TIN TỨC

Lê Xuân và những “hạt vàng” văn chương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-22 08:04:01
mail facebook google pos stwis
2583 lượt xem

 PHẠM ĐÌNH ÂN

Nhà văn Lê Xuân (tên thật là Lê Xuân Bột) vốn là một thầy giáo dạy văn giỏi đã góp phần đào tạo bồi dưỡng nhiều học sinh đạt giải quốc gia. Song hành cùng nghề dạy học ông còn làm báo, viết văn, gắn bó với vùng đồng bào dân tộc Tây Bắc mười lăm năm và vùng Đồng bằng sông Cửu Long hơn bốn mươi năm nên nhiều bài viết của ông giàu chất liên tưởng về con người và vùng đất ở mỗi tác phẩm.

Gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng sông nước miệt vườn Cửu Long mà Lê Xuân xem là “máu thịt”, là “quê hương thứ hai” của ông nên những trang viết thấm đẫm chất dân gian và trí tuệ của con người vùng đất này, đặc biệt là về mặt ngôn ngữ. Từ khi nghỉ hưu ông càng dồn sức cho những trang viết phê bình, và ông đã trở thành một nhà Phê bình văn học đích thực.

Lê Xuân đã xuất bản chín đầu sách về: Tiểu luận và Phê bình văn học, Chân dung văn học, Khảo cứu văn hóa, văn nghệ dân gian, Bình thơ, Truyện, Ký, Tản văn, Thơ… Nhưng thành công hơn cả vẫn là mảng Phê bình văn học. Cuốn “Nhặt những hạt vàng” gồm những bài viết về thơ, truyện, nhạc của một số tác giả mà ông yêu thích. Với 42 bài viết về các tác giả, tác phẩm và gọi đó là những “hạt vàng” mà ông “nhặt” được trên cánh đồng văn chương, rồi đồng điệu để viết lời cảm nhận. Qua đó người đọc sẽ thấy được những mặt thành công về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đặc biệt về cái mới, cái lạ mà nhà văn ấy có được để làm nên tác phẩm.

Nhiều tác giả trong tập sách đã quen thuộc với bạn đọc như: nhà văn Vũ Hồng, nhà thơ Đặng Vương Hưng, nhà thơ Trúc Linh Lan, nhà thơ Phạm Đình Ân, nhà thơ Bùi Đức Ánh, nhà văn Nguyễn Khai Phong, nhà thơ Bùi Văn Bồng, nhà thơ Phan Bá Linh, nhà thơ Trần Thanh Chương, nhà thơ Đặng Phúc Minh, nhà văn Phạm Văn Thúy, nhà văn Nguyễn Thanh… Và khi tập sách này ra mắt thì đã có một số tác giả đã về nơi vĩnh hằng, như: nhà văn Nguyễn Khai Phong, nhà thơ Nguyễn Đình Thắng (Cần Thơ), nhà thơ Nguyễn Văn Chương (Bắc Ninh), nhà thơ Lâm Tẻn Cuôi (Bạc Liêu), nhà thơ Bùi Văn Bồng (Thanh Hóa).

Ở mỗi tác phẩm, ông luôn chú ý phát hiện “thi pháp” mà tác giả biểu hiện qua ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật, rồi từ đó “Lấy hồn tôi để hiểu hồn người” (Hoài Thanh) và đưa ra những so sánh tương đồng giữa cách thể hiện nội dung, ý tưởng của tác giả này với tác giả khác. Với trường liên tưởng ấy, ông chỉ ra cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của tác phẩm và sự thành công của tác giả. Ví như viết về tuyển tập “Bốn mươi năm lục bát mỗi ngày” của nhà thơ Đặng Vương Hưng: “Cái đáng quý trong lục bát của anh là luôn luôn giữ nụ cười lạc quan. Nó được tỏa sáng bởi cái “tếu táo”, cái “khiêm nhường” và “tự trào”. Có khi nó ẩn chứa tiếng cười của Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Có lúc lại phớt đời, mang cái “ngông” của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu. Đâu đó lại hàm chứa tiếng cười của Bút Tre, Bảo Sinh, Trần Nhương… Thơ anh là thơ của “thảo dân”, thơ của “lính”, chất dân dã nổi trội nhưng không phải là không hàm chứa tính “uyên bác”.

Hoặc khi viết về tập truyện ngắn “Không phải lần đầu” của nhà văn Huyền Văn, ông nhận xét: “Người đọc bị ám ảnh về những câu chuyện tình đẹp được viết bằng lối văn nhẹ nhàng như văn Thạch Lam nhưng rất có duyên của người con gái Nam Bộ. Tác giả đã diễn tả tâm lý nhân vật một cách kín đáo qua ngoại cảnh và lời thoại…Tôi có cảm giác Huyền Văn đang quay những thước phim cận cảnh về những kỷ niệm vui buồn bị thôi thúc trong quá khứ. Và chị phải viết ra như thế để trả món nợ cho đời. Trong góc khuất tận cùng của con tim đã phát ra những lời tâm tình thỏ thẻ, khiến người đọc dâng lên một niềm cảm thông sâu sắc”.

Hay khi viết về tập nhạc “Thương hoài” của nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Thanh (Ngũ Lang) ông đã thể hiện sự thẩm định về nhạc và ca từ của tác phẩm này: “Nhạc của anh là tiếng lòng thâm trầm, sâu lắng và thường nghiêng về những hoài niệm, phần lớn được viết ở cung “Thứ”, nhịp 2/4 hoặc 4/4, một số bản viết ở điệu valse nhịp 3/4 với cường độ nhẹ và sắc thái biểu cảm gây nhiều ấn tượng. Ca từ đẹp, chắp cánh cùng giai điệu đậm chất dân ca Nam Bộ gợi nên một nỗi buồn khi lãng đãng như sương sớm, lúc mơ màng khi chiều buông, khi ngân vang những hoài vọng da diết của con tim đa sầu đa cảm”.

Viết Tiểu luận và Phê bình văn học là một công việc khó đòi hỏi người viết phải có vốn tri thức rộng, nhiều trải nghiệm, đi nhiều, đọc nhiều, có tâm hồn lộng gió bốn phương, thì ông đã có được phần lớn điều đó. Ở những bài viết ấy, ông nghiêng về phần “bình” hơn phần “phê”.

Ở những mặt hạn chế của tác phẩm ông có cách “phê” khéo, động viên tác giả dụng công hơn “Khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) chứ không như quan niệm Phê bình văn học phải là “cái roi” quất cho “con ngựa” sáng tác chạy. Ví như khi “phê” một số bài thơ còn non của Nguyễn Văn Chương (quê Bắc Ninh), ông viết: Chỉ hơi tiếc ở một vài bài anh còn rậm lời, loãng ý, hướng tới sự kết thúc có hậu, hoặc lạm dụng từ Hán Việt, hoặc cách diễn nôm câu thơ quá dễ dãi: như: “thiên cổ lụy”, “bá tử cân đai”, “môn đăng hộ đối”..., hoặc sa vào lời thơ như “khẩu ngữ”: “Cuốc nương còn cuốc phải bom đạn/ Lụt vừa năm trước, bão năm sau” (Dẻo thơm một hạt).

Dù viết về thơ hay truyện ông đều hướng người đọc đến với những “điểm sáng thẩm mỹ”, nhấn vào những “nhãn tự” của bài thơ mà tác giả đã gửi gắm thông điệp về nhân sinh, lòng nhân ái, để người đọc hướng tới Chân, Thiện, Mỹ. Điều đó đã giúp ông luôn luôn cộng hưởng và “đồng sáng tạo” cùng  tác giả.

 “Nhặt những hạt vàng” là tập Tiểu luận và Phê bình văn học mà phần lớn số bài đã được đăng trên các báo và tạp chí Trung ương và địa phương. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm