TIN TỨC

Lập trình thi pháp mới | Nguyễn Vũ Tiềm

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-11-01 17:56:40
mail facebook google pos stwis
2595 lượt xem

(Đọc tập thơ “Lập trình tia nắng mai”- NXB Hội Nhà Văn 2021 của Trần Thanh Bình)

NGUYỄN VŨ TIỀM

Đã lâu mới gặp lại, bạn thơ Hà Nội hỏi tôi: “Mình có cô học trò là Trần Thanh Bình ở Sài Gòn, học viên lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 12 lâu nay vắng tin không thấy viết gì, ông có biết cô ấy không”? Tôi nói “Không biết”. Một tháng sau, tôi nhận được tập thơ có tên là “Lập trình tia nắng mai”, do bạn thơ nói trên giới thiệu. Thì ra cái sự “vắng tin” trên đây là có lý do: Sau khi học lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn VN, tác giả Trần Thanh Bình có sự chuyển đổi bút pháp. Mới nghe cái tên tập thơ đã linh cảm điều đó.

Tìm cho mình một lối đi khác

Mấy tập thơ trước, Trần Thanh Bình viết theo bút pháp truyền thống, có tập 100% thơ lục bát. Đến tập “Lập trình tia nắng mai”, tác giả chuyển đổi sang thơ đổi mới: Hầu hết là thơ tự do, rất phóng khoáng mới mẻ. Lục bát cũng có mặt ở tập này nhưng chỉ khoảng trên mười bài, những bài này cũng mới mẻ khác trước nhiều lắm.

Thơ lục bát có điều dễ và khó riêng. Nhiều khi cái “dễ” của thể loại lục bát đánh lừa ta, đó là trường hợp khi chưa có ý tứ gì, nhưng sẵn có cái “khung sáu tám” quen thuộc, người viết cứ tựa vào khung đó, có sao nói vậy mà diễn ngôn đặt vô khung. Cuối cùng cũng thành bài lục bát đủ vần điệu, nhịp nhàng uyển chuyển, dễ đọc, dễ thuộc. Nếu có giọng tốt ngâm ngợi, có đàn sáo réo rắt kèm theo uyển chuyển du dương, người nghe cũng dễ bị lôi cuốn. Nghiêm túc mà nói, “có sao nói vậy” thì nó chỉ “giống như thơ” chứ chưa phải thơ mà chỉ là văn vần mà thôi. (Nhân tiện bàn sâu chút về học thuật thì nói cho hết nhẽ như thế, còn ai muốn gọi những bài văn vần đó là thơ thì cũng chẳng sao, chả ai cấm).

Thơ đích thực đòi hỏi khắt khe nhiều yếu tố như ý tưởng sâu sắc mới mẻ, cảm xúc chín, sự rung động mạnh mẽ, hình ảnh, ngôn từ sáng tạo, sự hàm súc cần thiết… Thơ đổi mới không có “cái khung” nào để tựa như lục bát, nên có cái khó riêng. Nếu không có những yếu tố như trên đây thì dễ bị “đổ” lắm. Trần Thanh Bình chuyển từ thể thơ truyền thống sang thơ đổi mới là quyết định đúng đắn hợp thời đại. Và, tất nhiên chấp nhận cái sự khó khăn vất vả đi kèm.

Từ năm 1986, đất nước ta đổi mới toàn diện, văn học cũng đổi mới mạnh mẽ, trong đó có thơ. Đổi mới thơ, quan trọng nhất là hệ thi pháp. Vấn đề này, tôi có viết bài trên báo Văn Nghệ (số 11- 2016) trong đó có câu tóm gọn như một định lý khoa học:  Hệ thi pháp cũ: Kể, tả, suy luận, kết thúc đóng (nghiêng về cổ vũ, động viên). Hệ thi pháp mới: Nghĩ, cảm, suy tưởng, kết thúc mở (nghiêng về chia sẻ nỗi niềm).

Tác giả Trần Thanh Bình có cố gắng chuyển đổi hệ thi pháp mới. Trong bài “Day dứt”: “Giọt sương gõ rỗng đêm/ gọi sao mai khép cửa/ Buồn như gối mền cứ mãi phẳng phiu”. Câu chữ cô đọng hàm súc. Đặc biệt câu cuối rất tâm trạng. Hình ảnh “gối mền phẳng phiu”. Đây là câu đặc sắc, hay nhất bài, viết được câu thơ này thật không dễ chút nào.

Em khám phá luống cày và dòng chữ/ mong tìm một lối đi” (Dòng chữ - Luống cày). Thì ra thời gian mà người bạn thơ của tôi bảo Trần Thanh Bình im lặng chính là tác giả đang “tìm một lối đi”. Trong lao động thơ, tìm cho mình “một lối đi” là rất cần thiết, việc này khó khăn bậc nhất. Có được lối đi riêng, thơ có giọng điệu riêng là công việc hàng đầu của nhà thơ.

Nhờ thơ tự do đổi mới khoáng đạt, Trần Thanh Bình viết được nhiều câu thơ khỏe khoắn, sâu sắc: “Thu nhan sắc bão giông/ Thu nghĩa tình hóa giải”. Trong bài “Khoảnh khắc giao mùa” có câu: “Chứng kiến lễ nghi giữa cuộc tình mùa thu và đông chí/ Tích lửa nồng tan biến giá băng”. Đoạn trích sau đây lại đặc sắc về ý tưởng thơ: “Xòe tay chị thấy mình nghèo/ gối đầu tiếc ngày dài chưa mở/ bật then đêm hứng lớp lớp sao rơi/ gõ cửa ngày mai trở về đầy ắp/ chị trở thành triệu phú những điều buông” (Buông)

Cái hay của đoạn thơ trên ở tương quan nghịch lý và tương phản: “chị thấy mình nghèo” nhưng có sự chuyển biến trong nhân sinh quan, nhân vật chị bỗng trở thành “triệu phú” bởi những điều “buông” . Ở đây thấp thoáng triết lý Phật giáo.

Thơ  bám sát thực tế xã hội và có tầm khái quát

Bấy lâu nay nhiều người chê thơ ta ít quan tâm đến thực tế xã hội. Điều này có cơ sở. Bao nhiêu chuyện đời, nhân tình thế thái, những chuyển động thời cuộc… ít được các nhà thơ quan tâm mà chỉ thấy thổ lộ tình cảm, cái tôi cá nhân được chăm chút quá nhiều. Đặc biệt là thơ tình mà phần lớn là tưởng tượng, tức… tình giả. Văn chương tối kỵ cái giả. Có phải vì thế mà công chúng ngày nay thờ ơ với thơ? Người in thơ nhiều hơn người mua thơ! Người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ!

Đến tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, tác giả đổi thay một cách quyết liệt. Gần gũi nhất, trong bài thơ viết về nỗi nhớ người mẹ vất vả nơi đồng quê: “Mỗi hạt lúa cõng từng con chữ/ con cua đâu phải bò ngang/ giương cặp mắt nằm im trong giỏ/ đổi cho con dòng chữ thẳng hàng”. Những câu thơ chắc nịch, “mỗi hạt lúa cõng từng con chữ” là hình ảnh rất đẹp. “Con cua bò ngang” tương quan với “dòng chữ thẳng hàng” lại là một sáng tạo nữa.

Lại nhớ câu thơ máu lửa của nhà thơ vùng châu Mỹ La tinh Octavio Paz “Đồng tiền liếm khô máu thế gian”. Xin thưa: thơ cách tân Việt Nam không hiếm câu ngang ngửa. Trong bài “239 bậc” của Trần Thanh Bình nói về những bậc đá ong lên ngôi chùa cổ kính tác giả kết hợp hình ảnh cổ xưa và cách tân, gây được cảm xúc suy tưởng phong phú sâu sắc: “Nhớ lối lên Chùa Tây Phương 239 bậc/ đá rêu mờ kết mây trắng dưới chân/ mang nặng tấm lưng còng/ mây gió đỡ mẹ lên từng bậc/ mẹ chống gối bước lên từng bước gánh gồng…/Đêm thật dài giấc mơ thì ngắn/ mẹ choàng sương giá làm khăn”.

Trong mùa bão lũ năm 2020, miền Trung của chúng ta chịu thiệt hại quá nhiều, cả nước cùng kiều bào hải ngoại và một số quốc gia trên thế giới đã góp tiền, của giúp đỡ bà con bị mất mát người và của. Trần Thanh Bình viết về sự chia sẻ thật cảm động: “Em học sinh nhịn quà sáng góp tiền/ suất hỗ trợ tuổi già tay run run trao gởi/ muôn trùng biển cả bỗng gần trong tấc gang”. Đặc biệt trong bài này, tác giả nhắc đến cái đẹp của mùa “nhan sắc” đồng thời nhắc nhở chúng ta cũng là mùa thu “bão giông”, tức là cái đẹp kèm theo sự tàn phá phũ phàng của thiên nhiên. Một phát hiện tưởng bình thường nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy sâu sắc.

Một mảng hiện thực khác, đó là vài mươi năm trở lại đây nhiều em gái mới trưởng thành hay chưa kịp trưởng thành từ quê ra phố kiếm công ăn việc làm, kiếm cơ hội đổi đời, may ít rủi nhiều và không ít bi kịch: “Hôm nay trăng cùng tôi ra phố/ trăng lạ lẫm trước chớp đèn xanh đỏ/ ánh trăng nào cũng nức nở phấn son/ tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” (Trăng từ làng ra phố). Câu cuối “tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” là một nét tâm trạng rất đáng chú ý, cũng là lời nhắc nhở khéo léo với các em.

Quê ngoại ở Thái Bình, tác giả có bài “Đất người Thái Bình”: “Người nông dân Thái Bình hiền như đất/ bao danh nhân không chịu đói nghèo/ Nguyễn Công Trứ uốn cong bãi biển/ lập ấp lập làng trù phú nuôi dân”. Ở bài này, tác giả khái quát, chấm phá về đất đai, con người, lịch sử Thái Bình gian truân và nổi tiếng về nhiều mặt, có nhiều danh nhân ghi dấu ấn vào sử sách. Bài thơ có dáng dấp sử thi. Một bài thơ viết về một đề tài như thế là khó. Nhưng ở đây, bài thơ khá phong phú về chất liệu thực tế … Sự nỗ lực của tác giả là rất đáng ghi nhận.

Liên tưởng xa hơn nữa, trong bài “Cha Trời – Mẹ Đất”: “Bầu trời phân lô/ mặt đất phân lô/ tầng ozon lỗ chỗ/ màu xanh nhạt dần mây đen vần vũ/ mắt người ngơ ngác hơi thở đóng băng/ dòng máu về tim tắc dần không lối thoát/ Bầy vi rút bất kham/ sức mạnh “văn minh” bất trị”. Trong bài này, tác giả dung hình ảnh cụ thể gần gũi, vi mô (“phân lô”) nhưng lại khái quát ở tầm vĩ mô (“bầu trời, mặt đất”). Đây là một sáng tạo táo bạo. Bài thơ này vừa được giải thưởng thơ hay trong Hội Thơ Nguyên Tiêu 2021 của Hội Nhà Văn TP.HCM.

Một số bài thơ khác cũng giàu chất hiện thực đời sống xã hội như “Men quê” , “Trăng từ làng ra phố”, “Bến lục bình” , “Lớp học online”… Chất hiện thực nóng hổi cộng với liên tưởng mạnh mẽ, khiến nhiều bài tạo được ấn tượng tốt trong lòng người đọc .

Trẻ trung và tinh tế

Trong tập “Lập trình tia nắng mai”, Trần Thanh Bình có nhiều bài thơ sâu nặng về nỗi niềm riêng tư, thơ tình cảm. Ở mảng này, tác giả cũng có nhiều bài gây ấn tượng tốt bởi hình ảnh, cấu chữ chọn lọc kỹ càng, tránh những câu trung tính, dễ dãi…

Một ngày bóc nõn giấc mơ/ bóc hoàng hôn để đón chờ bình minh/ đừng ai bóc cái chung tình/ bóc lời hẹn ước để mình không ta” (Chung tình). Hình ảnh “bóc nõn giấc mơ” là rất mới mẻ,đẹp, để rồi tác giả liên tưởng “bóc cái chung tình” là một bước tiến mới trong sự liên tưởng vừa cụ thể vừa trìu tượng. Người non tay khó có thể viết được những câu như thế.

Đoạn thơ sau đây lại tinh tế ở khía cạnh khác: “Em mong một áng sao mai/ đốt tầng hoang phế đốt chai sạn lòng/ nhú ra vạn vật xanh trong/ gió non nghiêng hết lúa đòng vào em” (Hơi thở bàn chân). Gió vốn khó nhìn thấy, vậy mà tác giả nhận ra được gió thổi trên cánh đồng lúa đang ngậm đòng là “gió non”, một hình ảnh tinh tế, tươi tắn, trẻ trung và đương nhiên là rất đẹp.

Thơ Thanh Bình luôn gắn bó với thực tế xã hội, nhưng cũng giàu chất suy tưởng. “Tiếp theo giọt sương rơi/ từng cánh hồng héo dần rồi rũ xuống/ khóc tiễn đưa bao cái đẹp hết mình” (Đóa hồng và giọt sương). Những cánh hồng sau thời gian thắm tươi rực rỡ nhất, đến lúc héo tàn thì ai cũng thấy, nhưng tác giả lại nhìn thấy cái khác nữa, đó là bao nhiêu cái đẹp trên thế gian này sau khi đã cống hiến hết mình thì đều ra đi, nhường chỗ cho những cái đẹp mới. Và những cánh hồng này rơi xuống như những giọt lệ khóc tiễn đưa. Một cái nhìn rất tinh tế và nhân văn.

Và tôi đặc biệt chú ý mấy câu thơ này: “Từ trong đáy mắt xa xôi/ bóng người ẩn hiện đang ngồi giữa trăng/ âm giai vũ trụ san bằng/ nguyên sơ bản thiện sáng vằng vặc soi” (Cảm hứng từ bức tranh “Người thổi sáo mù”). Tôi có biết bức tranh ấn tượng này, nhất là đôi mắt rất ám ảnh của người thổi sáo mù. Trần Thanh Bình có bài thơ về bức tranh với những câu thơ cũng rất ấn tượng và ám ảnh có pha chút bí ẩn. Mà đã bí ẩn thì… có lẽ miễn phân tích hay thẩm bình gì, chỉ biết đó là sự phong phú của một tâm hồn thơ.

Khó mà phân định rạch ròi thơ Trần Thanh Bình thuộc dòng hiện thực hay lãng mạn. Chính xác là cả hai yếu tố ấy được hòa quyện một cách nhuần nhị, tinh tế. Đó là một ưu điểm nổi bật trong tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, dấu ấn rất rõ nét về sự chuyển đổi bút pháp, thi pháp.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm