ngân rung một dây trầm rưng rức. Các động từ láy gợi ký ức xưa, chuyện của cô bé ước được thấy lại tuổi thơ trong trẻo, vẫn ngắc ngứ giữa đôi bờ thực mộng.

Hình ảnh vừa tĩnh vừa động lắt lay cả một dãi sông dài. Âm vang tứ bề dội vào đáy sông cô đơn bật khẽ. Nhà thơ gọi ai, hay bến vắng tủi hờn lên tiếng.

Thì đây:

Quê cha lâu về lại

Con bàng bạc nỗi buồn

Hay con đã bàng bạc tóc mây pha gió nắng. Thời gian có vẻ nên bức tranh chiều nhuộm tím triền bờ, vẫn không thể lột tả được các vết nức giằng trong dấu nhớ. Lạc vườn xưa mất rồi, Cha ơi!

Hình như chiếc cầu gỗ

Đã bắt đầu tróc sơn

‘Hình như’ biểu đạt của nhớ nhớ quên quên. Được hình tượng hóa qua chiếc cầu gỗ đã bắt đầu tróc sơn. Cầu tróc lâu rồi đấy, nhưng nhà thơ không muốn nhìn nhận mình đã phiêu dạt đến muôn trùng vòng xoáy. Để người ở lại, dẫu chỉ còn là sương khói, váng vất qua những con đường đê cỏ cháy. Sương tan, rớt lại một vệt sầu cố hương, bến lặng!

Hình như hàng dừa ấy

Ai đã chặt mất rồi

Ký ức lao xao, bởi tâm không thể ngủ yên. Hoài niệm xa dần cùng vạt nắng hè rọi qua song cửa. Hàng dừa ấy đâu rồi? Tuổi thơ từng dung dăng qua lối mòn dưới bóng râm mát rượi. Nô đùa, té lăn, choàng tỉnh!

Nhưng hình như hàng xoài

Lại xum xuê hơn trước

Quy luật vĩnh hằng của sự sống, vật chất không hề mất đi, chúng chỉ chuyển từ trạng thái này sang hình thái khác. Các thiên thần luôn bất biến, chồi non lại sẽ vươn mầm. Cố gắng an ủi mình để hiểu rằng mỗi giây phút trôi qua trong cuộc đời ta là quý giá, chị mỉm cười như bé ngoan được quà.

Hàng xoài lại xum xuê, ngày và đêm có làm nhung nhớ vơi đi? Sao buốt cả bờ mi lưa thưa, nốt đồi mồi trên đôi má chợt lún sâu thăm thẳm, ta đã khác xưa rồi.

Có còn và có mất

Biết thế con vẫn buồn

Thời khắc có lúc dừng lại chờ, nhộng hóa bướm vàng bay đi, thoang thoảng lời mùa xuân hát. Con lại thấy cánh én lượn trời xanh mà tâm con tím lặng. Lại êm ả một nỗi buồn dìu dịu! Tay chợt đặt lên ngực trái, lắng nghe tiếng ru thời thơ dại. Dẫu đuôi mắt dầy dấu chân chim, và sự thấu hiểu đã chừng lên ngưỡng, thế mà con vẫn buồn!

Cơn lốc nào có thể đưa chiếc võng bên hàng dừa xanh trở lại. Chiếc quạt mo gõ nhịp lên vai con gầy, liêu diêu dáng cha ôm con vỗ về yêu dấu. Xa quá, tay với lạc tầng không, con như trôi vào bóng tà dương tê dại. Đã cố nép mình tìm bến tựa thì cõi hư vô vẫn lạc loài.

Chiều mênh mông xa vắng

Một con thuyền cô đơn.

Ước nỗi buồn hóa thinh không, để mãi là êm ả!

Nhà thơ đã lên chiếc thuyền lặng tờ một dòng trong xanh nhớ. Yên bình cùng miền quê xưa đùa giỡn, với bóng mình!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm