TIN TỨC
  • Truyện
  • Khoảng trời mù sương | Truyện ngắn của Nguyễn Luân

Khoảng trời mù sương | Truyện ngắn của Nguyễn Luân

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-06-24 09:14:46
mail facebook google pos stwis
1633 lượt xem

Không rõ khi ấy là lúc nào, nhưng gió lạnh bắt đầu thổi như tiếng tù và từ bốn bề núi đá vọng lại. Bầu trời xám nhợt, không một ánh nắng. Lão bị đánh thức sau những tiếng động mạnh. Trong giây phút ấy, lão hoảng hốt khi thấy mình như một sợi khói, trong suốt vô hình bay vọt lên từ miệng hố.

Sau cơn hoảng loạn, lão nhận ra đám người lố nhố đeo khăn trắng vây quanh bộ hài cốt lẫn trong đám áo quần đã mục rũ. Đống lửa bên cạnh hồng đượm, réo ào ào nhả khói lên trời. Trong chập chờn tối, sáng, đám người im lặng khe khẽ nâng từng đoạn cốt lên. Toàn bộ xương đen kịt như ngâm trong nhựa cây vừa vớt. Lão thấy rõ hộp xương sọ trơn nhẵn, đen bóng bị rễ cây xuyên thủng. Từng đốt xương sống tách rão như những viên bánh vẩn mốc đen, vài đoạn xương ống chân tay như cành cây khô rụng cũng một màu đen tuyền. Đám xương ấy xấu đến tệ hại, xỉn đen và bắt đầu mục rã. Có lẽ, kẻ ấy nhiễm đủ chất độc của loài người, hoặc hứng chịu đủ sự nguyền rủa của thế gian này nên mới ra nông nỗi ấy. Có tiếng khóc khe khẽ ngân lên:

- Pa ơi! Hôm nay chúng con đón pa về nhà mới đấy pa ới…

Chẳng phải đấy chính là cái Khén, con gái cả của lão ư. Lão nhớ ra khi nó liên tục gọi tên mình. Cái Khén gọi bộ xương xấu xí kia là pa. Lão nhìn thấy sự đau khổ, nhớ thương từ suy nghĩ của nó như vầng nắng ấm áp. Lạ thật. Lão thấy mình tự nhiên có thể thấu suy nghĩ trong đầu người khác. Nhìn xuyên qua thân thể tất thảy đám người đang đứng, ngồi trước mặt.

Nhưng tuyệt nhiên, lão không có cảm giác gì.

Không lẽ bộ xương chết khô, thối ủng kia là của lão sao? Phải rồi! Lão nhớ mình đã chết được năm năm. Kia là cái nhục thân của lão, là cái xác phàm còn lại của lão đã được chôn chặt dưới đất. Còn lão bây giờ là thứ gì nhỉ? Một linh hồn? Đúng hơn, một hồn ma. Hồn ma được đánh thức. Có ai trên đời nhìn thấy hồn ma như lão bao giờ.

Đoàn người trở về nhà. Nước thơm từ lá rừng đã được chuẩn bị sẵn trong những chậu lớn. Họ sẽ tắm rửa cho bộ xương dưới gốc đào già rụng lá. Cây đào ấy chính tay lão trồng, một con chim ăn quả đã làm rơi hạt của nó vào túi áo khi lão đi hái thuốc trong rừng. Lão đem cái hạt đó về trồng trước cổng nhà. Đó là một cái cây lạ, nó cứ thế lớn lên nhưng không chịu trổ hoa. Bàn tay lão thật không mát mẻ. Giờ cái cây chẳng lớn hơn ngày trước là bao, nhưng thân đã xù xì đầy vẩy khô. Trên những cành chưa thấy nụ lá, hẳn bây giờ mới cuối mùa đông.

- Ồ! Một bộ xương đen, lạ quá. Đáng lắm, sướng lắm lão lang Nhình!

Có những tiếng thốt lên khe khẽ xen lẫn tiếng rủa. Ai cũng muốn nhìn cho rõ bộ xương của lang Nhình, kẻ một thời đưa nắm thuốc che được nửa mặt trời ở đất Pú Dò. Quả lão ta chẳng giống ai, đến bộ xương cũng hoá đen như đống than hoa mới ra khỏi lò ủ kia mà.

Thật tệ hại và ngớ ngẩn, lão đã nghe thấy tất cả những suy nghĩ thầm kín của đám người đang kéo tới như thế. Những suy nghĩ réo lên như bầy ve kêu hỗn tạp, khe khẽ phát ra từ những cái đầu ngúc ngoắc gật gù. Những cái bụng đang căng ních thịt rượu nhà đám. Sau khuôn mặt giả vờ ủ ê buồn đau ấy, là sự khoái trá, sung sướng râm ran. Thứ họ đang mong muốn nhìn thấy, chờ được gặp kia vốn là thứ ẩn sâu nhất của lão. Chỉ khi lão chết mới hòng được thấy. Lão vốn là kẻ bí ẩn nhất mà lắm kẻ muốn moi gan, mổ bụng ra xem từ ngày lão còn sống.

*

*         *

Người đàn bà già nua ngồi bên đống lửa. Khăn trắng lẫn vào mái tóc bạc. Đôi mắt nhuốm buồn, đọng đầy bóng nước. Đàn bà già ngồi ôm chặt gối, hai bàn chân đan vào nhau o nép đến khắc khổ. Đàn bà già nhìn vào đám hài cốt như kiếm tìm khuôn mặt của một gã đàn ông mạnh mẽ, đẹp lừng lững nhất vùng Pú Dò ngày trước. Từng tiếng khe khẽ, thì thào trong đầu của đàn bà già cất lên như tiếng hát dội vào tai lão:

“Quá lắm lão già kia, lão bỏ thân già này cũng đủ năm năm rồi. Nước mắt tôi khóc thương lão, thương cả cái thân này, thấm bợt khăn tay. Giường ngủ mỗi đêm, tôi trở mình ba vòng chưa hết chỗ. Nhớ ngày xưa lão như cây kháo re giữa rừng, lại là hậu nhân chân truyền của dòng họ Ma giỏi cây thuốc có tiếng. Đàn bà chạy theo chân lão như củi mục dưới suối ngày lũ đầu mùa. Vậy mà lão đã chọn tôi. Số phận đẩy tôi về phía lão. Có nhớ không lão già, cái lần đầu tiên gặp nhau trong rừng Rú. Sau cơn mưa, nấm rừng trồi lên trên những thân cây nhiều như búp lá. Tôi mải hái, trượt chân xuống hốc đá. Một mũi cây sắc như đầu chông của người đi rừng để lại xé toạc, xuyên qua một bên đùi. Vết đau luồn qua xương sống, xoáy vào tận óc buốt nhói. Máu từ đâu tràn qua vết đâm ào ra nhiều đến thế, thành tia bắn cả lên mặt. Lão có biết khi ấy tôi nghĩ gì khi kêu cứu đến vỡ họng mà chẳng có ai đáp lại không? Tôi nghĩ mình sẽ chết trong khu rừng vắng đó, rồi cũng thành bộ xương như lão bây giờ. Tôi thấy cái chết lê chân đến gọi tên mình. Vậy mà lão xuất hiện, vào cái giây phút tôi chấp nhận chịu thua số phận.

Nửa đêm. Trong chiếc hang ẩm ướt hơi nước trên núi Rú ấy tôi tỉnh lại. Thứ đầu tiên mà tôi thấy chính là khuôn mặt lão. Cái khuôn mặt ám đầy khói lửa nhìn tôi, rồi lại nhìn ống quần bị xé toạc, đắp đầy lá cây. Tôi đã nhận ra lão, gã trai mà người Pú Dò vừa nể trọng vừa sợ hãi. Chẳng rõ vì xấu hổ, hay vì điều gì mà từ khi tỉnh dậy, tôi không dám mở mắt nhìn lão thêm lấy một lần. Trong đầu một đứa con gái khi ấy, tưởng tượng ra khuôn mặt, nụ cười bí hiểm của người ngồi bên cạnh khi băng vết thương trên đùi non của mình. Nếu có thể đứng dậy, có lẽ tôi sẽ nhảy xuống vàn núi. Nhưng kể từ khi ấy, khuôn mặt lão in sâu vào trí nhớ của tôi. Bây giờ tôi chỉ nhớ về lão bằng khuôn mặt ấy. Cái khuôn mặt ám khói bếp, nhưng đôi mắt chứa đầy hơi ấm đang nhìn về phía tôi…”

Những tiếng ồn nhốn nháo liên tục dội đến làm dạt đi những suy nghĩ trong đầu đàn bà già. Trời không có nắng, những chiếc lá khô co mình bám trên mái nhà thâm u bị gió thổi bay xao xác. Lão phải tiến lại gần hơn để nghe cho rõ: “Này lão! Có phải lão là kẻ độc dạ như người ta vẫn nói không? Lão chỉ giả vờ thôi đúng không? Lão là lang Nhình giỏi thuốc cứu người, có kẻ đã chết đến chín phần mà tay lão vẫn cứu được. Cái mạng tôi cũng do tay lão nhặt về ngày ấy kia mà. Nhưng tại sao có người đến van lạy mà lão không cứu. Lão bỏ mặc họ bị nỗi khổ đau, bệnh tật cầm tay dắt đi ngay trước mắt. Người ta bảo lão là một gã lang máu lạnh, tim màu đen như viên đá cuội dưới lòng suối, nước chảy trăm năm cũng chẳng phai màu. Một lão lang quái gở nhất trên đời này. Lão thường bảo, chỉ cứu những người đáng cứu. Còn lại sống chết là số phận của họ, không liên can tới lão. Tôi nào dám phán xét. Hàng ngày nhìn những kẻ đến xin lão cứu mạng, nhưng bị đuổi đi trong tuyệt vọng và đau khổ cùng cực, lão có biết mỗi lần như thế tôi thấy mình mang tội với họ thế nào không? Tôi đã im lặng một đời để làm vợ lão. Vậy mà có lần tôi ước mình không phải là người nhà lão. Nhưng tôi cũng chẳng dám hé răng nói ra điều ấy nửa lời. Tôi biết phận mình là phục tùng tuyệt đối. Có điều này tôi thề trước linh hồn lão, cả đời tôi chưa lần làm trái ý lão. Chỉ duy nhất lần ấy thôi. Tôi trộm gói lá thuốc của lão cho mé Xén. Tôi mồ côi mẹ từ bé, không có sữa của người đàn bà ấy tôi đã chết. Không hiểu sao lão lại ghét một người đàn bà như thế. Có lẽ vì bà ấy nhiều chuyện. Khi bà ấy bị bệnh, cái chết đã bám một tay lên vai. Tôi không thể nhắm mắt nhìn bà ấy chết được.

Sau lần ấy, lão nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ. Nó lành lạnh và dửng dưng đến nghẹt thở. Thà lão chửi mắng, đánh đập hay treo tôi lên như treo bọng mật con gấu trong nhà có lẽ dễ chịu cho tôi hơn. Những đêm dài mùa đông cũng như mùa hạ, lão đều quay lưng về phía tôi. Thằng Nhảng ra đời cũng là sự ban ơn của lão, trong một lần lão quay mặt lại với tôi. Lần duy nhất. Lão coi tôi là thứ dơ bẩn, là kẻ không thể nhìn mặt nữa. Tôi bỗng quên mất khuôn mặt lão, thứ còn lại chỉ là tấm lưng. Một tấm lưng vô cảm, phảng phất hơi lạnh. Tấm lưng đàn ông có thể là nơi dựa dẫm, chở che, nhưng đôi khi cũng có thể giết chết cuộc đời một người đàn bà, lão biết không? Lão có thể quay lưng với người đời, với thiên hạ. Nhưng tại sao lại ác độc với tôi đến thế”.

Lão nhìn đôi bờ vai người đàn bà khổ đang rung lên khe khẽ. Trên khuôn mặt, những nếp nhăn nơi khóe mắt chạy dài đến thái dương. Nỗi buồn như bóng đen trùm lấy đôi vai đàn bà già. Không lẽ lão đã khiến người đàn bà này khổ đến thế sao. Không. Lão không thể làm khác được. Lão chỉ muốn công bằng. Sự phản bội, dối lừa không được phép tồn tại bên cạnh lão. Ông trời đã ban cho lão cái quyền ấy kia mà. Lão là thầy lang giỏi nhất, thuốc của lão chữa được những căn bệnh mà những kẻ non tay khác phải quỳ gối xin hàng. Lão là độc đắc ở đất này, thuốc của lão không ai đoán được. Lão có sợi dây để tung cho những kẻ bệnh tật leo lên khỏi miệng hố tử thần. Thuốc của lão như thanh gươm báu giữ chiếc ngai vàng. Muốn thế, lão phải tàn bạo và ác nghiệt. Lão phải khiến cho người đời vừa phục, vừa khiếp hãi. Chỉ bằng cách ấy, ngai vàng mới thuộc về lão mãi mãi.

Lão có luật của riêng mình. Lão không chữa bệnh cho người khác một cách dễ dàng. Mặc kẻ đó lạy lục van nài bao lâu dưới chân thang nhà lão. Lão rắp tâm đẩy kẻ ốm đau bệnh tật đó phải đi khắp nơi, gõ cửa các thầy lang trong vùng. Lão khoái trá nhìn con bệnh giãy giụa tìm mọi cách cứu mình, còn đám thầy lang vật lộn mà vẫn vô phương. Lão chọn đúng thời điểm chí mạng mới đủng đỉnh ra tay. Người ốm khỏi bệnh sẽ mang ơn lão, tôn thờ lão như một vị thần. Nhưng hơn nhất, lão làm bẽ mặt đám thầy lang vốn từ lâu mang nỗi căm hận lão. Mỗi lần như thế, lão thấy trong lòng lâng lâng. Thứ khoái cảm của chúa sơn lâm nhìn con mồi chạy thục mạng trong khu rừng và biết rằng nó sẽ không thoát khỏi móng vuốt mình. Lão là như thế, lão muốn mình sẽ thành như thế.

Lão khẽ thở dài, thấy mình vô nghĩa và bất lực trước những phán xét của người đàn bà. Lão đã nhầm về lòng người và thời gian. Người đời có thể sợ hãi lão, nhưng thời gian và lòng người lại khiến lão sợ hãi. Chúng mới là vĩnh cửu, mới là thứ không thể nào thay đổi được.

Mùa này khắp Pú Dò trời đã dày sương. Những cuộn sương nặng nề theo nhau bám trên vách đá suốt cả ngày mà không bò được lên đỉnh núi. Chỉ cần trời hửng nắng, chúng sẽ biến thành những tảng mây trắng lừ đừ trôi về những vùng đất thấp và ấm áp hơn. Bây giờ trên sàn nhà người Nùng, người Tày, những cót ngô đem phơi chờ nắng, bỗng rực lên màu nâu đỏ lẫn vào những dải xám đen tít tắp của tre nứa, của đá xanh úa màu.

Trong đám người ồn ã, vẳng lại đâu đó tiếng thì thầm nghe như đá lở lục khục giữa đêm. Hằn học, u uất, đau khổ.

- Con gái bé nhỏ của ta ơi. Có nhìn thấy đám xương của kẻ đã bỏ mặc con ngày ấy kia không. Chúng đen đúa hệt như lòng dạ của lão ta ngày ấy.

Kẻ nào thế? Lão kiếm tìm bốn phía. Kia rồi! Một gã đàn ông ngồi tựa lưng vào vách nhà. Hai tay gã đang nắm chặt, như chực xông vào cuộc sống mái với kẻ nào đó. Lão không thấy được gì trên khuôn mặt ấy. Gã bị chột, con ngươi bên mắt còn lại cũng trắng dã, rờn rợn. Trên khoé miệng méo xệch, lộ hai chiếc răng thò ra vàng như nanh lợn rừng. Ở người gã toát ra sự u ám, phẫn uất.

Gã là Tháu chột, làm nghề thợ bạc ở phố Pò Lèn.

Lão chợt nhớ, lần ấy, quá nửa đêm, có tiếng gọi dưới chân thang. Tiếng người cất lên ba lần rồi nhưng lão chưa trở mình đáp lại. Chuyện người đến gặp lão hằng ngày chẳng có gì lạ. Theo lẽ thường, kẻ dưới kia không nghe tiếng lão đáp lại sẽ tự biết ý rời đi. Nhưng lần ấy khác, tiếng bước chân người gấp gáp đi lại. Thi thoảng lại có tiếng trẻ khóc vang lên yếu ớt. Lão bước ra ngoài ngó xuống thang. Qua ánh đèn vàng vọt, lão nhận ra gã chột méo miệng có đôi bàn tay tài hoa. Vòng tay, hoa tai, xà tích bạc của đám đàn bà con gái trong vùng đều một tay gã đục giũa. Tiền công trả cho gã chột cũng phải tính bằng bạc. Gã giàu nhất nhì phố Pò Lèn bấy nay. Những kẻ giàu thường nhìn kẻ khác có làm túi tiền mình lớn hơn không, rồi mới nói chuyện. Chẳng rõ lí do gì mà gã chột ấy không làm cho lão có thiện cảm. Vắt trên vai gã chột là đứa bé chừng năm tuổi đang nhắm nghiền mắt. Khuôn mặt tím tái bết lại những lọn tóc tơ, nước da vàng vọt như tàu lá phơi qua mấy nắng. Lão khẽ rùng mình, nhưng cảm giác đó chỉ vụt qua. Lão liếc nhìn gã chột. Sự ác cảm với kẻ nhiều tiền này bỗng trỗi dậy, lão thủng thẳng đáp:

- Đưa nó đi đi. Giờ này ta không xem bệnh.

Gã chột khẽ nhếch mép, hình như gã tức giận, nhưng vẫn cúi gập người hạ giọng:

- Xin hãy cứu lấy con gái tôi. Nó chết mất lão Nhình à.

- Ta chịu.

- Lão cần tiền đúng không? Tiền đây… chỉ cần lão….

Nói rồi gã chột dốc ngược chiếc túi lớn đeo bên sườn. Tiền, vòng, kiềng bạc sáng lấp loá trút ào ra. Lão nhìn đống bạc dưới chân thang rồi lại nhìn cha con gã chột khẽ cười:

- Ta không chữa vì tiền, ông đưa nó đi đi.

Nói rồi lão bước thẳng lên xích, khép cửa lại. Nhưng ánh mắt vẫn nhìn qua kẽ ván. Suốt đêm ấy lão không thể ngủ. Mỗi lần nhắm mắt lại thấy pa con gã Tháu chột cõng nhau liêu xiêu xuống con đường trước nhà cứ xoay tròn trong đầu như một bóng ma. Lão bước ra ngoài mở cửa rồi ngồi đợi. Lão không biết mình đợi điều gì. Có lẽ lão hi vọng, pa con gã thợ bạc sẽ quay lại. Lần đầu tiên trong đời lão thấy lòng nặng nề đến thế. Một cảm giác trống rỗng, như hối hận, lo âu, hụt hẫng loang dần tâm trí lão.

Đứa bé con gái gã thợ bạc chết. Cái tin ấy đến tai lão vào một buổi chiều gió nổi. Lão nằm trong căn buồng ít ánh sáng của mình mà nghe từng đốt xương đau nhức. Mùi lá thuốc phảng phất theo gió đưa lại. Tự nhiên lão thấy sợ nó đến thế. Lão nhìn đôi bàn tay dày cộp, loang lổ những lớp nhựa cây qua ánh sáng lờ nhờ ở kẽ vách cuối ngày. Chúng biến thành màu đỏ, như máu tươi chảy ròng trên những ngón tay. Lão hốt hoảng lao ra ang nước. Lão vục cả nửa người xuống lu mà cọ rửa đến rát bỏng thịt da mà đôi tay vẫn không hết. Lão sợ hãi chạy vào giường trùm kín chăn rồi lịm đi trong cơn sốt nóng lạnh. Lão thấy mình bị rượt đuổi bởi một đám người đang hò hét. Những khuôn mặt gớm ghiếc mọc đầy lông lá, cầm trên tay dây thòng lọng đuổi theo đòi siết cổ lão. Trong cơn sợ hãi tột cùng, lão chợt thấy hơi gió man mát thổi, một đứa bé tóc tơ bết lại đang nhìn mình. Nó nhoẻn miệng cười, nụ cười khó hiểu đến kì lạ, rồi đưa tay vẫy lão. Lão sụm xuống. Khi ngước lên, tất cả đã lẫn vào sương trắng chờn vờn bên vách núi.

Lão đã nghĩ về đứa bé ấy suốt những tháng năm dài. Nhiều lần lão tự hỏi điều gì đã giết chết đứa bé? Thuốc của lão, bạc của gã chột, hay còn gì nữa? Lão không dám trả lời. Có những câu hỏi mà cả đời lão không dám đưa ra câu trả lời cho chính mình.

*

*         *

Đám người kéo đến mỗi lúc một đông. Lão thấy đám xương mình được trật tự xếp vào trong chiếc hũ sành. Có lẽ đây là giây phút cuối cùng đám người được nhìn thấy lão. Những ánh mắt no đầy sự tò mò, thích thú.

Có tiếng cười lào khào, khe khẽ kín đáo từ phía cổng. Rồi bước chân người tới rất nhanh :

- Mo Thàng tới rồi đấy! Pa con đã lên từ sáng như lời mo dặn.

Lão nghe rõ lời đon đả, cung kính của thằng Nhảng con trai lão. Thằng này thật không giống lão điều gì. Cái vẻ khúm núm rước thầy cúng vào trong nhà khiến lão phát bực. Đàn ông họ Ma nhà lão, đến đời nó là thứ năm, chưa ai phải cúi thấp người với kẻ khác. Vậy mà nó không làm được. Nó đang nghĩ gì thế? Lão vẩn vơ tiến lại gần. Nó đang sợ hãi sao? Nó sợ tay thầy cúng kia phật ý mà làm pháp không đến nơi đến chốn? Cuộc đời thằng đàn ông phải biết sợ con trai ạ. Nỗi sợ làm cho ta lớn hơn rất nhiều. Nhưng cho dù nỗi sợ ấy có vây riết lấy đôi chân, thì đừng nên phô vẽ ra bên ngoài một cách dễ dàng thế chứ. Đời lão cũng không ít lần lặn vùi trong những nỗi sợ. Nhưng lão đâu có dễ cúi đầu.

Nhưng có lẽ lão đã nhầm. Lão thấy rõ sự suy tính trong đầu nó. Nó đang nhẩm tính số người có mặt trong nhà, cả số chưa tới. Lão nhìn thấy khuôn mặt con trai hõm lại, ánh mắt trầm ngâm. Nó đang tính toán số tiền bỏ ra ngày hôm nay. “Bố khỉ đám nhà giàu, giờ vẫn chưa thấy thò mặt tới. Chúng mày mà quên, thằng Nhảng này cũng đâu cho xuôi. Giá như ngày còn sống pa không khiến người ta ghét đến thế thì hôm nay…”Rồi nó lom khom chạy xuống thang. Khuôn mặt thoắt hoan hỉ trong phút chốc:

- Hí dà dà! Phiền quá, việc nhà em mà các bác vẫn nhớ!

Nó nắm tay mấy người vừa kéo đến ra chừng thân mật lắm. Lão ngó sang mấy gã mà thằng Nhảng chờ đợi. Quả là đám nhà giàu lại có quyền chức, nhìn cái dáng đi nghềnh nghễnh, phề phệ. Những nụ cười bí hiểm, nhàn nhạt. Đời lão gặp cũng không ít kẻ như vậy, tất thảy họ đều khéo léo vẽ lên môi mình những nụ cười vừa đủ nhạt và bí hiểm như thế. Một gã bắt tay thằng Nhảng xong, đưa mắt nhìn quanh một lượt rồi nghĩ. “Khốn kiếp! Không ngờ mấy gói thuốc bổ dương làm mụ vợ với con bồ sướng tợn lại ở chỗ khỉ ho này. Làm mình phải mò đến tận đây, mệt rũ xác.’’ Mông chưa kịp đặt xuống ghế, trong đầu hắn đã lởn vởn bóng dáng đàn bà đang nằm ngả ngớn trên giường chờ đợi. Thằng Nhảng đón được đám nhà giàu thì quay sang cười nhếch mép. Nó khe khẽ nghe như reo. “Chết vì rửng mỡ, thằng này sẽ dắt mũi cả đám này đi cho xem.” Nó liếc nhìn về đám xương của lão đã nằm gọn ghẽ trong tiểu sành. Lão chợt rùng mình trước ánh nhìn của nó. Nó đang sợ lão biết sự suy tính, hay nó muốn nói cho lão biết rằng, hãy nhìn nó làm những gì mà lão không thể làm được. Đám người mà ngày xưa lão xua đuổi và tuyệt giao, nay lại được nó mời đến cả thảy. Tuyệt nhiên lão không thấy gì thêm trong sự rối rắm, tối tăm trong đầu nó lúc này.

Hỏng rồi. Nát bấy cả rồi con trai của ta ơi. Lão kêu lên trong đau khổ. Những gì dùng cả một đời để dựng lên, cái thành quách của lão đã bị chính thằng con trai lão quật xuống. Lão cả một đời say mê, thuốc của lão chữa cho người đời và được trả bằng sự tôn nghiêm. Còn thằng con lão, nó dùng thuốc đổi lấy bạc tiền, sự giả trá, sân hận, tráo trở. Nó đâu nhìn thấu được những suy tính, sự coi thường. Lão không đoán được điều ấy. Lòng người là thứ chẳng ai đoán được, ngay cả khi đã là một hồn ma như lão bây giờ.

*

*            *

Khói hương cháy nghi ngút, đám người cúi rạp trước lão hành lễ. Phía bên ngoài, rượu thịt đã lên mâm. Tiếng mời chào mỗi lúc một hăng say.

Trong nhà, mo Thàng đang làm pháp cho lão. Tấm áo bào thêu rồng phượng làm hắn uy nghi hơn hẳn. Miệng ê a đọc những câu cũ nhàm trong cuốn sách mà hắn coi như báu vật luôn mang bên mình. Hắn đọc trơn thuộc như một cái máy. Nhưng trong đầu hắn lại chật chội những suy nghĩ đầy hỗn loạn. Hắn là kẻ đố kị, chuyên đâm sau lưng lão. Đã vài lần lão làm hắn bẽ mặt. Vì lẽ đó, lão và hắn chẳng ưa gì nhau. Nhưng bây giờ, hắn cất cái giọng lào khào, đọc pháp vuốt ve linh hồn lão. Lão nhìn thật kĩ, thật gần khuôn mặt hắn. Lão và hắn chưa bao giờ tới gần nhau, không nhìn mặt nhau khi lão còn sống. Ở đời lắm sự lạ, con người ta thường có trí tò mò về những thứ mà mình sĩ diện dửng dưng không quan tâm. Nhưng chỉ cần khi có cơ hội, thì sự tò mò, suy đoán ấy lại trỗi lên mãnh liệt. Giờ lão đọc được sự tò mò ấy trong suy nghĩ của hắn.

Mo Thàng từng nói thuốc của lão có giỏi mấy cũng không chống được mệnh trời. Cái chết đến từ những cái bấm đốt ngón tay của hắn. Ở đất này lắm kẻ tin hắn, cho rằng lời của hắn chính là ước muốn của thánh thần ma quỷ. Lão đã từng cười nửa miệng khi hắn nói “Chỉ có hắn mới biết người chết muốn gì, chữa được bệnh cho ma quỷ mới là kẻ đáng ngẩng mặt ở đời”. Lão không tin hắn, coi hắn là một tay cuồng đạo. Với lão, hắn chỉ là một tên bịp lừa, ve vãn linh hồn những kẻ đã tuyệt vọng trước sinh mạng của mình. Hắn tôn thờ cái chết, coi sự sống là sự giam cầm, chỉ có chết đi thì mới là sự giải thoát.

Còn lão thì hoàn toàn trái ngược. Lão tin rằng tất thảy loài người khi cận kề ranh giới sống chết đều sợ hãi. Một nỗi sợ hãi tột cùng. Lão chợt nhớ đến Ké Pạt, người được hắn phán sẽ chết vào một ngày nguyệt kị. Đó là ngày tuyệt mệnh của người đàn ông già nghèo khổ, không người thân thuộc, sống một mình trong căn chòi hoang. Ké Pạt mắc bệnh lạ, toàn thân mọc lên những chiếc mụn lớn như quả trứng gà. Đám mụn ngăn ngắt tím đen rồi toác vỡ chảy ra đám nước xanh đỏ dính dấp tanh tưởi khiến người khác không ai dám lại gần. Ké Pạt lê chân đến gặp mo Thàng, xin hắn phán ngày mình chết, để tự mình sắm sửa cho chuyến đi ấy. Biết rồi, gã đàn ông đau khổ ấy đến nằm trên miệng vực để khi nó đến Ké sẽ rơi luôn xuống đó. Chẳng phiền ai, người chết rồi thì thân xác không còn đau đớn. Người qua đường thở dài khi thấy Ké Pạt nằm đợi cái chết đến.

Lang Nhình quyết định cứu Ké Pạt. Đó là lần đầu tiên lão cứu một người không cầu xin lão. Có thể vì lão nhận ra Ké Pạt vẫn muốn níu kéo cuộc đời mình. Nhưng cái lớn nhất, lão muốn làm bẽ mặt mo Thàng. Thuốc của lão đã vượt qua lời của mo Thàng. Muốn ở trên đầu của hắn. Là người độc tôn ở đất này.

Lão đã làm được.

Nhưng khi những cái mụn lớn trên người Ké Pạt đã lành hẳn, gã bỗng biến thành người khác, từng ngày ra ngắm mình bên suối, ngẩn ngơ như kẻ mất hồn. Cuối mùa xuân năm ấy, khi những phiên chợ tình bắt đầu thưa vắng thì Ké Pạt cũng biến mất. Không ai rõ gã đi đâu. Mỗi lần đi qua căn chòi hoang lạnh của gã, người ta tự hỏi, tại sao Ké Pạt đủ can đảm đi tìm ngày chết cho mình. Nhưng gã lại không đủ dũng khí lăn xuống miệng vực trước ngày ấy đến…

Lão chợt nghe thấy những tiếng rì rầm từ trong suy nghĩ mo Thàng vọng lại. Nó lẫn trong tiếng râm ran xướng pháp như con quỷ cầm đao đầy sát khí. Cả người hắn biến thành chiếc lồng khổng lồ, giam cầm, nhốt hãm những hỗn loạn đang chực phá tung.

*

*          *

Tiếng mo Thàng cất lên như gió thổi. Đám người đưa cốt lão đặt xuống miệng huyệt. Những nắm đất khe khẽ đắp lên. Lão bỗng thấy mình tan dần. Những tiếng động phút chốc câm đặc. Trong ánh sáng cuối cùng đang thu hẹp lại, một sợi khói trắng chợt vút lên, theo gió thổi bay về phía khoảng trời mù sương không có nắng.

N.L

Theo Văn nghệ Quân Đội

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm