TIN TỨC

Minh Anh, người đánh thức thế giới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-21 16:50:37
mail facebook google pos stwis
2975 lượt xem

Mai Văn Phấn

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - "từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống" (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).

Người viết những câu thơ giàu nội lực ấy còn rất trẻ. Khi tập thơ "Một ngày từ bên trong" (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) được ấn hành, tác giả Minh Anh mới bước vào tuổi 16, đang là học sinh phổ thông trung học. Nếu chỉ đọc những câu thơ trên mà không biết tác giả là ai, chắc tôi không thể đoán độ tuổi người viết; chỉ thấy, một khung cảnh lớn được mở ra dưới góc nhìn của người dường như đã giàu trải nghiệm, và lạ thay, từng câu chữ lại vang động hồn nhiên, trong trẻo khác thường. Nhãn quan và giọng nói ấy xuyên suốt tập thơ này, làm thức dậy sức sống tươi trẻ trong những ngổn ngang, đổ vỡ, già nua của thế giới đương thời.

Khác với một số tác giả nhỏ tuổi, Minh Anh ít biểu lộ sự ngộ nghĩnh, bồng bột của trẻ thơ, mà thay vì thế, cô sớm có cái nhìn bao quát và minh triết, nhưng vẫn giữ được vẻ thơ ngây, hồn nhiên. Trái tim nhạy cảm của thi sĩ Minh Anh như cỏ tơ, như mầm hạt đã rung lên mãnh liệt khi chạm vào thế giới này. Khổ thơ dưới đây cho thấy tác giả có cảm nhận tinh tế, cái nhìn thấu thị về một thế giới tuyệt đẹp và mong manh luôn cần được giữ gìn, bảo vệ.

"thế giới này

chúng ta đều như quả trứng

đủ mạnh để bảo vệ bên trong

nhưng dễ bị vỡ nát"

(Một quả trứng).

Thế giới thơ Minh Anh giống một cái cây, mà mỗi con người tựa như chiếc lá xanh tốt trên thân cây ấy. Cây cối luôn tươi tốt nhờ nguồn nước, khoáng chất, không khí và ánh sáng, con người cũng chẳng khác gì. Con người vốn được sinh ra từ một cội nguồn: theo Kinh Thánh, Adam và Eva là thủy tổ của loài người. Nhà di truyền học Adam Rutherford[1] từng nói: “Chúng ta bị ràng buộc về mặt văn hóa và được rèn luyện về mặt tâm lý để không nghĩ về tổ tiên theo nghĩa rất bao la.[2]” (Tạm dịch)

"mùa đông đến

lá rơi xuống bỏ lại cành trơ trọi

nhắc chúng ta rằng

phía bên kia của một nửa thế giới

dẫu không còn cạnh nhau

mình luôn là sự kết nối

chung một dòng nước

chung một thân cây

chung một gốc rễ"

(Cái cây của tình bằng hữu).

Thơ Minh Anh như cố ý giấu đi sự bay bổng, ít thơ mộng hóa các đối tượng được phản ánh, mà chọn cách nói tự nhiên, chân thực nhất để biểu đạt. Do vậy, bạn đọc cùng trang lứa có lẽ sẽ cảm nhận Minh Anh như người bạn tâm tình, thường sẻ chia với họ những điều thú vị và mới lạ. Người đọc lớn tuổi thì thấy cô gần gũi như người thân, hay gợi nhắc những điều cần lưu ý trong cuộc đời đầy rẫy những lo âu, rủi ro này.

"ta chỉ là những đứa trẻ

là những con kiến trong giống loài mình

...

biết đâu những con kiến này

cũng đã có thể bị chặn giết

bởi những con kiến khác"

(Những con kiến).

Thơ Minh Anh có góc liên tưởng rộng mở, cho ta cảm nhận như không có đường biên trong đó. Từ phía "không đường biên" ấy, tác giả như quyến dụ người đọc quay về điểm nhìn ban đầu để chiêm ngẫm, tiếp tục suy tưởng. Những "điểm ban đầu" trong thơ Minh Anh vẫn là những hiện tượng, sự vật bình dị và quen thuộc trong đời sống chúng ta, từ con chim, chú chó vàng, chiếc cầu thang, viên sỏi nhỏ, mái chèo, trang sách, đám mây, ngôi đền, bức tượng, cái cây và gốc rễ của nó... đến "vết thương lớn lên trong lòng", "lỗ sâu hun hút và khốn khổ trong tim" v.v... Cũng từ "điểm ban đầu", nơi phóng chiếu ánh sáng tới nơi "không đường biên", Minh Anh đã tạo ra một cõi thơ riêng, nơi cái dị biệt lại là cái tương đồng.

"đại dương và tôi

cả hai đều bị cái “to lớn” làm choáng ngợp

và lại bị cái “nhỏ bé” làm choáng ngợp hơn

vì chúng tôi

cô độc cùng nhau

trong sự khác biệt của xung khắc và hợp nhất

chúng tôi đứng đó

là một hay là hai

tất cả hoặc chẳng có gì"

(Khác biệt).

Cái "nhỏ bé" và cái "to lớn" trong bài thơ trên đều chung một nỗi cô độc, cùng soi sáng, cùng giúp nhau thăng bằng và trọn vẹn ý nghĩa của tồn tại. Tính dị biệt và tương đồng trong thơ Minh Anh đã cho ta thấy bản chất và vẻ đẹp của sự cô đơn. Điều ấy khiến tôi ngạc nhiên khi tác giả đã sớm có được trạng thái này. Bất chợt tôi thấy chân dung của thi sĩ Minh Anh trong câu thơ sau: "cô gái chăm chăm nhìn ngọn cỏ/ nghĩ mình cảm nhận sâu/ những gì cần được cảm thấu" (Gửi cô gái chăm chăm nhìn ngọn cỏ). Trong Đạo Phật cũng như trong cuộc sống, cô đơn chính là trạng thái giúp con người mở rộng suy tưởng về những điều cần buông bỏ để cuộc sống được an nhiên, nhẹ nhàng hơn.

"người duy nhất tôi tin

vào lúc cô đơn nhất

chính là những ngôi sao

lung linh lấp lánh đêm trời cao

khi chúng ta càng xa khỏi ngôi nhà tâm hồn

hoặc khi đời là một mớ hỗn độn

những ngôi sao sẽ càng tìm đến

như là người bạn đồng hành

để yêu thương"

(Những ngôi sao);

"cảm giác trống rỗng

như cái xác vỏ sò

...

chỉ muốn mình được ném xuống

đại dương lần cuối cùng

chìm đến tận đáy sâu

nằm mãi đó thật lâu

cho hàng triệu năm sau

vẫn thoải mái rỗng không

bình yên rồi cũng đến

đến tận cùng thời gian"

(Yên tĩnh ở nơi đó).

Nỗi cô đơn trong thơ Minh Anh không mang hàm nghĩa đơn độc, lẻ loi, mà là sự độc sáng, là vẻ đẹp của đơn nhất. Nỗi cô đơn ấy như hòn đảo an nhiên, tự tại giữa đại dương, như bông hoa hé nở trong đêm tối. Tâm trạng cô đơn tuyệt đẹp ấy đã mở ra một thế giới kỳ diệu trong thơ Minh Anh: "một cái cây cầu thang/ lẫn trong đám đông/ bắc lên thiên đàng" (Thị mục của một chú chim). Với tôi, đây là hình ảnh đẹp nhất trong tập thơ này.

Vẻ đẹp của cô đơn trong "Một ngày từ bên trong" khá phong phú và đa dạng. Trong bài thơ "Thì thầm với đại dương", người đọc được chứng kiến một cái tôi vần xoay, biến ảo trong cuộc người, biển sóng nhân gian. Đây là cái tôi bất an trong những nghịch lý:

"Khi tôi ở một nơi vắng vẻ, tôi khao khát được thấy nhiều người. Và khi tôi ở nơi có nhiều người, tôi còn khao khát đến những nơi xa vắng. Tôi bị xoay trong vòng nghịch lý như điểm đầu và điểm cuối của bánh xe quay.".

(Thì thầm với đại dương);

Hay một cái tôi khác luôn muốn cật vấn, kiếm tìm câu trả lời đích thực cho những bất an với đời sống đang trôi đi bên cạnh nó.

"tôi chạy quáng quàng

khỏi giọng ai đó vang trong đầu

tiếng vọng mỗi lúc một to

đuổi nhau vô vọng

chạy mãi đến được nơi kết thúc

dẫm qua đường chân trời mờ nhạt mông lung

thoát ra chính mình

vẫn chưa thấy bình yên

tôi là gì vậy.".

(Bông hoa dại)

Cái tôi trong bài "Sô diễn của ông Truman" lại mang hàm nghĩa ẩn khuất, hư thực, nó gợi mở những giả thiết về sự hiện tồn và chuyển dịch của con người cùng vạn vật.

"thế giới này có thật không

cuộc sống này có thật không

điều gì sẽ xảy ra

nếu tôi thực sự cô đơn"

(Sô diễn của ông Truman).

Và đây là một cái tôi khác, nó ẩn giấu trong lớp vỏ hiện hữu, mang tính bị động. Đoạn thơ dưới đây cho ta hình dung, một người ném thia lia bằng viên sỏi, nhìn theo nó trượt trên mặt nước rồi chìm, rồi tư duy về sự chìm đó, và cảm thấy mình trống rỗng. Bao quát hơn, vũ trụ là những sự rượt đuổi, tiếp nối, nắm giữ, và lịch sử xuyên qua tất cả, để thấy nó trống rỗng.

"viên sỏi không bao giờ biết

lịch sử đã xuyên qua tất cả

tiếp tục đuổi theo

sự trống rỗng tận cùng"

(Xuyên qua tất cả).

Cõi thơ của Minh Anh là tầm nhìn rộng mở, quan sát cá nhân trong cộng đồng và thế giới, hé lộ "cái toàn thể và trật tự ẩn[3]" như tiêu đề một cuốn sách của David Bohm[4].

"có một chiều nhặt vỏ sò lên

tưởng rằng nó trống rỗng

tình cờ lại có một con cua

một con cua ẩn sĩ ở trong đó!

phản chiếu của xã hội loài người

luôn rọi vào cái gian phòng không bao giờ thay đổi của họ".

(Những con cua nhỏ trên biển).

Chính sự cô đơn ấy đã khiến năng lượng và cảm xúc sáng tạo tràn trề trong tâm hồn nhà thơ trẻ. Niềm khao khát được đánh thức thế giới đã sinh ra nội lực, hối thúc người viết khám phá, kiếm tìm những chiều kích không gian nghệ thuật khác lạ.

"tôi ước mình có một chiều không gian nữa

nơi chúng ta có thể tái tạo một đoạn thời gian

làm nó sống mãi

cho đến khi nó hóa bình thường

...

tôi suốt đời mang ơn

 nghệ thuật của viết xuống".

(Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết);

Thế giới trong thơ Minh Anh đã thức dậy. "Một ngày từ bên trong" mang đến cho chúng ta sự thức tỉnh từ bên trong cùng sự tươi mát, tinh khôi của một ngày mới tràn đầy tình yêu thương và đắm say. "Trong một buổi sớm tinh mơ, chúng ta trở về trái đất, trở về trái tim đầy chất chứa của mình, đôi chân hòa vào những hạt cát mặn, và ngọn gió tự do dẫn chúng ta đến những con sóng." (Dòng suy nghĩ trong đầu như chiếc xe đạp chạy loanh quanh).

Những chuyển động trong thơ Minh Anh thường diễn ra chậm rãi trong không gian hiện đại với nhiều tầng bậc, lúc chồng lấn, tiếp nối, lúc đan cài. Sự đồng hiện các phương chiều không-thời-gian đã làm cho một số bài thơ của cô trở nên đa nghĩa, tựa như một khu vườn thênh rộng có nhiều lối vào, ví dụ các bài thơ "Xuyên qua tất cả", "Thị mục của một chú chim", "Lầm tưởng của hồi ức xa xôi", "Chui vào quả đất, bạn lớn lên", "Thuật toán của hồi ức", "Cô đơn đến nỗi ngay cả cô đơn cũng không thể tự đo đếm được", "Những chiếc lá"... Chúng ta cùng đọc bài thơ "Những chiếc lá" của Minh Anh dưới đây.

Những chiếc lá

mỗi chiếc lá

mỗi linh hồn của cây

người dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống mới

ngôi nhà trú ẩn cho côn trùng và chiếc kén

tạo nên sắc màu của những khu rừng rậm sum suê

những chiếc lá

cảm xúc sơ khai của các mùa

những câu chuyện lá kể đầu môi

những đường gân của lá

khắc trong lòng bàn tay chúng ta

nhận diện hình hài

đơn giản là chấp nhận mình

những chiếc lá

sự ràng buộc chân thành chăm sóc cho nhau

tinh tế, bền chặt

những chiếc lá

ngôi nhà mở cho những ai

biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình​

"Những chiếc lá" ở đây gợi ra hình hài của thế giới con người mà thân cây nuôi những chiếc lá ấy chính là "cây đời", là sự sống nuôi dưỡng con người cùng vạn vật. "Mỗi chiếc lá" là "mỗi linh hồn", tựa như mỗi con người là một đơn vị, một sinh linh kết nối với sự sống trên trái đất. Những "linh hồn của cây/ dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống mới". Cây cối và con người trong bài thơ là quan hệ tương hỗ, con người biết bảo vệ cây xanh, môi trường, và, cây xanh luôn di dưỡng, che chở cho cuộc sống con người. Cái vòm xanh ở cuối bài thơ trở thành ngôi nhà là hình ảnh khá quen thuộc, nhưng câu thơ "ngôi nhà mở cho những ai/ biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình" đã tạo ra sự bất ngờ, thú vị. Hình ảnh này gợi nhiều liên tưởng đẹp và lạ lẫm, nó thắp sáng và làm phồn sinh cả vòm cây, đồng thời hoán chuyển bóng dáng của cây với hình dáng con người.

Thơ Minh Anh có kết cấu hiện đại, khá gần với phong cách tân cổ điển. Theo cố GS. Hoàng Ngọc Hiến[5], chủ nghĩa cổ điển mới là “nỗi mong muốn quay trở về với lý tưởng của cái đẹp”.

Ngôn ngữ thơ của Minh Anh giản dị, ít sử dụng tính từ và thán từ. Cô chủ ý dùng nhiều động từ để biểu đạt sự mạnh mẽ, minh bạch, dứt khoát của hành động.

Minh Anh bắt đầu sáng tác bằng tiếng Anh từ năm 8 tuổi. Năm 2021, nhà xuất bản Kim Đồng đã ấn hành tập truyện bằng tiếng Việt “Bức tranh huyền bí”, do Hoàng Ngọc Diệu dịch từ nguyên tác tiếng Anh “The Painting” của cô. Sau “The Painting”, Minh Anh tiếp tục làm thơ bằng tiếng Anh, sau đó được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Cô viết bằng tiếng Anh bởi từ nhỏ đã học trường quốc tế tại TP Hồ Chí Minh, tiếng Anh giúp cô làm chủ tốt nhất ngôn ngữ thơ.

"Một ngày từ bên trong" là một khởi đầu tuyệt đẹp báo hiệu thành công cho con đường sáng tạo của nữ thi sĩ Minh Anh. Tập thơ không bị bó hẹp trong phạm vi đề tài, hay văn hóa vùng miền, mà hướng tới những mối quan tâm lớn của con người ở mọi quốc gia. Sự mới mẻ, tươi trẻ trong thơ Minh Anh đã cho chúng ta thấy một thế giới vừa được đánh thức. Thế giới ấy sẽ đi về đâu? Câu trả lời dành cho những ai "biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình".

 

Hải Phòng, 15/01/2024

M.V.P

____________________

[1] Adam David Rutherford (1975 ~) - Nhà di truyền học và truyền bá khoa học người Anh. (Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Adam_Rutherford)

 

[2] Nguyên văn: “We’re culturally bound and psychologically conditioned to not think about ancestry in very broad terms”.  

(Nguồn: https://www.scientificamerican.com/article/humans-are-all-more-closely-related-than-we-commonly-think/)

[3] "Cái toàn thể và trật tự ẩn" (nguyên tác: “Wholeness and The Implicate Order”), David Bohm, Nxb. Tri thức, 2011.

[4] David Joseph Bohm (1917 - 1992): nhà khoa học quốc tịch Mĩ - Brazin - Anh. Ông là một trong những nhà vật lý lý thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20.

(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/David_Bohm)

[5] Tham khảo bài của GS. Hoàng Ngọc Hiến: “Chủ nghĩa cổ điển mới, một trào lưu văn nghệ tiến bộ đương phát triển ở Mỹ”. Tạp chí Sông Hương số 198 ngày 24/3/2009.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm