TIN TỨC

Lập trình thi pháp mới | Nguyễn Vũ Tiềm

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-11-01 17:56:40
mail facebook google pos stwis
2410 lượt xem

(Đọc tập thơ “Lập trình tia nắng mai”- NXB Hội Nhà Văn 2021 của Trần Thanh Bình)

NGUYỄN VŨ TIỀM

Đã lâu mới gặp lại, bạn thơ Hà Nội hỏi tôi: “Mình có cô học trò là Trần Thanh Bình ở Sài Gòn, học viên lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 12 lâu nay vắng tin không thấy viết gì, ông có biết cô ấy không”? Tôi nói “Không biết”. Một tháng sau, tôi nhận được tập thơ có tên là “Lập trình tia nắng mai”, do bạn thơ nói trên giới thiệu. Thì ra cái sự “vắng tin” trên đây là có lý do: Sau khi học lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn VN, tác giả Trần Thanh Bình có sự chuyển đổi bút pháp. Mới nghe cái tên tập thơ đã linh cảm điều đó.

Tìm cho mình một lối đi khác

Mấy tập thơ trước, Trần Thanh Bình viết theo bút pháp truyền thống, có tập 100% thơ lục bát. Đến tập “Lập trình tia nắng mai”, tác giả chuyển đổi sang thơ đổi mới: Hầu hết là thơ tự do, rất phóng khoáng mới mẻ. Lục bát cũng có mặt ở tập này nhưng chỉ khoảng trên mười bài, những bài này cũng mới mẻ khác trước nhiều lắm.

Thơ lục bát có điều dễ và khó riêng. Nhiều khi cái “dễ” của thể loại lục bát đánh lừa ta, đó là trường hợp khi chưa có ý tứ gì, nhưng sẵn có cái “khung sáu tám” quen thuộc, người viết cứ tựa vào khung đó, có sao nói vậy mà diễn ngôn đặt vô khung. Cuối cùng cũng thành bài lục bát đủ vần điệu, nhịp nhàng uyển chuyển, dễ đọc, dễ thuộc. Nếu có giọng tốt ngâm ngợi, có đàn sáo réo rắt kèm theo uyển chuyển du dương, người nghe cũng dễ bị lôi cuốn. Nghiêm túc mà nói, “có sao nói vậy” thì nó chỉ “giống như thơ” chứ chưa phải thơ mà chỉ là văn vần mà thôi. (Nhân tiện bàn sâu chút về học thuật thì nói cho hết nhẽ như thế, còn ai muốn gọi những bài văn vần đó là thơ thì cũng chẳng sao, chả ai cấm).

Thơ đích thực đòi hỏi khắt khe nhiều yếu tố như ý tưởng sâu sắc mới mẻ, cảm xúc chín, sự rung động mạnh mẽ, hình ảnh, ngôn từ sáng tạo, sự hàm súc cần thiết… Thơ đổi mới không có “cái khung” nào để tựa như lục bát, nên có cái khó riêng. Nếu không có những yếu tố như trên đây thì dễ bị “đổ” lắm. Trần Thanh Bình chuyển từ thể thơ truyền thống sang thơ đổi mới là quyết định đúng đắn hợp thời đại. Và, tất nhiên chấp nhận cái sự khó khăn vất vả đi kèm.

Từ năm 1986, đất nước ta đổi mới toàn diện, văn học cũng đổi mới mạnh mẽ, trong đó có thơ. Đổi mới thơ, quan trọng nhất là hệ thi pháp. Vấn đề này, tôi có viết bài trên báo Văn Nghệ (số 11- 2016) trong đó có câu tóm gọn như một định lý khoa học:  Hệ thi pháp cũ: Kể, tả, suy luận, kết thúc đóng (nghiêng về cổ vũ, động viên). Hệ thi pháp mới: Nghĩ, cảm, suy tưởng, kết thúc mở (nghiêng về chia sẻ nỗi niềm).

Tác giả Trần Thanh Bình có cố gắng chuyển đổi hệ thi pháp mới. Trong bài “Day dứt”: “Giọt sương gõ rỗng đêm/ gọi sao mai khép cửa/ Buồn như gối mền cứ mãi phẳng phiu”. Câu chữ cô đọng hàm súc. Đặc biệt câu cuối rất tâm trạng. Hình ảnh “gối mền phẳng phiu”. Đây là câu đặc sắc, hay nhất bài, viết được câu thơ này thật không dễ chút nào.

Em khám phá luống cày và dòng chữ/ mong tìm một lối đi” (Dòng chữ - Luống cày). Thì ra thời gian mà người bạn thơ của tôi bảo Trần Thanh Bình im lặng chính là tác giả đang “tìm một lối đi”. Trong lao động thơ, tìm cho mình “một lối đi” là rất cần thiết, việc này khó khăn bậc nhất. Có được lối đi riêng, thơ có giọng điệu riêng là công việc hàng đầu của nhà thơ.

Nhờ thơ tự do đổi mới khoáng đạt, Trần Thanh Bình viết được nhiều câu thơ khỏe khoắn, sâu sắc: “Thu nhan sắc bão giông/ Thu nghĩa tình hóa giải”. Trong bài “Khoảnh khắc giao mùa” có câu: “Chứng kiến lễ nghi giữa cuộc tình mùa thu và đông chí/ Tích lửa nồng tan biến giá băng”. Đoạn trích sau đây lại đặc sắc về ý tưởng thơ: “Xòe tay chị thấy mình nghèo/ gối đầu tiếc ngày dài chưa mở/ bật then đêm hứng lớp lớp sao rơi/ gõ cửa ngày mai trở về đầy ắp/ chị trở thành triệu phú những điều buông” (Buông)

Cái hay của đoạn thơ trên ở tương quan nghịch lý và tương phản: “chị thấy mình nghèo” nhưng có sự chuyển biến trong nhân sinh quan, nhân vật chị bỗng trở thành “triệu phú” bởi những điều “buông” . Ở đây thấp thoáng triết lý Phật giáo.

Thơ  bám sát thực tế xã hội và có tầm khái quát

Bấy lâu nay nhiều người chê thơ ta ít quan tâm đến thực tế xã hội. Điều này có cơ sở. Bao nhiêu chuyện đời, nhân tình thế thái, những chuyển động thời cuộc… ít được các nhà thơ quan tâm mà chỉ thấy thổ lộ tình cảm, cái tôi cá nhân được chăm chút quá nhiều. Đặc biệt là thơ tình mà phần lớn là tưởng tượng, tức… tình giả. Văn chương tối kỵ cái giả. Có phải vì thế mà công chúng ngày nay thờ ơ với thơ? Người in thơ nhiều hơn người mua thơ! Người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ!

Đến tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, tác giả đổi thay một cách quyết liệt. Gần gũi nhất, trong bài thơ viết về nỗi nhớ người mẹ vất vả nơi đồng quê: “Mỗi hạt lúa cõng từng con chữ/ con cua đâu phải bò ngang/ giương cặp mắt nằm im trong giỏ/ đổi cho con dòng chữ thẳng hàng”. Những câu thơ chắc nịch, “mỗi hạt lúa cõng từng con chữ” là hình ảnh rất đẹp. “Con cua bò ngang” tương quan với “dòng chữ thẳng hàng” lại là một sáng tạo nữa.

Lại nhớ câu thơ máu lửa của nhà thơ vùng châu Mỹ La tinh Octavio Paz “Đồng tiền liếm khô máu thế gian”. Xin thưa: thơ cách tân Việt Nam không hiếm câu ngang ngửa. Trong bài “239 bậc” của Trần Thanh Bình nói về những bậc đá ong lên ngôi chùa cổ kính tác giả kết hợp hình ảnh cổ xưa và cách tân, gây được cảm xúc suy tưởng phong phú sâu sắc: “Nhớ lối lên Chùa Tây Phương 239 bậc/ đá rêu mờ kết mây trắng dưới chân/ mang nặng tấm lưng còng/ mây gió đỡ mẹ lên từng bậc/ mẹ chống gối bước lên từng bước gánh gồng…/Đêm thật dài giấc mơ thì ngắn/ mẹ choàng sương giá làm khăn”.

Trong mùa bão lũ năm 2020, miền Trung của chúng ta chịu thiệt hại quá nhiều, cả nước cùng kiều bào hải ngoại và một số quốc gia trên thế giới đã góp tiền, của giúp đỡ bà con bị mất mát người và của. Trần Thanh Bình viết về sự chia sẻ thật cảm động: “Em học sinh nhịn quà sáng góp tiền/ suất hỗ trợ tuổi già tay run run trao gởi/ muôn trùng biển cả bỗng gần trong tấc gang”. Đặc biệt trong bài này, tác giả nhắc đến cái đẹp của mùa “nhan sắc” đồng thời nhắc nhở chúng ta cũng là mùa thu “bão giông”, tức là cái đẹp kèm theo sự tàn phá phũ phàng của thiên nhiên. Một phát hiện tưởng bình thường nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy sâu sắc.

Một mảng hiện thực khác, đó là vài mươi năm trở lại đây nhiều em gái mới trưởng thành hay chưa kịp trưởng thành từ quê ra phố kiếm công ăn việc làm, kiếm cơ hội đổi đời, may ít rủi nhiều và không ít bi kịch: “Hôm nay trăng cùng tôi ra phố/ trăng lạ lẫm trước chớp đèn xanh đỏ/ ánh trăng nào cũng nức nở phấn son/ tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” (Trăng từ làng ra phố). Câu cuối “tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” là một nét tâm trạng rất đáng chú ý, cũng là lời nhắc nhở khéo léo với các em.

Quê ngoại ở Thái Bình, tác giả có bài “Đất người Thái Bình”: “Người nông dân Thái Bình hiền như đất/ bao danh nhân không chịu đói nghèo/ Nguyễn Công Trứ uốn cong bãi biển/ lập ấp lập làng trù phú nuôi dân”. Ở bài này, tác giả khái quát, chấm phá về đất đai, con người, lịch sử Thái Bình gian truân và nổi tiếng về nhiều mặt, có nhiều danh nhân ghi dấu ấn vào sử sách. Bài thơ có dáng dấp sử thi. Một bài thơ viết về một đề tài như thế là khó. Nhưng ở đây, bài thơ khá phong phú về chất liệu thực tế … Sự nỗ lực của tác giả là rất đáng ghi nhận.

Liên tưởng xa hơn nữa, trong bài “Cha Trời – Mẹ Đất”: “Bầu trời phân lô/ mặt đất phân lô/ tầng ozon lỗ chỗ/ màu xanh nhạt dần mây đen vần vũ/ mắt người ngơ ngác hơi thở đóng băng/ dòng máu về tim tắc dần không lối thoát/ Bầy vi rút bất kham/ sức mạnh “văn minh” bất trị”. Trong bài này, tác giả dung hình ảnh cụ thể gần gũi, vi mô (“phân lô”) nhưng lại khái quát ở tầm vĩ mô (“bầu trời, mặt đất”). Đây là một sáng tạo táo bạo. Bài thơ này vừa được giải thưởng thơ hay trong Hội Thơ Nguyên Tiêu 2021 của Hội Nhà Văn TP.HCM.

Một số bài thơ khác cũng giàu chất hiện thực đời sống xã hội như “Men quê” , “Trăng từ làng ra phố”, “Bến lục bình” , “Lớp học online”… Chất hiện thực nóng hổi cộng với liên tưởng mạnh mẽ, khiến nhiều bài tạo được ấn tượng tốt trong lòng người đọc .

Trẻ trung và tinh tế

Trong tập “Lập trình tia nắng mai”, Trần Thanh Bình có nhiều bài thơ sâu nặng về nỗi niềm riêng tư, thơ tình cảm. Ở mảng này, tác giả cũng có nhiều bài gây ấn tượng tốt bởi hình ảnh, cấu chữ chọn lọc kỹ càng, tránh những câu trung tính, dễ dãi…

Một ngày bóc nõn giấc mơ/ bóc hoàng hôn để đón chờ bình minh/ đừng ai bóc cái chung tình/ bóc lời hẹn ước để mình không ta” (Chung tình). Hình ảnh “bóc nõn giấc mơ” là rất mới mẻ,đẹp, để rồi tác giả liên tưởng “bóc cái chung tình” là một bước tiến mới trong sự liên tưởng vừa cụ thể vừa trìu tượng. Người non tay khó có thể viết được những câu như thế.

Đoạn thơ sau đây lại tinh tế ở khía cạnh khác: “Em mong một áng sao mai/ đốt tầng hoang phế đốt chai sạn lòng/ nhú ra vạn vật xanh trong/ gió non nghiêng hết lúa đòng vào em” (Hơi thở bàn chân). Gió vốn khó nhìn thấy, vậy mà tác giả nhận ra được gió thổi trên cánh đồng lúa đang ngậm đòng là “gió non”, một hình ảnh tinh tế, tươi tắn, trẻ trung và đương nhiên là rất đẹp.

Thơ Thanh Bình luôn gắn bó với thực tế xã hội, nhưng cũng giàu chất suy tưởng. “Tiếp theo giọt sương rơi/ từng cánh hồng héo dần rồi rũ xuống/ khóc tiễn đưa bao cái đẹp hết mình” (Đóa hồng và giọt sương). Những cánh hồng sau thời gian thắm tươi rực rỡ nhất, đến lúc héo tàn thì ai cũng thấy, nhưng tác giả lại nhìn thấy cái khác nữa, đó là bao nhiêu cái đẹp trên thế gian này sau khi đã cống hiến hết mình thì đều ra đi, nhường chỗ cho những cái đẹp mới. Và những cánh hồng này rơi xuống như những giọt lệ khóc tiễn đưa. Một cái nhìn rất tinh tế và nhân văn.

Và tôi đặc biệt chú ý mấy câu thơ này: “Từ trong đáy mắt xa xôi/ bóng người ẩn hiện đang ngồi giữa trăng/ âm giai vũ trụ san bằng/ nguyên sơ bản thiện sáng vằng vặc soi” (Cảm hứng từ bức tranh “Người thổi sáo mù”). Tôi có biết bức tranh ấn tượng này, nhất là đôi mắt rất ám ảnh của người thổi sáo mù. Trần Thanh Bình có bài thơ về bức tranh với những câu thơ cũng rất ấn tượng và ám ảnh có pha chút bí ẩn. Mà đã bí ẩn thì… có lẽ miễn phân tích hay thẩm bình gì, chỉ biết đó là sự phong phú của một tâm hồn thơ.

Khó mà phân định rạch ròi thơ Trần Thanh Bình thuộc dòng hiện thực hay lãng mạn. Chính xác là cả hai yếu tố ấy được hòa quyện một cách nhuần nhị, tinh tế. Đó là một ưu điểm nổi bật trong tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, dấu ấn rất rõ nét về sự chuyển đổi bút pháp, thi pháp.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm