TIN TỨC

“Hai phía một đời sông” - thơ Nguyễn Vĩnh Bảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-23 15:54:32
mail facebook google pos stwis
4097 lượt xem

ĐẶNG NGUYỆT ANH

Mời các bạn đến với “HAI  PHÍA  MỘT  ĐỜI  SÔNG”.

Sông Chanh của Nguyễn Vĩnh Bảo nhỏ bé lắm.

Không sóng trào nước xoáy như Cửu Long Giang của Nguyễn Bính.

Không réo sôi lên truyền thống Bạch Đằng như của Nguyễn Hải Trừng.

Không cuồn cuộn dâng trào như Sông Thao của Đỗ Nhuận.

Không nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ như sông Đuống của Hoàng Cầm.

Không dạt dào như Vàm Cỏ Đông của Hoài Vũ.

Và cũng không nồng nàn da diết như con sông quê hương của Tế Hanh...

Sông Chanh của Nguyễn Vĩnh Bảo nhỏ bé lắm, êm đềm lắm, lặng lẽ lắm, hiền hòa lắm…

Dịu dàng e ấp như thiếu nữ mới lớn

Sông  chảy qua một miền quê cũng lặng lẽ, êm đềm, hiền hòa …

Đó là miền quê  Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Miền đất Học, đất Quan, đất Trạng Trình, đất sinh hương,  đất thuốc lào, đất Cổ Am gái đẹp…

(Tôi đã đến Vĩnh Bảo, đi qua Cầu Mục, Cầu Muôn, không biết đã đi qua sông Chanh của Nguyễn Vĩnh Bảo chưa?)

Qua 6 tập thơ, tập nào NVB cũng nói tới sông Chanh, nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần.

Sông Chanh quấn quýt, vương vấn hồn anh, chảy qua đời anh, chảy qua thơ anh: “Đời ta rồi cũng như sông/ Chảy mãi, chảy đến mênh mông biển chờ...”

Hai phía một đời sông, là những phía nào vậy? Ấy là phía lở - phía bồi, phía đầu nguồn - phía cửa bể, phía xa xưa - phía mai sau, phía anh - phía em, phía thực - phía mơ, phía yêu thương - phía giận hờn, phía quên - phía nhớ... “Có khi nào ngắm bờ quên bờ nhớ/ lở và bồi năm tháng nuôi ta”.

Cuộc mưu sinh khốc liệt, có thể bật con người từ đầu trời đến cuối đất. Nguyễn Vĩnh Bảo cũng nằm trong vòng xoáy ấy. Anh phải xa quê hương, xa sông Chanh yêu dấu với bao kỉ niệm thân thương “Một con đò nhỏ đi về/ Bóng sông trôi giữa bộn bề áo cơm”. Nhớ quê là nhớ Mẹ, nhớ sông : “Mẹ ngồi giặt chiếc áo nâu/ Mồ hôi mặn xuống một đầu con sông”. Sông Chanh và quê nghèo đã gắn bó máu thịt với NVB. Thương quê, thương sông càng thương Mẹ. Càng thương những phận người lam lũ sớm hôm, đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn, vẫn không thoát  khỏi cảnh nghèo khó “Thương cho thân phận nhà nông/ Trông trời trông đất vẫn không thoát nghèo”.

Mẹ là niềm thương cảm lớn nhất, là nỗi trăn trở nhiều  nhất, Mẹ đã tận tụy hy sinh cho con. “Chiến  tranh cong hai đầu Tổ quốc…  Mẹ đã sống những ngày buồn dài, vui ngắn/ Giấu nụ cười vào vầng trăng xa xôi”. Mẹ đã đi xa rồi, nhưng Mẹ vẫn như còn đâu đây, vẫn đi về bên con, vẫn nghe Mẹ kể ngày xưa, thực mơ đan xen hòa quyện “Sông Chanh vỗ khúc ngày xưa/ Mẹ tôi vẫn kể…như vừa hôm qua”. Bóng hình Mẹ vẫn  vô cùng gần gũi.

Và con, đi đâu rồi cũng “Trở về Mẹ”.  Như cây nhớ gốc, như sông ơn nguồn.  “Chẳng có gì xô đẩy được con/ Cắt giọt máu con chảy ngoài tim Mẹ/ Dẫu tuổi con có bao nhiêu lầm lỡ/ Vẫn nhìn trời, hướng Mẹ mà đi”…  “Con trở về những vui buồn đích thực/ Trong ngôi nhà Mẹ đã sinh con”… “Con đã ra đi, con đã trở về/ Nơi Mẹ có con, nơi con có Mẹ”.  Những câu thơ về Mẹ thật giản dị mà người đọc rưng rưng!…            

Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn giữ được cái hồn quê thuần khiết, với giọng lục bát mượt mà duyên dáng:

Và tin nụ sẽ thành hoa/ Thơm cho hết những ngày ta đợi chờ”, “Cuối trời có cuộc bể dâu /Một người ngồi nhớ đẩu đâu một người”, “Như loài hoa đẹp mong manh/ Dẫu không thành quả, cũng thành hương bay” …  Nhưng anh đã tự bứt phá, vượt lên chính mình. Trong “Hai phía một đời sông”, đột nhiên có những tư duy khác lạ lóe lên, mà người đọc không tìm thấy ở những tập thơ trước. Đó là suy ngẫm về những hiện tượng của đời sống sâu xa hơn, khúc chiết hơn, với thể thơ mới tự do, khoáng đạt, tha hồ tung hoành, chữ  nghĩa không bị câu nệ vào vần điệu: “Đó là những gì đã qua, lâu đến bao nhiêu cũng không già/ Chúng bám vào trí nhớ ta như da như thịt/ Đó là những bông hoa/ Bị mùa đông tước đoạt/ Đó là những lâu đài trên cát/  Bị sóng cuốn phăng/ Đó là anh và em/ Cứ hướng vào nhau mà không bao giờ tới/  Đó là những gì vô cùng thương mến/ Đã ở lại sau lưng/… Một đi không trở lại”…                     

Như anh và em, cứ hướng vào nhau không bao giờ tới! Một tứ thơ đẹp. Biểu hiện cho tình yêu đẹp. Biết là không tới vẫn hướng về nhau! Dám hy sinh, hy vọng, đợi chờ chung thủy!

Cùng với cả dân tộc, NVB cũng qua một thời chiến tranh, lửa đạn ác liệt, vật lộn từng ngày “Mặt trời trên đầu chín v/ Bom rơi, đạn lạc cánh rừng”, “Thời bạt ngàn mơ ước/ Thời bạt ngàn hy sinh/ Ta quay về tìm em/ Đốm sao xanh tự sáng/ Trên cung đường im lặng/ Của đêm nào giao liên”  Cái thời “Áo người người nhuộm màu lá ngụy trang/ Chân đi dép cao su, đầu đội mũ sắt/ Hầm cá nhân mọc san sát trước nhà”… Những ngày sống chết cận kề giây phút, lại là những ngày đẹp nhất. Nói như Chế Lan Viên: “Những ngày ta sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả”.  Con người sống có lý tưởng cao đẹp. Sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Bây giờ, cuộc sống thanh bình, không còn phải giành dật với áo cơm. Anh đã đi qua sóng gió cuộc đời, đã đầy đủ trải nghiệm, qua cái tuổi “Tri thiên mệnh”. Anh đã nắm chắc được quy luật của cuộc sống. Mọi cái mất còn, thua được, vui buồn, thành bại đều rất tự nhiên. Đến cái lá cũng có số phận. Vì vậy, chẳng cái gì anh cho là còn, chẳng cái gì anh cho là mất. Anh nhìn mọi vấn đề đều trầm tĩnh và bình thản “Từ có đến không/ từ không đến có/ Trăm phần trăm cuộc đời/ Cái nửa không: chưa hẳn chẳng tiếng cười/ Cái nửa có: chưa hẳn không nước mắt/ Quên hơi thở mùa thu xao xác/ Lá rơi hoài như đến lúc phải rơi”. Vâng,  cái gì đến ắt phải đến…

Từ một cái nền cũ, thơ năm chữ, Nguyễn Vĩnh Bảo đã  quan sát tinh tế và biểu hiện lạ, đầy biến hóa trong sử dụng ngôn ngữ,  gây sự chú ý và  hứng thú cho người đọc: “Một đám cưới đi qua/ Một đám ma đã tới/ Vừa hoa trắng phơi phới/ Đã hoa vàng hắt hiu/ Vừa gặp gỡ nụ cười/ Đã đụng ngay nước mắt/ Vừa trên kia vi vút/ Đã dưới này âm u/ Vui buồn tự nhiên thu/ Son phấn và hương khói…”

Trong cuộc đời mỗi người chúng ta, ai cũng có ít nhất một dòng sông.

Tôi quả quyết với các bạn, NVB đã phải lòng sông Chanh từ thời trai trẻ, và cho đến bây giờ, tình yêu ấy vẫn đằm thắm, mặn mà…  Sông Chanh với anh vẫn là siêu phẩm… Anh vẫn phải về “nương tựa vào sông”. Anh luôn lo lắng băn khoăn cho số phận của dòng sông, rồi sẽ ra sao? Chảy đến bao giờ? Hỏi sông hay hỏi lòng mình đây! “Lở bồi hai phía ầu ơ/ Ngàn năm chảy đến bao giờ/ Sông ơi!”. Sông sẽ  chảy qua đời anh, chảy qua thơ anh. Chảy qua những phận người lam lũ! Chảy mãi, chảy mãi  đến vô cùng!

Sông Chanh nhỏ bé trong thơ NVB, cũng đủ sức rung, sức ngân  cho ta cảm tình, thương mến.

Nó không có trong bản đồ Địa lý Việt Nam, nhưng giờ đây NVB đã ghi tên sông Chanh trong “Bản đồ thi ca”. Xin chúc mừng anh!

 Sài gòn, ngày cuối cùng của  tháng 6 năm 2021. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm