TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Lạc lối đến thiên đường” hay là thông điệp của sự yêu thương

“Lạc lối đến thiên đường” hay là thông điệp của sự yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-26 14:04:41
mail facebook google pos stwis
1136 lượt xem

(Đọc “Lạc lối đến thiên đường”, Tiểu thuyết của Đới Xuân Việt, Nxb tổng hợp Tp HCM, 2025)

Nhà thơ Trương Nam Hương giới thiệu tôi làm quen với đạo diễn, nhà biên kịch điện ảnh Đới Xuân Việt. Được biết trong làng phim nhựa ông Việt từng đoạt một số giải thưởng tại các liên hoan phim Việt Nam như tác phẩm Người đàn bà nghịch cát, Anh chỉ có mình em. Các phim tài liệu khoa học như Môi trường Việt Nam đầu thế kỷ 21, Mùa chim di cư, Cây di sản và bản sắc văn hóa Việt Nam, cũng gây ấn tượng và được giới chuyên môn đánh giá cao. Ngoài làm biên kịch, đạo diễn, Đới Xuân Việt rất mê văn chương và đã có một số đầu sách của riêng mình như Đi qua vừng mặt trời (2019), Anh chỉ có mình em (2020), Hoa Đỗ Quyên nở muộn (2020), Truyền thuyết nàng Tuyệt Vời (2022), Về nơi nguồn cội (2024). Ông là Hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Bìa tác phẩm Lạc lối đến thiên đường

Một ngày của tháng 4/2025 hai chúng tôi gặp nhau. Người đàn ông có dáng người thấp, nho nhã, giọng nói nhỏ nhẹ khúc triết, cặp mắt đặc biệt tinh anh nói với tôi rằng ông từng là học sinh giỏi văn miền Bắc. Cha của ông là GS ngôn ngữ Đái Xuân Ninh cũng giảng dạy đại học và viết sách. Ra là như thế. Như tôi biết thì các nhà thơ Lương Minh Cừ, Vũ Thiên Kiều, Nguyễn Vũ Quỳnh thảy đều là học sinh giỏi văn miền Bắc và giờ đều thành tựu trong văn chương. Nói thế để thấy cái mác học sinh giỏi văn miền Bắc nó oách cỡ nào. Ông Việt đưa cho tôi tập bản thảo cuốn tiểu thuyết có tựa đề Lạc lối đến thiên đường chừng trăm ba trăm tư trang vi tính khổ giấy A4 để đọc và góp ý, và tôi đã nhận lời. Tôi đã đọc một mạch từ dòng mở đầu cho tới dòng cuối cuốn sách và gần như ngay lập tức nhận ra chiến tranh trong sách của ông Việt có sự khác biệt phải nói là rõ ràng trong mối liên hệ với các tác phẩm cùng viết về chiến tranh của các tác giả khác. Đề tài chiến tranh thống lĩnh văn đàn nhiều thập kỷ. Có thể kể ra đây Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Xuân Lộc của Hoàng Đình Quang, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, thậm chí hồn cốt Tướng về hưu của vua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng bấu víu vào chiến tranh dù nội dung về thời kinh tế thị trường. Rất nhiều các vị tướng tá giờ cũng ra sách kể chuyện thời binh lửa. Tóm lại sách văn học về đề tài chiến tranh rất nhiều và chẳng bao giờ dừng lại bởi càng có độ lùi về thời gian thì sự soi chiếu các sự kiện sẽ càng khách quan và công tâm, sâu sắc hơn. “Người ta gọi mùa hè năm 1972 ở Quảng Trị là mùa hè đỏ lửa. Không phải chỉ vì đạn pháo và bom các loại của Mỹ được dội xuống dày đặc ở mảnh đất này mà còn được phụ họa bởi thời tiết khắc nghiệt của dải đất dằng dặc khúc ruột miền Trung. Những cơn gió Lào khô nóng đã nung nhà, nung cửa, cây cối và vạn vật đến cháy bỏng, đen thui.” – Đới Xuân Việt đã mở màn tác phẩm của mình như vậy. Giữa một rừng sách dĩ nhiên khó có thể quán xuyến hết, tôi đọc Lạc lối đến thiên đường và không có cảm giác bị trùng lặp. Thiết nghĩ không trùng lặp với người khác đã là một thành công của sự sáng tạo.   

Nhà văn Cao Chiến (trái) và nhà văn Đới Xuân Việt

Tác phẩm không có nhiều tình tiết gay cấn ngoại trừ mối tình tay ba giữa Phương và hai nữ thanh niên xung phong Thơm và Đào và cuộc đấu khẩu của Phương với nhân vật Diêm Vương ở âm ti địa phủ. Ở tình huống sau khi bị bom làm sập hầm và được cứu (quả bom đã không phát nổ bằng không chàng kỹ sư ở đơn vị sửa chữa ô tô thuộc Tổng cục Hậu cần phục vụ mặt trận Quảng Trị đã tan xương nát thịt), Phương rơi vào trạng thái như người sống trong u minh, lúc nào cũng nghĩ mình “đi” rồi. Anh thấy mình bay về quê hương, bị Diêm Vương ở âm ti địa phủ gọi tra hỏi về cuộc sống của anh ở cõi phàm, có tham ô gái gú gì không. Chao ôi ranh giới giữa hư và thực hết sức mong manh, người viết đuối hơi một chút có thể khiến mạch chuyện đứt gãy, nhưng nếu sung quá thì hệ quả thậm chí tai hại hơn, khiến cho nội dung vỡ vụn. Độc giả cụ thể ở đây là tôi đôi lúc phân tâm ghê gớm nhưng thật may mắn là Đới Xuân Việt làm chủ được tình huống và diễn biến trong câu chuyện đều ổn thỏa. Căn bệnh “âm” bí hiểm của Phương khiến Quân y đơn vị thúc thủ. Thủ trưởng và Quân y quyết định chuyển qua phương thức điều trị dân gian như bấm huyệt, xua bóp, sắc lá thuốc để cứu đồng đội của mình thoát hiểm. Sự xuất hiện của Tấn cùng hai nữ thanh niên xung phong Đào và Thơm đã thổi luồng gió lành vào Phương khiến anh hồi phục tâm trí. Đào và Thơm yêu Phương và Phương cũng có tình cảm với họ. Trong khoảng thời gian ngắn Phương đã “yêu” cả hai dẫn tới kết cục một trong hai cô là Thơm có mang. Sự dan díu tay ba là gút thắt chẳng dễ cởi bỏ và có thể đưa tới những hệ lụy. Yêu gì mà yêu tham thế, những hai cô lận, hơn nữa họ lại là chí cốt của nhau. Thực sự gút thắt khó gỡ nhưng Đới Xuân Việt đã gỡ rất mượt. Mối tình ở chừng mực nhất định có thể coi là tình tay ba nhưng lại hết sức trong trẻo dù đã “lên giường” tới bến. Để hiểu được tại sao lại như vậy thì chỉ còn cách tự mình đọc và ngẫm và cảm chứ tôi không diễn giải được. Lạ thế!    

Và cũng lần đầu tiên, là tôi cho như vậy, hình ảnh người lính dắt những chú lừa đi phục vụ chiến trường được viết ra bằng văn xuôi, đương nhiên trong ngữ cảnh phục vụ cho câu chuyện, khiến tôi bất giác liên tưởng tới bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la (trong chùm thơ được trao giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 72-73) của Hoàng Nhuận Cầm:

“Anh bộ đội xắn quần đi trong mưa

Bầy la theo rừng già, rừng thưa

Rừng đâu chỉ có giọng chim lạ

Còn có tiếng nhạc trên cổ la”...

Thực tiễn chiến trường muôn hình vạn trạng không thể dùng trí tưởng tượng để đo đếm. Thơ và văn xuôi trong tình huống này đã bổ sung thông tin cho nhau một cách sống động. Ông Việt có khả năng tạo dựng và giải quyết tình huống tốt. Việc khắc họa tính cách nhân vật cũng vậy, rất rõ nét. Dung - Đại đội trưởng thanh niên xung phong, Đào, Thơm, Lý, ông Thọ - chính trị viên của họ, mỗi người mỗi tính cách chẳng ai giống ai. Các nhân vật trong đại đội sữa chữa xe ô tô như Phương, Hợi, Đáo, Chính trị viên Ứng, Đại đội trưởng Thuận, Tấn…cũng thế. Rõ là phải có chút tài, trong quan sát, trong hiểu biết tâm lý, mới có thể viết ra được như vậy.

Tác phẩm Lạc lối đến thiên đường được viết bằng ngôn ngữ hồn nhiên đậm chất Hà Nội băm sáu phố phường. Có những trang văn bùi ngùi bàng bạc sương khói như cảnh Thơm dắt con đi ra cánh đồng cỏ may đầy gió gọi tên người yêu trong tuyệt vọng. Hoặc khi Thơm và Phương quấn quít bên nhau... Gái một con trông mòn con mắt, là các cụ nhà ta nói thế, trong khi Phương biệt tích, Thơm đã hoàn thành nghĩa vụ thanh niên xung phong trở về. Quả là những ngày tháng đong bằng nước mắt của cuộc đời người con gái không chồng mà chửa. Khi những mừng vui đã lắng xuống giờ là lúc những nghi ngờ lên tiếng. Chồng ở đâu mà chẳng thấy xuất hiện. Gia đình, họ hàng hối thúc Thơm phải lựa chọn. Họ đã “chấm” con của ông Lợi, 25 tuổi hơn Thơm 2 tuổi, gia đình buôn bán, cho cô. Thơm tuyệt vọng, nhưng ở trong cô không mất đi hi vọng, và cô đã nói với ông Phán, cha mình thế này: “Con xin nói thật, là bộ đội trước sau như một, chồng con không nói dối, không xảo trá, lừa lọc. Bộ quốc phòng điều động anh ấy về Hà Nội không phải để nghỉ ngơi mà là nhận nhiệm vụ mới, chắc là rất quan trọng. Chiến tranh sắp kết thúc, anh ấy sẽ trở về. Bố không phải đợi lâu đâu. Còn cái cậu con trai ấy con chẳng lạ gì. Cứ mỗi lần khám nghĩa vụ quân sự cậu ta lại trốn biệt sang tỉnh khác. Cái loại trốn chui trốn lủi ấy nhân cách có ra cái gì. Có giàu, con cũng không thèm”. Đó không chỉ là lời nói mà là lý tưởng, niềm tin của một thế hệ những con người trong chiến tranh và có ý nghĩa rất sâu sắc với hiện tại. Tiểu thuyết kết thúc có hậu, và tôi cũng thích một cái kết có hậu.

Chẳng có gì lạnh lùng và nghiệt ngã hơn thời gian. Số lượng tác phẩm văn học viết về chiến tranh có thể nói là đồ sộ nhưng năm tháng chỉ còn một số đọng lại. Tôi tin, một cách chủ quan, rằng Lạc lối đến thiên đường của Đới Xuân Việt sẽ tìm được một bến đậu trong lòng độc giả. Ngoài giá trị tự thân mà tác phẩm đem tới, sự xuất hiện trong bối cảnh tưng bừng kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước (30.4.1975-30.4.2025), 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19-5-2025), 80 năm Quốc khánh (2.9.1945-2.9.2025) cũng đồng thời tạo xúc tác để tác phẩm cất cánh. Trên hết đó là giá trị của sự yêu thương. “Chỉ có tình yêu và khát vọng sống mới chữa lành được vết thương chiến tranh” – Đới Xuân Việt đã viết như vậy ở trang đầu như một thông điệp của tác phẩm và của tâm tình tác giả gửi tới độc giả. Tôi vui mừng thông báo với mọi người đây là cuốn tiểu thuyết rất đáng để trên bàn làm việc và trong tủ sách. Các bạn sẽ không thất vọng khi đọc nó.

Tp HCM, 5.2025

Cao Chiến

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm