TIN TỨC

Lập trình thi pháp mới | Nguyễn Vũ Tiềm

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-11-01 17:56:40
mail facebook google pos stwis
2500 lượt xem

(Đọc tập thơ “Lập trình tia nắng mai”- NXB Hội Nhà Văn 2021 của Trần Thanh Bình)

NGUYỄN VŨ TIỀM

Đã lâu mới gặp lại, bạn thơ Hà Nội hỏi tôi: “Mình có cô học trò là Trần Thanh Bình ở Sài Gòn, học viên lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 12 lâu nay vắng tin không thấy viết gì, ông có biết cô ấy không”? Tôi nói “Không biết”. Một tháng sau, tôi nhận được tập thơ có tên là “Lập trình tia nắng mai”, do bạn thơ nói trên giới thiệu. Thì ra cái sự “vắng tin” trên đây là có lý do: Sau khi học lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn VN, tác giả Trần Thanh Bình có sự chuyển đổi bút pháp. Mới nghe cái tên tập thơ đã linh cảm điều đó.

Tìm cho mình một lối đi khác

Mấy tập thơ trước, Trần Thanh Bình viết theo bút pháp truyền thống, có tập 100% thơ lục bát. Đến tập “Lập trình tia nắng mai”, tác giả chuyển đổi sang thơ đổi mới: Hầu hết là thơ tự do, rất phóng khoáng mới mẻ. Lục bát cũng có mặt ở tập này nhưng chỉ khoảng trên mười bài, những bài này cũng mới mẻ khác trước nhiều lắm.

Thơ lục bát có điều dễ và khó riêng. Nhiều khi cái “dễ” của thể loại lục bát đánh lừa ta, đó là trường hợp khi chưa có ý tứ gì, nhưng sẵn có cái “khung sáu tám” quen thuộc, người viết cứ tựa vào khung đó, có sao nói vậy mà diễn ngôn đặt vô khung. Cuối cùng cũng thành bài lục bát đủ vần điệu, nhịp nhàng uyển chuyển, dễ đọc, dễ thuộc. Nếu có giọng tốt ngâm ngợi, có đàn sáo réo rắt kèm theo uyển chuyển du dương, người nghe cũng dễ bị lôi cuốn. Nghiêm túc mà nói, “có sao nói vậy” thì nó chỉ “giống như thơ” chứ chưa phải thơ mà chỉ là văn vần mà thôi. (Nhân tiện bàn sâu chút về học thuật thì nói cho hết nhẽ như thế, còn ai muốn gọi những bài văn vần đó là thơ thì cũng chẳng sao, chả ai cấm).

Thơ đích thực đòi hỏi khắt khe nhiều yếu tố như ý tưởng sâu sắc mới mẻ, cảm xúc chín, sự rung động mạnh mẽ, hình ảnh, ngôn từ sáng tạo, sự hàm súc cần thiết… Thơ đổi mới không có “cái khung” nào để tựa như lục bát, nên có cái khó riêng. Nếu không có những yếu tố như trên đây thì dễ bị “đổ” lắm. Trần Thanh Bình chuyển từ thể thơ truyền thống sang thơ đổi mới là quyết định đúng đắn hợp thời đại. Và, tất nhiên chấp nhận cái sự khó khăn vất vả đi kèm.

Từ năm 1986, đất nước ta đổi mới toàn diện, văn học cũng đổi mới mạnh mẽ, trong đó có thơ. Đổi mới thơ, quan trọng nhất là hệ thi pháp. Vấn đề này, tôi có viết bài trên báo Văn Nghệ (số 11- 2016) trong đó có câu tóm gọn như một định lý khoa học:  Hệ thi pháp cũ: Kể, tả, suy luận, kết thúc đóng (nghiêng về cổ vũ, động viên). Hệ thi pháp mới: Nghĩ, cảm, suy tưởng, kết thúc mở (nghiêng về chia sẻ nỗi niềm).

Tác giả Trần Thanh Bình có cố gắng chuyển đổi hệ thi pháp mới. Trong bài “Day dứt”: “Giọt sương gõ rỗng đêm/ gọi sao mai khép cửa/ Buồn như gối mền cứ mãi phẳng phiu”. Câu chữ cô đọng hàm súc. Đặc biệt câu cuối rất tâm trạng. Hình ảnh “gối mền phẳng phiu”. Đây là câu đặc sắc, hay nhất bài, viết được câu thơ này thật không dễ chút nào.

Em khám phá luống cày và dòng chữ/ mong tìm một lối đi” (Dòng chữ - Luống cày). Thì ra thời gian mà người bạn thơ của tôi bảo Trần Thanh Bình im lặng chính là tác giả đang “tìm một lối đi”. Trong lao động thơ, tìm cho mình “một lối đi” là rất cần thiết, việc này khó khăn bậc nhất. Có được lối đi riêng, thơ có giọng điệu riêng là công việc hàng đầu của nhà thơ.

Nhờ thơ tự do đổi mới khoáng đạt, Trần Thanh Bình viết được nhiều câu thơ khỏe khoắn, sâu sắc: “Thu nhan sắc bão giông/ Thu nghĩa tình hóa giải”. Trong bài “Khoảnh khắc giao mùa” có câu: “Chứng kiến lễ nghi giữa cuộc tình mùa thu và đông chí/ Tích lửa nồng tan biến giá băng”. Đoạn trích sau đây lại đặc sắc về ý tưởng thơ: “Xòe tay chị thấy mình nghèo/ gối đầu tiếc ngày dài chưa mở/ bật then đêm hứng lớp lớp sao rơi/ gõ cửa ngày mai trở về đầy ắp/ chị trở thành triệu phú những điều buông” (Buông)

Cái hay của đoạn thơ trên ở tương quan nghịch lý và tương phản: “chị thấy mình nghèo” nhưng có sự chuyển biến trong nhân sinh quan, nhân vật chị bỗng trở thành “triệu phú” bởi những điều “buông” . Ở đây thấp thoáng triết lý Phật giáo.

Thơ  bám sát thực tế xã hội và có tầm khái quát

Bấy lâu nay nhiều người chê thơ ta ít quan tâm đến thực tế xã hội. Điều này có cơ sở. Bao nhiêu chuyện đời, nhân tình thế thái, những chuyển động thời cuộc… ít được các nhà thơ quan tâm mà chỉ thấy thổ lộ tình cảm, cái tôi cá nhân được chăm chút quá nhiều. Đặc biệt là thơ tình mà phần lớn là tưởng tượng, tức… tình giả. Văn chương tối kỵ cái giả. Có phải vì thế mà công chúng ngày nay thờ ơ với thơ? Người in thơ nhiều hơn người mua thơ! Người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ!

Đến tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, tác giả đổi thay một cách quyết liệt. Gần gũi nhất, trong bài thơ viết về nỗi nhớ người mẹ vất vả nơi đồng quê: “Mỗi hạt lúa cõng từng con chữ/ con cua đâu phải bò ngang/ giương cặp mắt nằm im trong giỏ/ đổi cho con dòng chữ thẳng hàng”. Những câu thơ chắc nịch, “mỗi hạt lúa cõng từng con chữ” là hình ảnh rất đẹp. “Con cua bò ngang” tương quan với “dòng chữ thẳng hàng” lại là một sáng tạo nữa.

Lại nhớ câu thơ máu lửa của nhà thơ vùng châu Mỹ La tinh Octavio Paz “Đồng tiền liếm khô máu thế gian”. Xin thưa: thơ cách tân Việt Nam không hiếm câu ngang ngửa. Trong bài “239 bậc” của Trần Thanh Bình nói về những bậc đá ong lên ngôi chùa cổ kính tác giả kết hợp hình ảnh cổ xưa và cách tân, gây được cảm xúc suy tưởng phong phú sâu sắc: “Nhớ lối lên Chùa Tây Phương 239 bậc/ đá rêu mờ kết mây trắng dưới chân/ mang nặng tấm lưng còng/ mây gió đỡ mẹ lên từng bậc/ mẹ chống gối bước lên từng bước gánh gồng…/Đêm thật dài giấc mơ thì ngắn/ mẹ choàng sương giá làm khăn”.

Trong mùa bão lũ năm 2020, miền Trung của chúng ta chịu thiệt hại quá nhiều, cả nước cùng kiều bào hải ngoại và một số quốc gia trên thế giới đã góp tiền, của giúp đỡ bà con bị mất mát người và của. Trần Thanh Bình viết về sự chia sẻ thật cảm động: “Em học sinh nhịn quà sáng góp tiền/ suất hỗ trợ tuổi già tay run run trao gởi/ muôn trùng biển cả bỗng gần trong tấc gang”. Đặc biệt trong bài này, tác giả nhắc đến cái đẹp của mùa “nhan sắc” đồng thời nhắc nhở chúng ta cũng là mùa thu “bão giông”, tức là cái đẹp kèm theo sự tàn phá phũ phàng của thiên nhiên. Một phát hiện tưởng bình thường nhưng càng ngẫm nghĩ càng thấy sâu sắc.

Một mảng hiện thực khác, đó là vài mươi năm trở lại đây nhiều em gái mới trưởng thành hay chưa kịp trưởng thành từ quê ra phố kiếm công ăn việc làm, kiếm cơ hội đổi đời, may ít rủi nhiều và không ít bi kịch: “Hôm nay trăng cùng tôi ra phố/ trăng lạ lẫm trước chớp đèn xanh đỏ/ ánh trăng nào cũng nức nở phấn son/ tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” (Trăng từ làng ra phố). Câu cuối “tôi tủi hổ với trái xoài trái bưởi” là một nét tâm trạng rất đáng chú ý, cũng là lời nhắc nhở khéo léo với các em.

Quê ngoại ở Thái Bình, tác giả có bài “Đất người Thái Bình”: “Người nông dân Thái Bình hiền như đất/ bao danh nhân không chịu đói nghèo/ Nguyễn Công Trứ uốn cong bãi biển/ lập ấp lập làng trù phú nuôi dân”. Ở bài này, tác giả khái quát, chấm phá về đất đai, con người, lịch sử Thái Bình gian truân và nổi tiếng về nhiều mặt, có nhiều danh nhân ghi dấu ấn vào sử sách. Bài thơ có dáng dấp sử thi. Một bài thơ viết về một đề tài như thế là khó. Nhưng ở đây, bài thơ khá phong phú về chất liệu thực tế … Sự nỗ lực của tác giả là rất đáng ghi nhận.

Liên tưởng xa hơn nữa, trong bài “Cha Trời – Mẹ Đất”: “Bầu trời phân lô/ mặt đất phân lô/ tầng ozon lỗ chỗ/ màu xanh nhạt dần mây đen vần vũ/ mắt người ngơ ngác hơi thở đóng băng/ dòng máu về tim tắc dần không lối thoát/ Bầy vi rút bất kham/ sức mạnh “văn minh” bất trị”. Trong bài này, tác giả dung hình ảnh cụ thể gần gũi, vi mô (“phân lô”) nhưng lại khái quát ở tầm vĩ mô (“bầu trời, mặt đất”). Đây là một sáng tạo táo bạo. Bài thơ này vừa được giải thưởng thơ hay trong Hội Thơ Nguyên Tiêu 2021 của Hội Nhà Văn TP.HCM.

Một số bài thơ khác cũng giàu chất hiện thực đời sống xã hội như “Men quê” , “Trăng từ làng ra phố”, “Bến lục bình” , “Lớp học online”… Chất hiện thực nóng hổi cộng với liên tưởng mạnh mẽ, khiến nhiều bài tạo được ấn tượng tốt trong lòng người đọc .

Trẻ trung và tinh tế

Trong tập “Lập trình tia nắng mai”, Trần Thanh Bình có nhiều bài thơ sâu nặng về nỗi niềm riêng tư, thơ tình cảm. Ở mảng này, tác giả cũng có nhiều bài gây ấn tượng tốt bởi hình ảnh, cấu chữ chọn lọc kỹ càng, tránh những câu trung tính, dễ dãi…

Một ngày bóc nõn giấc mơ/ bóc hoàng hôn để đón chờ bình minh/ đừng ai bóc cái chung tình/ bóc lời hẹn ước để mình không ta” (Chung tình). Hình ảnh “bóc nõn giấc mơ” là rất mới mẻ,đẹp, để rồi tác giả liên tưởng “bóc cái chung tình” là một bước tiến mới trong sự liên tưởng vừa cụ thể vừa trìu tượng. Người non tay khó có thể viết được những câu như thế.

Đoạn thơ sau đây lại tinh tế ở khía cạnh khác: “Em mong một áng sao mai/ đốt tầng hoang phế đốt chai sạn lòng/ nhú ra vạn vật xanh trong/ gió non nghiêng hết lúa đòng vào em” (Hơi thở bàn chân). Gió vốn khó nhìn thấy, vậy mà tác giả nhận ra được gió thổi trên cánh đồng lúa đang ngậm đòng là “gió non”, một hình ảnh tinh tế, tươi tắn, trẻ trung và đương nhiên là rất đẹp.

Thơ Thanh Bình luôn gắn bó với thực tế xã hội, nhưng cũng giàu chất suy tưởng. “Tiếp theo giọt sương rơi/ từng cánh hồng héo dần rồi rũ xuống/ khóc tiễn đưa bao cái đẹp hết mình” (Đóa hồng và giọt sương). Những cánh hồng sau thời gian thắm tươi rực rỡ nhất, đến lúc héo tàn thì ai cũng thấy, nhưng tác giả lại nhìn thấy cái khác nữa, đó là bao nhiêu cái đẹp trên thế gian này sau khi đã cống hiến hết mình thì đều ra đi, nhường chỗ cho những cái đẹp mới. Và những cánh hồng này rơi xuống như những giọt lệ khóc tiễn đưa. Một cái nhìn rất tinh tế và nhân văn.

Và tôi đặc biệt chú ý mấy câu thơ này: “Từ trong đáy mắt xa xôi/ bóng người ẩn hiện đang ngồi giữa trăng/ âm giai vũ trụ san bằng/ nguyên sơ bản thiện sáng vằng vặc soi” (Cảm hứng từ bức tranh “Người thổi sáo mù”). Tôi có biết bức tranh ấn tượng này, nhất là đôi mắt rất ám ảnh của người thổi sáo mù. Trần Thanh Bình có bài thơ về bức tranh với những câu thơ cũng rất ấn tượng và ám ảnh có pha chút bí ẩn. Mà đã bí ẩn thì… có lẽ miễn phân tích hay thẩm bình gì, chỉ biết đó là sự phong phú của một tâm hồn thơ.

Khó mà phân định rạch ròi thơ Trần Thanh Bình thuộc dòng hiện thực hay lãng mạn. Chính xác là cả hai yếu tố ấy được hòa quyện một cách nhuần nhị, tinh tế. Đó là một ưu điểm nổi bật trong tập thơ “Lập trình tia nắng mai”, dấu ấn rất rõ nét về sự chuyển đổi bút pháp, thi pháp.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm