TIN TỨC

Êm ả một nỗi buồn của Lê Hoàng Anh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-08 16:44:52
mail facebook google pos stwis
2748 lượt xem

LỆ HỒNG


Quan niệm văn học của nhà thơ Lê Hoàng Anh: “Còn thi ca nghĩa là còn lòng nhân từ trên trái đất”.

ÊM Ả MỘT NỖI BUỒN
 

Thuyền nhỏ neo đợi ai

Trong xanh soi bóng chiếc

Hoàng hôn rộng và trong

Lãng đãng hồng ngấn nước

 

Và đâu đây văng vẳng

Bìm bịp ngắt quãng kêu

Điên điển vàng xiêu xiêu

Gió ngược lay bến vắng

 

Quê cha lâu về lại

Con bàng bạc nỗi buồn

Hình như chiếc cầu gỗ

Đã bắt đầu tróc sơn

 

Hình như hàng dừa ấy

Ai đã chặt mất rồi

Nhưng hình như hàng xoài

Lại xum xuê hơn trước

 

Có còn và có mất

Biết thế con vẫn buồn

Chiều mênh mông xa vắng

Một con thuyền cô đơn

                              (Rút từ tập thơ “Hạt thời gian” của Lê Hoàng Anh)

 

‘Êm ả một nỗi buồn’ Lời thì thầm với hoàng hôn!

Nhà thơ Lê Hoàng Anh trải nỗi buồn lên con sông quê cha một thuở. Dòng thời gian với tuổi đời tuổi nghề của chị là những cột mốc vàng, những thành tựu mà ít nhà thơ nữ gốc Sa Đéc nào có thể có được. Với hai bằng cử nhân ngữ văn và cao học lịch sử, được tặng thưởng kỷ niệm chương ‘Vì sự nghiệp văn học Việt Nam 2007’ cùng nhiều giải thưởng thơ khác. Bảy tập thơ, ba tập sách phê bình văn học và khảo cứu, một kịch bản sân khấu - đủ cho chúng ta sự ngưỡng mộ về tri thức lẫn tâm kiến của chị.

Đôi khi, chị ví mình là ‘Búp thông non’ lăn theo cơn gió bồng bềnh, gió đùa trái non tơ trượt mềm trên đồi lá xanh he hé. Có lúc là nụ cúc vàng tung nắng qua thảm cỏ may líu nhíu, những vần thơ khẽ khàng nhắc nhớ chị thế. Hoặc giản đơn chỉ là:

Thuyền nhỏ neo đợi ai

Trong xanh soi bóng chiếc

Góc nhớ của cô gái miền sông nước là người đi người còn ở lại, cuộc chia ly vì thế sẽ trở nên đắng đót. Tình yêu trong veo neo lại bến bờ, bất chấp những mùa gió chướng thổi rát mi. Phép ẩn dụ đã hóa màu mặt nước phù sa vàng đục, thoáng chốc soi được cả ráng chiều đẫm sắc.

Hoàng hôn rộng và trong

Lãng đãng hồng ngấn nước

Ánh tà dương phả lấp cả mảng sông, đôi mắt ai dõi theo ngút ngàn bóng lượn. Cuối vạch trời, những dãi lụa sóng màu huyết dụ dạt về, từng vạt ngấn nước hồng lãng đãng trôi. Có phải giọt lệ từ trái tim giữa mênh mông khắc nhớ. Mơ hồ, nhà thơ mang gánh buồn đặt lên chiếc lá vàng rơi, chầm chậm chờ lá vùi mình trong bóng chiều thinh nhẹ. Cảm giác được tưới mát, môi khẽ cười, an yên ngồi ngắm ánh tà nhỏ hạt xuyên mắt lá.

Chốn riêng của nhà thơ mong manh thế! Có lẽ với chị, cuộc đời nhẹ như cánh đồng cỏ lau phấp phới. Gió lao xao, hương sông quê có vị ngọt mặn mòi từ nước mắt vui buồn hãy thả lên sông thương!

Và đâu đây văng vẳng

Bìm bịp ngắt quãng kêu

Điên điển vàng xiêu xiêu

Gió ngược lay bến vắng

Không gian của người âm thầm chờ đợi được kết tinh từ tiếng vọng. Không giống bất kỳ nơi chốn nào, bởi các giác quan đã mặc niệm, chúng lặng lẽ kiếm tìm vết tích xưa. Văng vẳng tiếng bìm bịp ngắt quãng là tiếng tâm thức cựa mình. Nhành điên điển liêu xiêu phải chăng khúc xạ từ bóng mắt đã mõi nhừ canh thâu. Gió có xuôi ngược qua miền nhớ cũng chỉ ngân rung một dây trầm rưng rức. Các động từ láy gợi ký ức xưa, chuyện của cô bé ước được thấy lại tuổi thơ trong trẻo, vẫn ngắc ngứ giữa đôi bờ thực mộng.

Hình ảnh vừa tĩnh vừa động lắt lay cả một dãi sông dài. Âm vang tứ bề dội vào đáy sông cô đơn bật khẽ. Nhà thơ gọi ai, hay bến vắng tủi hờn lên tiếng.

Thì đây:

Quê cha lâu về lại

Con bàng bạc nỗi buồn

Hay con đã bàng bạc tóc mây pha gió nắng. Thời gian có vẻ nên bức tranh chiều nhuộm tím triền bờ, vẫn không thể lột tả được các vết nức giằng trong dấu nhớ. Lạc vườn xưa mất rồi, Cha ơi!

Hình như chiếc cầu gỗ

Đã bắt đầu tróc sơn

‘Hình như’ biểu đạt của nhớ nhớ quên quên. Được hình tượng hóa qua chiếc cầu gỗ đã bắt đầu tróc sơn. Cầu tróc lâu rồi đấy, nhưng nhà thơ không muốn nhìn nhận mình đã phiêu dạt đến muôn trùng vòng xoáy. Để người ở lại, dẫu chỉ còn là sương khói, váng vất qua những con đường đê cỏ cháy. Sương tan, rớt lại một vệt sầu cố hương, bến lặng!

Hình như hàng dừa ấy

Ai đã chặt mất rồi

Ký ức lao xao, bởi tâm không thể ngủ yên. Hoài niệm xa dần cùng vạt nắng hè rọi qua song cửa. Hàng dừa ấy đâu rồi? Tuổi thơ từng dung dăng qua lối mòn dưới bóng râm mát rượi. Nô đùa, té lăn, choàng tỉnh!

Nhưng hình như hàng xoài

Lại xum xuê hơn trước

Quy luật vĩnh hằng của sự sống, vật chất không hề mất đi, chúng chỉ chuyển từ trạng thái này sang hình thái khác. Các thiên thần luôn bất biến, chồi non lại sẽ vươn mầm. Cố gắng an ủi mình để hiểu rằng mỗi giây phút trôi qua trong cuộc đời ta là quý giá, chị mỉm cười như bé ngoan được quà.

Hàng xoài lại xum xuê, ngày và đêm có làm nhung nhớ vơi đi? Sao buốt cả bờ mi lưa thưa, nốt đồi mồi trên đôi má chợt lún sâu thăm thẳm, ta đã khác xưa rồi.

Có còn và có mất

Biết thế con vẫn buồn

Thời khắc có lúc dừng lại chờ, nhộng hóa bướm vàng bay đi, thoang thoảng lời mùa xuân hát. Con lại thấy cánh én lượn trời xanh mà tâm con tím lặng. Lại êm ả một nỗi buồn dìu dịu! Tay chợt đặt lên ngực trái, lắng nghe tiếng ru thời thơ dại. Dẫu đuôi mắt dầy dấu chân chim, và sự thấu hiểu đã chừng lên ngưỡng, thế mà con vẫn buồn!

Cơn lốc nào có thể đưa chiếc võng bên hàng dừa xanh trở lại. Chiếc quạt mo gõ nhịp lên vai con gầy, liêu diêu dáng cha ôm con vỗ về yêu dấu. Xa quá, tay với lạc tầng không, con như trôi vào bóng tà dương tê dại. Đã cố nép mình tìm bến tựa thì cõi hư vô vẫn lạc loài.

Chiều mênh mông xa vắng

Một con thuyền cô đơn.

Ước nỗi buồn hóa thinh không, để mãi là êm ả!

Nhà thơ đã lên chiếc thuyền lặng tờ một dòng trong xanh nhớ. Yên bình cùng miền quê xưa đùa giỡn, với bóng mình!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm