TIN TỨC

Hành trình nước - Bước chuyển mình của kẻ sĩ chu du

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-31 21:21:35
mail facebook google pos stwis
314 lượt xem

Với Hành trình nước, Vũ Mai Phong cho phép người đọc thám hiểm một cõi tâm hồn mình, để chiêm nghiệm, để cảm nhận sự chuyển hóa kỳ diệu của nước - từ giọt sương nhỏ bé hóa thành đại dương bao la, từ tâm hồn cá nhân hòa vào tính thiêng của Tổ quốc.

Năm 2025, sau ba tập thơ đã định hình phong cách trữ tình, thuần hậu là Cõi bình yênNẻo về và Rồi mai mùa sẽ vui, nhà thơ Vũ Mai Phong đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong thi nghiệp với tập thơ thứ tư: Hành trình nước (NXB Văn học). Tập thơ này là một bước nhảy, đưa khả năng truyền tải đời sống nội tâm sâu sắc và tinh thần sáng tạo, đổi mới của tác giả lên một bậc cao hơn hẳn, chạm đến ngưỡng cửa của triết lý và siêu hình.

Thơ tự do tuôn chảy từ suối nguồn dòng Sống

Điều đáng quý nhất trong thi pháp của Vũ Mai Phong là sự tự nhiên và thành thực. Với Phong, cuộc sống không phải là đối tượng để “chế biến” thành thơ một cách cầu kỳ, hoặc giũa gọt chữ làm dáng, mà chính là chất liệu thô sơ, tinh khiết nhất. Ý thơ nương náu trong từng sự việc, từng người gặp, từng cảnh đổi thay hằng ngày. Người đọc cảm nhận được rằng, Phong dường như không cần dụng công làm thơ, mà thơ tự tuôn chảy từ một suối nguồn dòng sống dồi dào trong anh.

 

Nhà thơ Vũ Mai Phong

 

Sự tuôn chảy này giúp thơ anh giữ được độ trong trẻo, hồn hậu hiếm thấy, như thể anh vội ghi lại những khoảnh khắc sống để tiếp tục đào sâu chiêm nghiệm, không kệ nó vuột trôi vô ích trong nhịp sống hối hả. Chính sự không gò ép, không cố gắng “làm thơ nắn vần” đã tạo nên một giọng điệu độc đáo, vừa gần gũi vừa uyên thâm, như một lời tự bạch thì thầm, bỗng chốc bật lên thành tiếng sấm dội. Đây là dấu hiệu của một nhà thơ đã đạt đến độ chín muồi, khi thi hứng đã hóa thành hơi thở, thi liệu đã hóa thành mạch máu.

Hành trình nước: Sự luân hồi vũ trụ và Tính thiêng của đất nước

Nhan đề Hành trình nước ban đầu gây ngạc nhiên với riêng tôi, bởi tôi cứ tưởng Phong đã chọn một tứ khác cho tập này, nhưng khi nghiền ngẫm thêm, tôi nhận ra đây là một lựa chọn tuyệt vời, gói gọn toàn bộ tinh thần và triết lý của tập thơ. Nước, trong ý niệm của Vũ Mai Phong, đã vượt ra khỏi nghĩa vật lý thông thường để trở thành một biểu tượng vũ trụ, biểu tượng hành trình sống của chính tác giả. Và có lẽ cũng bởi trong hai năm Phong sáng tác tập thơ này (2024-2025), nước đã tạo nên nhiều cơn phong ba trong đời sống chúng ta...

 

Tập thơ "Hành trình nước"

 

Nước chính là tác giả, là cái tôi thi sĩ, luân hồi vũ trụ mà chu du cùng trời cuối đất, thấm và ngấm chuyện đời mà chuyển hóa thành thơ. Nước khi là giọt sương, khi là hơi ẩm, là mây, khi là khe suối, lúc cuồn cuộn thành đại dương, luôn vận động, luôn chuyển hóa, nhưng bản chất vẫn không đổi. Đó là hình ảnh tuyệt vời nhất để nói về quá trình sáng tạo không ngừng nghỉ, cũng như sự chiêm nghiệm đời sống của một người nghệ sĩ. Giọt nước là thấu kính, cũng là chính vũ trụ. Vừa soi rọi đời sống, vừa là chính đời sống...

Đặc biệt, trong bài thơ chủ đề “Hành trình nước”, Vũ Mai Phong đã chạm đến một tầng nghĩa thiêng liêng chỉ có duy nhất trong tiếng Việt: “Nước” còn là Quốc gia. Sự hòa quyện giữa vật chất (nước) và tinh thần/chính trị (quốc gia) này là một hiện tượng ngôn ngữ và văn hóa độc đáo, thể hiện tầm nhìn vũ trụ quan của người Việt. Trong khi ở các ngôn ngữ khác, như tiếng Anh chẳng hạn, thì quá lắm chỉ dùng từ “Đất” (Motherland, Fatherland, Homeland) hàm ý Quốc gia (Tổ quốc) chứ không có từ “Nước”. Điều này cho thấy độ tinh và có phần “quái” của Vũ Mai Phong khi chọn nhan đề tập thơ, bởi anh đã thám hiểm và “khoanh trọn” được vỉa nghĩa thiêng liêng và độc đáo của từ "Nước" mà hiếm ngôn ngữ nào có được.

Hạt nước giếng nguồn đất Tổ

theo gió du ngoạn khắp nơi

lúc qua sông hồ khe suối

khi cuồn cuộn về biển khơi...

Với câu thơ Nước vẽ biển hình chữ S, tác giả đã sử dụng từ “Nước” một cách tài tình để tạo nên một tính thiêng cho cả tập thơ. Nước không chỉ là sự luân hồi của cái Tôi cá nhân mà còn là mạch nguồn dân tộc, là dòng chảy lịch sử thiêng liêng mang hình hài đất nước. Sự kết hợp giữa hành trình tâm linh và tình yêu Tổ quốc tạo ra chiều sâu đa tầng hiếm có.

Cái Tài và Cái Lạ trong giọng điệu thơ

Cái tài của Vũ Mai Phong nằm ở khả năng nắm bắt tinh tế từng chuyển động của đời sống - từ cơn mưa bóng mây đỏng đảnh, cơn bão phá hủy cùng kiệt, tiếng chim gù u uất, đến một ánh mắt thoáng qua mà ám suốt đời... Nhưng cái lạ ở chỗ, giọng thơ của anh mang tính đối lập/mâu thuẫn đầy thú vị.

Anh vừa có thể hồn hậu trong trẻo như một nhi đồng trong cái nhìn về thế giới, khiến ta thấy cuộc đời còn vẹn nguyên sự ngây thơ, thánh thiện. Thoắt chốc, cái nhìn ấy chuyển hóa, anh trở thành một nhà hiền triết thâm trầm, bao quát thế nhân, xuyên thời không, để rồi thả nỗi lòng kẻ sĩ trong ngục tù tâm trí.

Sự chuyển đổi giọng điệu đột ngột này tạo ra những cú va đập cảm xúc mạnh mẽ. Nó là tiếng lòng của một người muốn thoát khỏi cái vỏ an toàn, muốn phá vỡ sự im lặng và tầm thường:

Hình như chính chúng ta cũng đang dần im lặng

Rụt đầu vào lớp vỏ an toàn

An ủi nhau bằng những vần thơ tẻ nhạt

Nghe tiếng chim gù u uất nỗi trầm luân

Hãy gầm lên đi, ầm vang sấm dội...

(Bên bờ giác)

Đó là lời kêu gọi thức tỉnh, một tiếng “gầm lên” dữ dội trong một xã hội đang dần mòn vì những “vần thơ tẻ nhạt” và sự “rụt đầu vào lớp vỏ an toàn”. Bài thơ không chỉ là sự chiêm nghiệm mà là một tuyên ngôn về tính chân thật và sức mạnh của nghệ thuật.

Những vần minh triết ghim lại trong tâm

Bên cạnh những dòng chảy trữ tình mênh mang của “Nước”, tập thơ còn cô đọng nhiều câu mang giá trị như những triết lý sống cho đời. Bài thơ Hồn đá là một ví dụ điển hình cho sự thâm trầm này:

Đá khôn giấu ngọc trong lòng

Chim khôn giấu mỏ, người khôn giấu lời.

Câu thơ đúc kết kinh nghiệm sống một cách tinh gọn, uyên bác, không giáo điều. Nó chứa đựng sự kiềm chế và sâu sắc của người hiền triết - một lời nhắc nhở về sự khiêm tốn và trọng lượng của ngôn ngữ. Đặc biệt, trong bài thơ Cỏ, tác giả đã nâng chủ đề về sự bền bỉ lên tầm triết lý vũ trụ. Bốn câu thơ sau vẽ nên một bức tranh về sự sống bất diệt giữa vòng xoáy khắc nghiệt của thời gian và lịch sử:

Cỏ xanh tấm áo địa cầu

Mỗi năm tự khoác lên màu biếc xuân

Tuyết băng, nắng xối mưa dầm

Tả tơi thời cuộc âm thầm sinh sôi.

Tác giả đã nâng tầm cỏ, một loài thân thảo thấp nhỏ sát đất tầm thường, thành biểu tượng nhân sinh cao đẹp khi coi đó là “tấm áo địa cầu”, mang tính phổ quát, tượng trưng cho sự sống cơ bản nhất, tự mình khoác lên vẻ đẹp hồi sinh (“màu biếc xuân”). Quan trọng hơn, tác giả đặt sự khắc nghiệt của thiên nhiên (“Tuyết băng, nắng xối mưa dầm”) song hành với sự tàn phá của nhân thế (“Tả tơi thời cuộc”). Tuy nhiên, bất chấp mọi biến cố lịch sử hay tự nhiên, sự sống vẫn tiếp diễn một cách kiên cường và khiêm nhường (“âm thầm sinh sôi”). Đây là tuyên ngôn về tinh thần bất diệt, vượt lên trên mọi sự hỗn loạn của thời cuộc.

 

"Hành trình nước" là một dấu ấn đáng ghi nhận trong thi nghiệp của Vũ Mai Phong

 

Ngoài ra, cảm hứng về lòng biết ơn và sự cho đi cũng trở thành một mạch chảy trong tập thơ, tiêu biểu qua bài Cửa Báo Đáp:

Ơi sông Mẹ dạt dào dòng sữa quý

Luôn cho đi mà chẳng đợi đáp đền.

Hình ảnh “sông Mẹ” tiếp tục củng cố biểu tượng Nước, nhưng gắn liền nó với lòng biết ơn vô điều kiện, thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc.

Hành trình nước là một dấu ấn đáng ghi nhận trong thi nghiệp của Vũ Mai Phong. Tập thơ đã hoàn thành một hành trình tâm trí xuyên không gian và thời gian, từ sự hồn nhiên của một đứa trẻ đến sự uyên thâm của một nhà hiền triết. Với tập thơ này, tác giả cho phép người đọc thám hiểm một cõi tâm hồn mình, để chiêm nghiệm, để cảm nhận sự chuyển hóa kỳ diệu của nước - từ giọt sương nhỏ bé hóa thành đại dương bao la, từ tâm hồn cá nhân hòa vào tính thiêng của Tổ quốc. Đây là một tác phẩm mang tính bước ngoặt, tạo một vệt tươi mới trong nhãn quan đời sống, cũng là suy tưởng và trăn trở của Vũ Mai Phong trước chuyển động mạnh mẽ của thời cuộc.

KBH/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm