TIN TỨC

Minh Anh, người đánh thức thế giới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-21 16:50:37
mail facebook google pos stwis
2226 lượt xem

Mai Văn Phấn

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - "từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống" (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).

Người viết những câu thơ giàu nội lực ấy còn rất trẻ. Khi tập thơ "Một ngày từ bên trong" (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) được ấn hành, tác giả Minh Anh mới bước vào tuổi 16, đang là học sinh phổ thông trung học. Nếu chỉ đọc những câu thơ trên mà không biết tác giả là ai, chắc tôi không thể đoán độ tuổi người viết; chỉ thấy, một khung cảnh lớn được mở ra dưới góc nhìn của người dường như đã giàu trải nghiệm, và lạ thay, từng câu chữ lại vang động hồn nhiên, trong trẻo khác thường. Nhãn quan và giọng nói ấy xuyên suốt tập thơ này, làm thức dậy sức sống tươi trẻ trong những ngổn ngang, đổ vỡ, già nua của thế giới đương thời.

Khác với một số tác giả nhỏ tuổi, Minh Anh ít biểu lộ sự ngộ nghĩnh, bồng bột của trẻ thơ, mà thay vì thế, cô sớm có cái nhìn bao quát và minh triết, nhưng vẫn giữ được vẻ thơ ngây, hồn nhiên. Trái tim nhạy cảm của thi sĩ Minh Anh như cỏ tơ, như mầm hạt đã rung lên mãnh liệt khi chạm vào thế giới này. Khổ thơ dưới đây cho thấy tác giả có cảm nhận tinh tế, cái nhìn thấu thị về một thế giới tuyệt đẹp và mong manh luôn cần được giữ gìn, bảo vệ.

"thế giới này

chúng ta đều như quả trứng

đủ mạnh để bảo vệ bên trong

nhưng dễ bị vỡ nát"

(Một quả trứng).

Thế giới thơ Minh Anh giống một cái cây, mà mỗi con người tựa như chiếc lá xanh tốt trên thân cây ấy. Cây cối luôn tươi tốt nhờ nguồn nước, khoáng chất, không khí và ánh sáng, con người cũng chẳng khác gì. Con người vốn được sinh ra từ một cội nguồn: theo Kinh Thánh, Adam và Eva là thủy tổ của loài người. Nhà di truyền học Adam Rutherford[1] từng nói: Chúng ta bị ràng buộc về mặt văn hóa và được rèn luyện về mặt tâm lý để không nghĩ về tổ tiên theo nghĩa rất bao la.[2] (Tạm dịch)

"mùa đông đến

lá rơi xuống bỏ lại cành trơ trọi

nhắc chúng ta rằng

phía bên kia của một nửa thế giới

dẫu không còn cạnh nhau

mình luôn là sự kết nối

chung một dòng nước

chung một thân cây

chung một gốc rễ"

(Cái cây của tình bằng hữu).

Thơ Minh Anh như cố ý giấu đi sự bay bổng, ít thơ mộng hóa các đối tượng được phản ánh, mà chọn cách nói tự nhiên, chân thực nhất để biểu đạt. Do vậy, bạn đọc cùng trang lứa có lẽ sẽ cảm nhận Minh Anh như người bạn tâm tình, thường sẻ chia với họ những điều thú vị và mới lạ. Người đọc lớn tuổi thì thấy cô gần gũi như người thân, hay gợi nhắc những điều cần lưu ý trong cuộc đời đầy rẫy những lo âu, rủi ro này.

"ta chỉ là những đứa trẻ

là những con kiến trong giống loài mình

...

biết đâu những con kiến này

cũng đã có thể bị chặn giết

bởi những con kiến khác"

(Những con kiến).

Thơ Minh Anh có góc liên tưởng rộng mở, cho ta cảm nhận như không có đường biên trong đó. Từ phía "không đường biên" ấy, tác giả như quyến dụ người đọc quay về điểm nhìn ban đầu để chiêm ngẫm, tiếp tục suy tưởng. Những "điểm ban đầu" trong thơ Minh Anh vẫn là những hiện tượng, sự vật bình dị và quen thuộc trong đời sống chúng ta, từ con chim, chú chó vàng, chiếc cầu thang, viên sỏi nhỏ, mái chèo, trang sách, đám mây, ngôi đền, bức tượng, cái cây và gốc rễ của nó... đến "vết thương lớn lên trong lòng", "lỗ sâu hun hút và khốn khổ trong tim" v.v... Cũng từ "điểm ban đầu", nơi phóng chiếu ánh sáng tới nơi "không đường biên", Minh Anh đã tạo ra một cõi thơ riêng, nơi cái dị biệt lại là cái tương đồng.

"đại dương và tôi

cả hai đều bị cái “to lớn” làm choáng ngợp

và lại bị cái “nhỏ bé” làm choáng ngợp hơn

vì chúng tôi

cô độc cùng nhau

trong sự khác biệt của xung khắc và hợp nhất

chúng tôi đứng đó

là một hay là hai

tất cả hoặc chẳng có gì"

(Khác biệt).

Cái "nhỏ bé" và cái "to lớn" trong bài thơ trên đều chung một nỗi cô độc, cùng soi sáng, cùng giúp nhau thăng bằng và trọn vẹn ý nghĩa của tồn tại. Tính dị biệt và tương đồng trong thơ Minh Anh đã cho ta thấy bản chất và vẻ đẹp của sự cô đơn. Điều ấy khiến tôi ngạc nhiên khi tác giả đã sớm có được trạng thái này. Bất chợt tôi thấy chân dung của thi sĩ Minh Anh trong câu thơ sau: "cô gái chăm chăm nhìn ngọn cỏ/ nghĩ mình cảm nhận sâu/ những gì cần được cảm thấu" (Gửi cô gái chăm chăm nhìn ngọn cỏ). Trong Đạo Phật cũng như trong cuộc sống, cô đơn chính là trạng thái giúp con người mở rộng suy tưởng về những điều cần buông bỏ để cuộc sống được an nhiên, nhẹ nhàng hơn.

"người duy nhất tôi tin

vào lúc cô đơn nhất

chính là những ngôi sao

lung linh lấp lánh đêm trời cao

khi chúng ta càng xa khỏi ngôi nhà tâm hồn

hoặc khi đời là một mớ hỗn độn

những ngôi sao sẽ càng tìm đến

như là người bạn đồng hành

để yêu thương"

(Những ngôi sao);

"cảm giác trống rỗng

như cái xác vỏ sò

...

chỉ muốn mình được ném xuống

đại dương lần cuối cùng

chìm đến tận đáy sâu

nằm mãi đó thật lâu

cho hàng triệu năm sau

vẫn thoải mái rỗng không

bình yên rồi cũng đến

đến tận cùng thời gian"

(Yên tĩnh ở nơi đó).

Nỗi cô đơn trong thơ Minh Anh không mang hàm nghĩa đơn độc, lẻ loi, mà là sự độc sáng, là vẻ đẹp của đơn nhất. Nỗi cô đơn ấy như hòn đảo an nhiên, tự tại giữa đại dương, như bông hoa hé nở trong đêm tối. Tâm trạng cô đơn tuyệt đẹp ấy đã mở ra một thế giới kỳ diệu trong thơ Minh Anh: "một cái cây cầu thang/ lẫn trong đám đông/ bắc lên thiên đàng" (Thị mục của một chú chim). Với tôi, đây là hình ảnh đẹp nhất trong tập thơ này.

Vẻ đẹp của cô đơn trong "Một ngày từ bên trong" khá phong phú và đa dạng. Trong bài thơ "Thì thầm với đại dương", người đọc được chứng kiến một cái tôi vần xoay, biến ảo trong cuộc người, biển sóng nhân gian. Đây là cái tôi bất an trong những nghịch lý:

"Khi tôi ở một nơi vắng vẻ, tôi khao khát được thấy nhiều người. Và khi tôi ở nơi có nhiều người, tôi còn khao khát đến những nơi xa vắng. Tôi bị xoay trong vòng nghịch lý như điểm đầu và điểm cuối của bánh xe quay.".

(Thì thầm với đại dương);

Hay một cái tôi khác luôn muốn cật vấn, kiếm tìm câu trả lời đích thực cho những bất an với đời sống đang trôi đi bên cạnh nó.

"tôi chạy quáng quàng

khỏi giọng ai đó vang trong đầu

tiếng vọng mỗi lúc một to

đuổi nhau vô vọng

chạy mãi đến được nơi kết thúc

dẫm qua đường chân trời mờ nhạt mông lung

thoát ra chính mình

vẫn chưa thấy bình yên

tôi là gì vậy.".

(Bông hoa dại)

Cái tôi trong bài "Sô diễn của ông Truman" lại mang hàm nghĩa ẩn khuất, hư thực, nó gợi mở những giả thiết về sự hiện tồn và chuyển dịch của con người cùng vạn vật.

"thế giới này có thật không

cuộc sống này có thật không

điều gì sẽ xảy ra

nếu tôi thực sự cô đơn"

(Sô diễn của ông Truman).

Và đây là một cái tôi khác, nó ẩn giấu trong lớp vỏ hiện hữu, mang tính bị động. Đoạn thơ dưới đây cho ta hình dung, một người ném thia lia bằng viên sỏi, nhìn theo nó trượt trên mặt nước rồi chìm, rồi tư duy về sự chìm đó, và cảm thấy mình trống rỗng. Bao quát hơn, vũ trụ là những sự rượt đuổi, tiếp nối, nắm giữ, và lịch sử xuyên qua tất cả, để thấy nó trống rỗng.

"viên sỏi không bao giờ biết

lịch sử đã xuyên qua tất cả

tiếp tục đuổi theo

sự trống rỗng tận cùng"

(Xuyên qua tất cả).

Cõi thơ của Minh Anh là tầm nhìn rộng mở, quan sát cá nhân trong cộng đồng và thế giới, hé lộ "cái toàn thể và trật tự ẩn[3]" như tiêu đề một cuốn sách của David Bohm[4].

"có một chiều nhặt vỏ sò lên

tưởng rằng nó trống rỗng

tình cờ lại có một con cua

một con cua ẩn sĩ ở trong đó!

phản chiếu của xã hội loài người

luôn rọi vào cái gian phòng không bao giờ thay đổi của họ".

(Những con cua nhỏ trên biển).

Chính sự cô đơn ấy đã khiến năng lượng và cảm xúc sáng tạo tràn trề trong tâm hồn nhà thơ trẻ. Niềm khao khát được đánh thức thế giới đã sinh ra nội lực, hối thúc người viết khám phá, kiếm tìm những chiều kích không gian nghệ thuật khác lạ.

"tôi ước mình có một chiều không gian nữa

nơi chúng ta có thể tái tạo một đoạn thời gian

làm nó sống mãi

cho đến khi nó hóa bình thường

...

tôi suốt đời mang ơn

 nghệ thuật của viết xuống".

(Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết);

Thế giới trong thơ Minh Anh đã thức dậy. "Một ngày từ bên trong" mang đến cho chúng ta sự thức tỉnh từ bên trong cùng sự tươi mát, tinh khôi của một ngày mới tràn đầy tình yêu thương và đắm say. "Trong một buổi sớm tinh mơ, chúng ta trở về trái đất, trở về trái tim đầy chất chứa của mình, đôi chân hòa vào những hạt cát mặn, và ngọn gió tự do dẫn chúng ta đến những con sóng." (Dòng suy nghĩ trong đầu như chiếc xe đạp chạy loanh quanh).

Những chuyển động trong thơ Minh Anh thường diễn ra chậm rãi trong không gian hiện đại với nhiều tầng bậc, lúc chồng lấn, tiếp nối, lúc đan cài. Sự đồng hiện các phương chiều không-thời-gian đã làm cho một số bài thơ của cô trở nên đa nghĩa, tựa như một khu vườn thênh rộng có nhiều lối vào, ví dụ các bài thơ "Xuyên qua tất cả", "Thị mục của một chú chim", "Lầm tưởng của hồi ức xa xôi", "Chui vào quả đất, bạn lớn lên", "Thuật toán của hồi ức", "Cô đơn đến nỗi ngay cả cô đơn cũng không thể tự đo đếm được", "Những chiếc lá"... Chúng ta cùng đọc bài thơ "Những chiếc lá" của Minh Anh dưới đây.

Những chiếc lá

mỗi chiếc lá

mỗi linh hồn của cây

người dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống mới

ngôi nhà trú ẩn cho côn trùng và chiếc kén

tạo nên sắc màu của những khu rừng rậm sum suê

những chiếc lá

cảm xúc sơ khai của các mùa

những câu chuyện lá kể đầu môi

những đường gân của lá

khắc trong lòng bàn tay chúng ta

nhận diện hình hài

đơn giản là chấp nhận mình

những chiếc lá

sự ràng buộc chân thành chăm sóc cho nhau

tinh tế, bền chặt

những chiếc lá

ngôi nhà mở cho những ai

biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình

"Những chiếc lá" ở đây gợi ra hình hài của thế giới con người mà thân cây nuôi những chiếc lá ấy chính là "cây đời", là sự sống nuôi dưỡng con người cùng vạn vật. "Mỗi chiếc lá" là "mỗi linh hồn", tựa như mỗi con người là một đơn vị, một sinh linh kết nối với sự sống trên trái đất. Những "linh hồn của cây/ dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống mới". Cây cối và con người trong bài thơ là quan hệ tương hỗ, con người biết bảo vệ cây xanh, môi trường, và, cây xanh luôn di dưỡng, che chở cho cuộc sống con người. Cái vòm xanh ở cuối bài thơ trở thành ngôi nhà là hình ảnh khá quen thuộc, nhưng câu thơ "ngôi nhà mở cho những ai/ biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình" đã tạo ra sự bất ngờ, thú vị. Hình ảnh này gợi nhiều liên tưởng đẹp và lạ lẫm, nó thắp sáng và làm phồn sinh cả vòm cây, đồng thời hoán chuyển bóng dáng của cây với hình dáng con người.

Thơ Minh Anh có kết cấu hiện đại, khá gần với phong cách tân cổ điển. Theo cố GS. Hoàng Ngọc Hiến[5], chủ nghĩa cổ điển mới là “nỗi mong muốn quay trở về với lý tưởng của cái đẹp”.

Ngôn ngữ thơ của Minh Anh giản dị, ít sử dụng tính từ và thán từ. Cô chủ ý dùng nhiều động từ để biểu đạt sự mạnh mẽ, minh bạch, dứt khoát của hành động.

Minh Anh bắt đầu sáng tác bằng tiếng Anh từ năm 8 tuổi. Năm 2021, nhà xuất bản Kim Đồng đã ấn hành tập truyện bằng tiếng Việt “Bức tranh huyền bí”, do Hoàng Ngọc Diệu dịch từ nguyên tác tiếng Anh “The Painting” của cô. Sau “The Painting”, Minh Anh tiếp tục làm thơ bằng tiếng Anh, sau đó được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Cô viết bằng tiếng Anh bởi từ nhỏ đã học trường quốc tế tại TP Hồ Chí Minh, tiếng Anh giúp cô làm chủ tốt nhất ngôn ngữ thơ.

"Một ngày từ bên trong" là một khởi đầu tuyệt đẹp báo hiệu thành công cho con đường sáng tạo của nữ thi sĩ Minh Anh. Tập thơ không bị bó hẹp trong phạm vi đề tài, hay văn hóa vùng miền, mà hướng tới những mối quan tâm lớn của con người ở mọi quốc gia. Sự mới mẻ, tươi trẻ trong thơ Minh Anh đã cho chúng ta thấy một thế giới vừa được đánh thức. Thế giới ấy sẽ đi về đâu? Câu trả lời dành cho những ai "biết lắng nghe nhịp đập con tim của mình".

 

Hải Phòng, 15/01/2024

M.V.P

____________________

[1] Adam David Rutherford (1975 ~) - Nhà di truyền học và truyền bá khoa học người Anh. (Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Adam_Rutherford)

 

[2] Nguyên văn: “We’re culturally bound and psychologically conditioned to not think about ancestry in very broad terms”.  

(Nguồn: https://www.scientificamerican.com/article/humans-are-all-more-closely-related-than-we-commonly-think/)

[3] "Cái toàn thể và trật tự ẩn" (nguyên tác: “Wholeness and The Implicate Order”), David Bohm, Nxb. Tri thức, 2011.

[4] David Joseph Bohm (1917 - 1992): nhà khoa học quốc tịch Mĩ - Brazin - Anh. Ông là một trong những nhà vật lý lý thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20.

(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/David_Bohm)

[5] Tham khảo bài của GS. Hoàng Ngọc Hiến: “Chủ nghĩa cổ điển mới, một trào lưu văn nghệ tiến bộ đương phát triển ở Mỹ”. Tạp chí Sông Hương số 198 ngày 24/3/2009.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm